TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA
TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC
Sinh viên
: Nguyễn Thị Hà
Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn
Khóa học
: 2011 - 2015
Đắk lắk, 5 /2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA
TÀO TUYẾTCẦN – CAO NGẠC
Sinh viên
MỤC LỤC
5
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.
Lí do chọn đề tài
Văn học Minh – Thanh có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trung
Quốc. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển văn học cổ điển,
đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại của nền văn học Trung
Hoa đặc sắc.
Ở Trung Quốc trước đây, tiểu thuyết bị xếp vào thể loại phi chính thống và bị
coi thường. Đến thời Minh – Thanh, tiểu thuyết đã trở thành thể loại chủ đạo.
Có thể kể tên những bộ tiểu thuyết nổi tiếng của giai đoạn này như: “Tam chí
quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, “Kim Bình
Mai”, “Chuyện làng nho”, “Hồng lâu mộng”,…
“Hồng lâu mộng” là một trong bốn kiệt tác của văn học cổ điển Trung Quốc.
Người Trung Hoa đương thời có câu rằng “Khai đàm bất thuyết Hồng lâu
mộng, độc tận thi diệc uổng nhiên!” (Chuyện trò mà không nói “Hồng lâu
mộng”, đọc lắm sách xưa cũng uổng công). “Hồng lâu mộng” đã góp phần
làm cho đời sống văn học Trung Quốc nói riêng, văn học nhân loại nói chung
trở nên phong phú hơn.
“Hồng lâu mộng” phê phán xã hội phong kiến Trung Hoa mục nát với những
giáo điều khắc nghiệt đã ăn sâu, bén rễ hàng ngàn năm trong đời sống của
người dân Trung Quốc. Tác phẩm còn thể hiện tinh thần dân chủ, đòi tự do
yêu đương, giải phóng cá tính; đòi bình đẳng và khát khao một lí tưởng sống
truyền bá rộng rãi và được đánh giá rất cao, tác phẩm nhanh chóng trở thành
món ăn tinh thần của quần chúng. “Hồng lâu mộng” không những có ảnh
hưởng lớn trong xã hội mà còn gây hứng thú mạnh mẽ trong giới nghiên cứu
của nhiều thế hệ người Trung Quốc.
Ngay từ đầu đã có hội nghiên cứu riêng về “Hồng lâu mộng” gọi là
Hồng học. Các nhà Hồng học chia làm nhiều trường phái nhưng họ đều cho
rằng “Hồng lâu mộng” viết về một câu chuyện có thật vào đời Thanh. Năm
1919, ở Trung Quốc diễn ra cuộc vận động Ngũ tứ, Hồng học chia ra thành
Cựu Hồng học và Tân Hồng học. Cựu Hồng học đi tìm những câu chuyện có
thực để chứng minh cho thiên truyện của Tào Tuyết Cần. Tân Hồng học lại đi
nghiên cứu sự tương đồng giữa cuộc đời tác giả và tác phẩm. Sau 1954, việc
nghiên cứu “Hồng lâu mộng” có nhiều bước chuyển đáng kể. Các bài viết dần
đi đến chỗ thống nhất, khẳng định giá trị tác phẩm về cả nội dung và nghệ
thuật.
Nhiêu Đạo Khánh từ góc độ của “Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền” đã
khảo sát quan điểm nữ giới của Tào Tuyết Cần qua “Hồng lâu mộng” và qua
đó khẳng định tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Lý Quốc Tường trong “Luận quan niệm đạo đức hôn nhân của Hồng lâu
mộng” đã nhận định: “Vấn đề đạo đức hôn nhân và nữ giới là nội dung chủ
yếu và chiếm số trang tương đối của Hồng lâu mộng. Dường như hết thảy
nhân vật, sự kiện, tất cả việc miêu tả, yếu tố trữ tình đều liên quan đến vấn đề
này, cụ thể là liên quan tới vấn đề tự do hôn nhân của phụ nữ, ái tình và địa
vị bình đẳng nam nữ”.
