TÍCH hợp GIÁO dục ý THỨC bảo tồn DI sản văn hóa của các dân tộc THIỂU số TRONG dạy học môn GIÁO dục CÔNG dân ở TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG cù CHÍNH LAN, HUYỆN LƯƠNG sơn, TỈNH hòa BÌNH - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------------

QUCH TH NHN

TíCH HợP GIáO DụC ý THứC BảO TồN DI SảN VĂN HóA
CủA CáC DÂN TộC THIểU Số TRONG DạY HọC MÔN GIáO DụC CÔNG DÂN
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG Cù CHíNH LAN,
HUYệN LƯƠNG SƠN, TỉNH HòA BìNH

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

H Ni - 2016


B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------------

QUCH TH NHN

TíCH HợP GIáO DụC ý THứC BảO TồN DI SảN VĂN HóA
CủA CáC DÂN TộC THIểU Số TRONG DạY HọC MÔN GIáO DụC CÔNG DÂN
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG Cù CHíNH LAN,
HUYệN LƯƠNG SƠN, TỉNH HòA BìNH
Chuyờn ngnh: LL&PPGD GIO DC CHNH TR
Mó s: 60.14.01.11

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
Chủ nghĩa xã hội

DIỄN GIẢI

DSVH

Di sản văn hóa

ĐC

Đối chứng

GDCD

Giáo dục Công dân

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

PPDH


nên các yếu tố văn hóa của các tộc người dù có tính bền vững, chứa đựng
những bản sắc riêng vẫn có thể bị mai một, lãng quên, hoặc pha tạp,nhất là
với các dân tộc ít người. Đánh mất các DSVH dân tộc của một dân tộc cũng
đồng nghĩa với việc đánh mất chính dân tộc đó. Việc giáo dục ý thức bảo tồn
và phát huy DSVH các dân tộc thiểu số là chiến lược phát triển bền vững
quốc gia.
Công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), thực hiện thắng lợi mục tiêu:
“Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” đòi hỏi chúng ta
phải xây dựng nền tảng tinh thần của dân tộc. bên cạnh việc phát triển kinh tế
là trọng tâm thì vấn đề xây dựng nền văn hóa được Đảng ta hết sức quan tâm.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã xác định: “Vấn đề xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” [8] đã được Đảng ta
xác định là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.
Thực tiễn phát triển văn hóa nước ta trong thời kỳ đổi mới đang đòi hỏi
cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng kết và những biến đổi của các giá trị văn
hóa ở nước ta trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa (XHCN), góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống và cách mạng. Vì vậy việc “Xây dựng và thực hiện các chính

1


sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu
số” [13; 225] là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) với nội dung đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập

Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trong quá trình tham gia Thập kỷ quốc tế về văn hóa trong phát triển
(1987 – 1996) và chủ trương bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa do Tổ chức
Giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới (UNESCO) phát động, Đảng ta đã xác
định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là
động lực phát triển kinh tế- xã hội”. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và các quan niệm mới về văn hóa trên thế giới mà điểm
cốt lõi là đề cao nhân tố văn hóa trong phát triển, phát huy những giá trị văn
hóa, coi trọng việc bảo vệ DSVH dân tộc, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về văn hóa. Trong đó có những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Nghiên cứu về vấn đề văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta
không phải là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên
cứu với tầm cỡ, quy mô khác nhau. Các công trình, bài viết về mối quan hệ
giữa văn hóa và phát triển như: Trần Ngọc Hiên, “Văn hóa và phát triển – từ
góc độ nhìn Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Xuân
Nam, “Văn hóa vì sự phát triển”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Các công trình, bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị
trường như: “Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 1999; Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên), “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Khoa học
xã hội, 2004.

3


- Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học: Vũ Đức Khiển, “Văn
hóa với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa
dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Vũ Thị Kim Dung với “Cách tiếp cận
vấn đề văn hóa theo quan điểm của triết học Mác” Tạp trí Triết học số 1,