2.2. Ở Việt Nam, từ những năm đầu thế kỉ XX, khi nhắc đến tiểu thuyết cổ
điển Trung Quốc, ít ai không nhắc đến “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần–
Cao Ngạc. Nhìn chung, những nghiên cứu về “Hồng lâu mộng” ở Việt Nam
có nhiều điểm tương đồng với những nghiên cứu của Trung Quốc, nghĩa là
8
9
năng miêu tả hiện thực một cách tỉ mỉ, chi tiết của tác giả. Tác giả đưa ra hai
mươi tám vấn đề luận giải đầy hấp dẫn và có ý nghĩa với độc giả về số phận,
cuộc đời người phụ nữ.
Thành tựu của những công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần khẳng định
những giá trị to lớn của “Hồng lâu mộng” về cả hai phương diện nội dung tư
tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Qua khảo sát những bài viết của
các tác giả, chúng tôi nhận thấy vấn đề bi kịch con người cá nhân trong
“Hồng lâu mộng” là một trong những nội dung được quan tâm tìm hiểu nhằm
làm rõ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm, đó là một gợi ý hết sức quan trọng
để chúng tôi xây dựng đề tài. Thành tựu của các công trình nghiên cứu nói
trên là những tài liệu vô cùng quý báu, gợi ý cho chúng tôi thực hiện đề tài
của khóa luận này.
10
PHẦN THỨ BA:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết
Cần – Cao Ngạc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Bộ tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc qua bản dịch
của nhóm Bùi Hạnh Cẩn, Ngọc Anh, Kiều Liên dịch (2 tập), Nhà xuất bản
Văn học, năm 2009.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu bi kịch con người cá nhân trong “Hồng lâu mộng” qua hai bi kịch
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG
CỦA TIỂU THUYẾT MINH – THANH
4.1.1. Vài nét về tác giả và tác phẩm
4.1.1.1. Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc
Tào Tuyết Cần (1716 – 1763?) tên thật là Tào Triêm, tự là Mộng
Nguyên, hiệu là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê, quê ở Liêu Dương, tổ tiên ông
vốn là người Hán sau nhập tịch Mãn Châu. Ông là một nhà thơ, một nhà tiểu
thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết “Hồng lâu
mộng” nổi tiếng.
Tào Tuyết Cần xuất thân trong một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đại
quý tộc thời nhà Thanh. Vào thời Tào Dần – ông nội Tào Tuyết Cần, gia đình
họ Tào hết sức thịnh vượng, vua Khang Hy năm lần đi kinh lý phương Nam
thì đã bốn lần trú tại nhà ông. Qua đó có thể thấy được cuộc sống hào hoa và
mối quan hệ mật thiết giữa gia đình họ Tào với hoàng thất.Không chỉ là một
hào môn vọng tộc, gia đình Tào Tuyết Cần còn có truyền thống về văn
chương thi phú. Tào Dần là người lưu giữ sách nổi tiếng thời đó, chính Tào
Dần là người đứng ra hiệu đính và in ấn bộ “Toàn Đường Thi” nổi tiếng, ông
còn là tác giả bộ “Luyện đình thi sao” và nhiều trước tác khác.
Đến thời Ung Chính thứ 5 (1729), cha của Tào Tuyết Cần là Tào Diệu
bị cách chức với tội danh hành vi bất đoan, nhũng nhiễu dịch trạm, thiếu
khống rồi bị hạ ngục trị tội, tịch biên tài sản. Tào Tuyết Cần phải theo gia
đình rời Giang Nam về Bắc Kinh sinh sống, nhà họ Tào lâm vào cảnh sa sút
nhanh chóng. Tào Tuyết Cần phải sống qua ngày trong những ngày cay đắng
nhất của đời mình với nghèo khổ, sống nhờ vào việc bán tranh và sự giúp đỡ
của bạn bè. Sau này vì ốm đau không tiện chạy chữa, lại thêm đau khổ trước
cái chết của đứa con trai duy nhất, ông mất để lại người vợ góa bụa với cảnh
sống túng quẫn và 80 hồi “Thạch đầu kí” còn dang dở. Đám tang của ông chỉ
13
trên quan trường, về già lại sống cuộc sống thanh bần.
14
Ngoài 40 hồi viết tiếp “Hồng lâu mộng”, Cao Ngạc còn có nhiều tác phẩm
khác: “Thanh sử cảo – Văn uyển nhị” có chép “Lan thự thi sao”, “Dương
Tông Hy trong Bát kỳ văn kinh” có chép “Cao Lan Thự tập”, đến nay đều bị
thất truyền. Hiện nay còn “Lan Thự thập nghệ” (bản thảo), “Lại trị tập yếu”
cùng tập thơ “Nguyệt tiểu sơn phòng di cảo” và tập từ “Nghiên Hương từ Lộc tồn thảo”.
4.1.1.2. Quá trình hình thành tác phẩm “Hồng lâu mộng”
“Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu son) là bộ tiểu thuyết vĩ đại xuất hiện vào
thời Kiền Long (cuối thế kỉ XVIII). Đó là tác phẩm có ý nghĩa cắm mốc một
giai đoạn lịch sử văn học vì dung lượng đồ sộ, sự thành thục trong phương
pháp sáng tác, vì âm vang của sự chuyển mình lịch sử mà nó mang đến cho
người đọc.
“Hồng lâu mộng” gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết. Viết chưa
xong, ông từ trần. Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau.
Sống trong xã hội nhiều thăng trầm, gia đình lại lâm vào cảnh sa sút, ngẫm
trải đủ cay đắng cuộc đời bi lụy đã thôi thúc Tào Tuyết Cần sáng tác “Hồng
lâu mộng”. Ông đã dồn toàn bộ trí lực trong mười năm cuối đời để viết tác
phẩm và qua năm lần sửa chữa thì đã hoàn thành được 80 hồi và dự thảo 40
hồi còn lại.
Khi Tào Tuyết Cần mất tác phẩm vẫn chưa hoàn thành và không được công
bố. Mười lăm năm sau, bạn của ông là Cao Ngạc đã dụng tâm nghiên cứu tỉ
mỉ nguyên ý và căn cứ trên nền tảng ý tưởng, văn phong của Tào Tuyết Cần
mà viết tiếp 40 hồi sau cho phù hợp. Tác phẩm hoàn thành, Cao Ngạc đổi tên
“Thạch đầu kí” thành “Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu hồng), vừa phù hợp
với nội dung tác phẩm, vừa mang dáng dấp của tâm hồn ông vì biệt hiệu của
ông là Hồng Lâu Ngoại Sĩ.
Giới nghiên cứu nhận định bốn mươi hồi sau của Cao Ngạc không thể sánh
giao thoa giữa biên niên sử và truyện kể dân gian, sự xâm nhập của truyện
hoang đường vào sử sách. Ví dụ trong ba tác phẩm “Tam quốc diễn nghĩa”,
“Thủy hử”, “Tây du kí” đều được đúc kết trên cơ sở ba mảng chuyện kể về
lịch sử, về hảo hán anh hùng, về chuyện nhà Phật.
Trong tiểu thuyết Minh – Thanh, cốt truyện rất được coi trọng.Câu chuyện cơ
bản được kể theo thời gian một chiều, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy
16
ra sau kể sau.Thông qua ngôn ngữ và hành động tác giả khắc họa tính cách
nhân vật.Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Minh –
Thanh. Tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa cứu người của Lỗ Trí Thâm trong
“Thủy hử” được thể hiện rất rõ nét thông qua ba cú đấm đánh chết Trần Quan
Tây Trịnh Đồ. Hoặc tấm lòng cương trực của Trương Phi được thể hiện bằng
hành động Trương Phi đánh đến gãy mười cành liễu vào mông của tên mọt
dân hại nước Đốc Bưu.