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc dạy và học môn GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Giảng dạy môn GDCD (Bài 13 GDCD 10: Công dân với cộng đồng;
Bài 13 GDCD 11: Chính sách giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa; Bài
9 GDCD 12: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước) ở trường
THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
5.1. Những luận điểm cơ bản
Làm rõ quan điểm về việc giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân
tộc thiểu số trong dạy học GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Đề tài khẳng định sự cần thiết phải tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn
DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD cho HS trường
THPT Cù chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Khảo sát việc giảng dạy môn GDCD (Bài 13 GDCD 10: Công dân với
cộng đồng; Bài 13 GDCD 11: Chính sách giáo dục, khoa học và công nghệ,
văn hóa; Bài 9 GDCD 12: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước)
ở trường THPT Cù Chính Lan về việc tích hợp giáo dục ý thức bảo tồn
DSVH của các dân tộc thiểu số.
Đưa ra quy trình, điều kiện, những biện pháp để thực hiện việc tích hợp
giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn
GDCD ở trường THPT Cù Chính Lan, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

5


5.2. Đóng góp mới của tác giả

của các dân tộc thiểu số trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
1.1.1. Các quan điểm về tích hợp và dạy học tích hợp
1.1.1.1. Các quan điểm về tích hợp
Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với
nghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ
phận riêng lẻ.
Integration (n)/ integrate (v) trong tiếng Anh có nghĩa là hợp lại thành
một hệ thống thống nhất, sự bổ sung thành thể thống nhất, sự hợp nhất, sự hòa
hợp với môi trường, (tiếng Anh – Mỹ còn có nghĩa sự hòa hợp chủng tộc, sự
mở rộng cho mọi chủng tộc).
Trong tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp. Tích: (danh
từ) là kết quả của phép nhân; (động từ): dồn góp từng ít cho thành số lượng
đáng kể (Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học; tr 981) Hợp:(danh từ): tập
hợp mọi phần tử của các tập hợp khác; (động từ): gộp chung; (tính từ): không
mâu thuẫn, đúng với đòi hỏi. Tích hợp: lắp ráp, kết nối các thành phần của
một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.
Như vậy, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, sự hợp nhất, sự hòa nhập
các bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất.
1.1.1.2. Các quan điểm về dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp được Unesco định nghĩa là: Một cách trình bày có
khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của

7


tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa các lĩnh vực khoa
học khác nhau. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và
nguyên lý khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung.
Theo Hội nghị tại Maryland 4 – 1973, khái niệm dạy học tích hợp còn
bao gồm cả việc dạy học tích hợp với công nghệ học. Bởi có thể thấy khoa

dung chủ đề không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn khác
nhau, do đó các nội dung thuộc chủ đề sẽ không cần dạy ở các môn học riêng
rẽ. Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.1.2.1. Văn hóa
Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, trên
thế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về văn hóa. Song, về cơ
bản đều thống nhất coi, văn hóa là những gì mà con người sáng tạo để hình
thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt
động thực tiễn. Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời
sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện
diện của con người.
Bàn đến văn hóa và sự phát triển của văn hóa, chủ nghĩa Mác thừa nhận,
với tư cách là một hệ giá trị, văn hóa bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử,
bởi năng lực thực hiện “lực lượng bản chất người”. Mác vạch rõ nguồn gốc văn
hóa gắn liền với năng lực sáng tạo của con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ
lao động. Văn hóa là sự “thăng hoa” của sản xuất vật chất, ông cho rằng người
ta có thể căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người khai thác chuyển biến
thành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn hóa.
V.I.Lênin trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bảo vệ và phát triển các
nguyên lý của triết học Mác. V.I.Lênin đã phân tích sâu sắc thêm về mặt xã
hội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế xã hội và cho rằng, văn
hóa theo nghĩa rộng, là những giá trị chung nhất, tồn tại và phát triển qua

9


nhiều chế độ xã hội, nhiều giá trị có ý nghĩa vĩnh hằng. Vì vậy phải biết kế
thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống.
UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã

cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ
có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ
là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần
không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường
được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất. Ngoài ra, còn các giá trị
tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất
khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối
sống, phong tục tập quán…
Từ một số khía cạnh đã trình bày trên đây, tác giả đưa ra quan niệm về
văn hóa như sau: Văn hóa là năng lực sáng tạo, là thái độ, phương thức sống,
phương thức hoạt động mang tính nhân đạo của con người nhằm tạo ra các
giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
1.1.2.2. Di sản văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Di sản văn hóa
Di sản văn hoá là khái niệm chung nhất để chỉ những sản phẩm vật chất
và tinh thần của một tộc người, một quốc gia, một dân tộc còn được lưu
truyền qua các thế hệ.
Để bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống của dân tộc, tránh bị mai
một bởi ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội trong quá trình phát
triển. Luật Di sản văn hoá đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, thì Di sản văn hoá
được quy định tại Điều 1- Chương I như sau: “Di sản văn hoá quy định tại
Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản
phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