Khi xây dựng hình tượng nhân vật, tiểu thuyết Minh – Thanh rất chú trọng
vận dụng thủ pháp ước lệ và công thức để miêu tả, lí giải.Nhưng để hình
tượng nhân vật trở nên sinh động thì ngoài việc phải biết lựa chọn những chi
tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa tượng trưngcòn đòi hỏi tác giả phải sắp xếp các chi
tiết đó thành một hệ thống hoàn chỉnh nhằm làm nổi bật đặc trưng tính cách
nhân vật.Biểu hiện tấm lòng trung nghĩa của Quan Vũ có đâu chỉ vài lời giới
thiệu sơ sài, mà là hàng loạt những câu chuyện sinh động.
Thơ và từ là hai thể loại được dùng phổ biến trong tiểu thuyết Minh –
Thanh.Những câu thơ, bài từ đặt ở đầu chương hoặc cuối hồi nhằm giới thiệu
hay tổng kết, có khi là sự giải thích hoặc là sự mỉa mai, phê phán, rút ra
những triết lí nhân sinh. Trong “Hồng lâu mộng”, những bài thơ từ còn có tác
dụng nhất định trong việc sáng tạo hình tượng nhân vật.
4.1.2.2. Đặc điểm của tiểu thuyết đời Minh
Các đề tài về lịch sử với cảm hứng chủ đạo là ca ngợi anh hùng là đề tài chủ
4.1.3. Tiểu kết
Hoàn cảnh sống cơ hàn đã hình thành cho Tào Tuyết Cần cái nhìn sâu
sắc về xã hội phong kiến suy tàn đương thời. Ngòi bút nhạy cảm và tài hoa
của ông đã cho ta thấy được cái tâm trạng tích tụ về con người và thời đại
trong ông. Về cuối đời, trong lúc đói khổ, bệnh tật, đau đớn giày vò thì tài
năng của ông vẫn tỏa sáng ở đỉnh cao, “Hồng lâu mộng” là minh chứng cho
tài năng kiệt xuất ấy.
Tiếp bút đầy tài hoa cho bộ tiểu thuyết còn dang dở của Tào Tuyết Cần, Cao
Ngạc thực sự đã kết nối được quan điểm sáng tác của Tuyết Cần, hoàn thành
kết cấu bi kịch cho tác phẩm. Dù còn nhiều hạn chế về mặt nội dung và tư
tưởng nhưng Cao Ngạc đã góp phần đưa bộ tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” trở
18
thành một tác phẩm hoàn chỉnh có giá trị cao, đáng được tôn vinh là cuốn tiểu
hay nhất mọi thời đại mang ý nghĩa xã hội rộng lớn.
“Hồng lâu mộng” được xem là một tiểu thuyết mang tính hiện đại vì
trong tác phẩm đã xuất hiện những tình huống tâm lí đầy mâu thuẫn của số
phận con người cá nhân cụ thể, họ đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp. Số
phận của họ gắn với những đau đớn, bất hạnh, những thăng trầm, vui buồn
trong cuộc sống đời thường.
Văn học Minh – Thanh giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển văn
học Trung Quốc. Đó là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển văn học
cổ điển, cũng là giai đoạn dài nhất và có nội dung phong phú nhất, là giai
đoạn đánh dấu sự chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại. Thời Minh –
Thanh được xem là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết. Với các bộ “Tam
quốc”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, “Kim Bình Mai”, “Chuyện
làng nho”, “Hồng lâu mộng”, tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đã đạt đến
trình độ hoàn chỉnh nên được gọi là tiểu thuyết cổ điển.
đã sinh ra những bi kịch cho các nhân vật trong “Hồng lâu mộng”.
4.2.1.2. Bi kịch con người cá nhân trong tác phẩm văn học
Trong tác phẩm văn học, bi kịch con người cá nhân được miêu tả là tổng hoà,
phức hợp của những mâu thuẫn, xung đột, những nỗi đau không thể giải
quyết, điều hoà trước tác động của hiện thực.Vì vậy, việc phân tích những
biểu hiện của bi kịch con người cá nhân chỉ mang tính chất tương đối.
Trong văn học cổ đại, người Hi Lạp cổ xưa đã giải thích nguyên nhân nảy
sinh bi kịch là do sự can thiệp của định mệnh vào số phận con người, vì vậy
đã làm hình thành trong văn học thời đó cái quan niệm nghệ thuật về một
“kiểu người số phận”. Các nhân vật trong quá trình chống lại số phận nghiệt
20
ngã của mình thông qua sự phủ nhận quyền lực của thần linh, sự phản kháng
định mệnh một cách ngoan cường theo trình tự tuyên chiến, kết án và cuối
cùng là hạ bệ thần linh. Tuy nhiên dù tích cực phản kháng, con người cũng
không thể chiến thắng thần linh.
Đến cuối thời Hi Lạp cổ đại, bi kịch đã chuyển từ bi kịch số phận đã chuyển
sang bi kịch tính cách về phương diện nghệ thuật. Bi kịch của con người giờ
đây không còn phụ thuộc vào thần thánh mà tùy thuộc vào chính bản thân
mình. Nhân vật rơi vào bi kịch là do không chiến thắng được giữa dục vọng
và lí trí, tình cảm và danh dự trong cuộc chiến của tâm hồn mình.
Trong văn học cận đại, khoa học đã cấp cho các nghệ sĩ cái nhìn duy lí về thế
giới, về tính quy luật của cuộc sống,…Nhân vật bi kịch cô lập hoàn toàn với thần
thánh, chỉ phụ thuộc vào chính bản thân mình, vào tính cách con người và những
hoàn cảnh sống. Nhân vật trải qua những chặng đường đấu tranh gay gắt trong
nội tâm để hướng đến những mục đích sống nhưng cuối cùng nhân vật vẫn rơi
vào cái chết do chưa thể chiến thắng được hoàn cảnh sống.
Trong văn học hiện đại, nhân vật bi kịch được xây dựng mang những phiền
não, u sầu, tuyệt vọng, đau khổ, bất an trong thời buổi xã hội mới mà họ chưa
Điều quan trọng là thái độ căm ghét của Bảo Ngọc đối với lối sống
phong kiến “làm quan trị nước” không thể không xung đột với nàng về mặt tư
tưởng. Bảo Thoa hi vọng Bảo Ngọc có thể học hành, thi cử và lập thân bằng
con đường khoa cử đểchenchân vào chốn công danh, với Bảo Thoa người con
trai được xem là hiếu thảo khi chăm chỉ học hành đỗ đạt, làm rạng danh cho
dòng họ. Bảo Thoa phản đối Bảo Ngọc đọc loại sách “Tạp học bàng thư” vì
cô cho rằng đọc sách đó sẽ làm thay đổi tâm tính và vô dụng đối với khoa cử,
cô lưu ý Bảo Ngọc đọc sách của Khổng Mạnh, dốc lòng vào chuyện kinh
bang tế thế, làm quan giúp nước trị dân. Ở hồi 118, khi Bảo Thoa và Bảo
Ngọc đã thành vợ chồng, Bảo Thoa đã có một cuộc tranh luận với chồng,
không ngớt lời khuyên Bảo Ngọc chuyên tâm học hành, từ bỏ lối sống tự do
như cũ: “Tôi nghĩ cậu cùng tôi đã kết nghĩa vợ chồng thì cậu là người tôi
nương tựa suốt đời, vốn không chỉ là chuyện thể xác. Chuyện vinh hoa phú
quý, chẳng qua cũng thoáng qua mây khói mà thôi nhưng các bậc thánh hiền
thời xưa vẫn xem phẩm cách con người là chính” [3, tr.861]. Nhưng Bảo
Ngọc lại ghét thứ văn chương khoa cử nhất, chàng cũng không muốn đọc
22
sách để thăng quan tiến chức, lại càng không thích chen chân vào chốn quan
trường.
Bảo Ngọc mơ ước người bạn đời của mình phải lãng mạn đa tình, là
một tiên nữ thoát tục nhưng mẫu người ấy bị Bảo Thoa cho là chịu ảnh hưởng
của truyện lãng mạn truyền kì làm cho hư hỏng. Bảo Ngọc theo đuổi tình yêu
tự do còn Bảo Thoa lại có quan niệm rất bảo thủ về tình yêu nam nữ tự do,
nàng cho rằng trong xã hội phong kiến chỉ có lễ giáo, cha mẹ đặt đâu thì con
phải ngồi đó. Có lẽ chính sự khác biệt về tư tưởng ấy đã khiến Bảo Ngọc càng
ngày càng xa rời Bảo Thoa.
Bảo Thoa hiểu rõ Bảo Ngọc không yêu mình nhưng nàng không dám
chống lại sự sắp đặt của bậc gia trưởng. Đó cũng là nỗi khổ tâm của nàng,
Đại Ngọc, song dần dần chàng nhận thấy Bảo Thoa chỉ mong ngóng cái danh
lợi, nên chàng đã hết lòng yêu Đại Ngọc, mong muốn lấy nàng làm vợ.
Tình cảm của Bảo Ngọc dành cho Đại Ngọc là tình cảm chân thành, sâu
nặng, nó giống như sinh mệnh của chính chàng vậy.Còn Đại Ngọc khi yêu
duy nhất chỉ có tình yêu với Bảo Ngọc làm chỗ dựa tinh thần.Tình cảm của họ
ngày càng lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến. Như ở hồi 57, Tử Quyên
thấy Đại Ngọc âu sầu và yếu dần đi vì lo lắng cho tình yêu với Bảo Ngọc liền
đặt chuyện Đại Ngọc sắp về Tô Châu để thử lòng Bảo Ngọc. Chàng Bảo
Ngọc si tình tưởng thật nên trở nên ngây dại, hoảng hốt, tình cảnh của Bảo
Ngọc lúc đó thật thê thảm, đáng thương: “hai mắt lại trợn lên, bọt mép sùi ra,
đưa gối thì nằm, đỡ dậy thì ngồi, đưa nước thì uống, mê man chẳng biết gì”
[2, tr.839]. Đại Ngọc thấy người mình yêu như vậy thì lòng đau như cắt, “mặt
đỏ gay, tóc rối bù, mắt sưng húp, gân nổi lên, cứ gục đầu xuống mà thở” [2,
tr.840]. Đại Ngọc mắng Tử Quyên: “Chị không phải đấm nữa, cứ mang
thừng đến thắt cổ tôi chết đi còn hơn” [2, tr.840]. Điều đó chứng tỏ tình cảm
của Bảo Ngọc và Đại Ngọc đã rất sâu đậm, không thể xa rời nhau được.
Mối tình của Bảo Ngọc – Đại Ngọc không phải là câu chuyện lửa gần rơm,
cũng không phải câu chuyện “tài tử giai nhân nợ sẵn”, mà giữa họ có sự tri
âm, đồng điệu trên tư tưởng về những vấn đề có ý nghĩa của cuộc sống.
Bảo Ngọc coi văn bát cổ chỉ là “cần câu cơm” thì Đại Ngọc cũng ghét
cay ghét đắng nó. Bảo Ngọc coi bọn quan lại là “mọt ăn lộc”, là “giặc nước”
thì Đại Ngọc gọi chúng là “trai thối”. Cả hai đều chán ngán đạo học, chán
24
ngán những kẻ đem kinh truyện nhồi nhét vào đầu rồi lếu láo cho rằng mình
hiểu sâu hộc rộng. Đại Ngọc và Bảo Ngọc cho rằng kho tàng Kinh học mà
chế độ phong kiến tuyên truyền quá sáo rỗng. Tuy nhiên cả hai đều không phê
phán tất cả sách thánh hiền. Ở hồi 3, Bảo Ngọc đã nói: “Trừ Tứ Thư ra cũng
còn khối chỗ bịa đặt” [2, tr.46]. Còn ở hồi 82, Đại Ngọc cũng nói “…anh