11


Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật

+ Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức,
nghi lễ và các phong tục khác.
+ Lễ hội truyền thống.
+ Nghề thủ công truyền thống.
+ Tri thức dân gian.
Như vậy, ta có thể hiểu, DSVH của các dân tộc thiểu số là toàn bộ
những sản phẩm vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số được lưu truyền
qua các thế hệ.
* Bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Trong nghiên cứu, cũng như trong hoạt động thực tiễn, ta thường bắt
gặp ba từ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn.
Bảo quản mang nghĩa sử dụng những biện pháp kỹ thuật để gìn giữ,
chăm sóc đối tượng được nguyên vẹn, tồn tại lâu dài. Bảo vệ chứa đựng nội
dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý hay nói cách khác là
giữ không để cho bị xâm phạm.
Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, là hoạt động giữ gìn một cách an toàn
khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, nói cách khác là bảo quản kết
cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó.
Như vậy, bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số là tất cả những nỗ lực
nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa các DSVH của các dân tộc thiểu
số nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phải
đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả
năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội.
1.1.2.3. Ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Ý thức
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, ý thức là sự phản ánh hiện thực
khách

13




được tự nhiên và xã hội, tạo ra được những giá trị vật chất và tinh thần, thực
hiện được những chuyển biến và có được những phát hiện trong khoa học.
* Ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
Ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số là tổng hòa tri thức, tình
cảm và ý chí bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động
của con người, nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của DSVH nhằm
bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phải đảm bảo
việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục
vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội.
1.1.2.4. Giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số
* Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người, nhờ có
giáo dục mà các thế hệ loài người nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa
của mỗi cộng đồng dân tộc và nền văn minh của cả nhân loại được kế thừa, bổ
sung và từ đó xã hội loài người không ngừng được phát triển.
Giáo dục là khái niệm đa nghĩa, khi phân tích giáo dục với tư cách là
một hiện tượng xã hội, ta thấy: Giáo dục là hiện tượng văn minh chỉ có ở xã
hội loài người, về bản chất đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
lịch sử xã hội của các thế hệ con người. Khi xét giáo dục dưới góc độ là một
hoạt động, ta thấy giáo dục có hai nghĩa:
- Nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các
đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn
diện ( trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, kỹ năng lao động,…). Quá trình
giáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trong nhà trường còn được gọi là quá
trình sư phạm tổng thể, bao gồm hai quá trình bộ phận, đó là quá trình dạy
học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.

15



Như vậy, nội dung giáo dục ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu
số là toàn bộ các nội dung cấu thành ý thức bảo tồn DSVH của các dân tộc
thiểu số. Các nội dung cơ bản đó cần triển khai thành các nội dung cụ thể, bảo
đảm tính toàn diện, tính chỉnh thể, tính thống nhất về nội dung giáo dục ý
thức bảo tồn DSVH của các dân tộc thiểu số cho HS THPT hiện nay.
1.1.3. Vai trò của việc giáo dục ý thức bảo tồn di sản văn hóa của các dân
tộc thiểu số cho HS trường THPT
DSVH dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quá
trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn
cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục.
Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lý
luận dạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận dạy học bộ môn
hầu như chưa đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các DSVH. Gần
đây trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường thân thiện, HS tích cực,
một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho HS tham gia chăm sóc
các di sản, chủ yếu là các di tích mang tính lịch sử của địa phương. Việc khai
thác các DSVH ở địa bàn nhà trường đóng như là nguồn tri thức, là phương
tiện dạy học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có thường mang tính
tự phát. Vì vậy, vai trò và thế mạnh của những DSVH phong phú, ở địa
phương chưa được khai thác đúng mức để sử dụng trọng dạy học và các hoạt
động giáo dục của nhà trường.
Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, DSVH nói chung và DSVH của các
dân tộc thiểu số sẽ giúp cho quá trình học tập của HS ở những địa phương có
nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểu
bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho
HS. Ý nghĩa, vai trò của các DSVH của các dân tộc thiểu số đối với HS có thể
được thể hiện dưới nhiều góc độ.



18


- Kích thích hứng thú nhận thức của HS: Hứng thú nhận thức là một trong
những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả của quá trình học tập.
Trong giai đoạn nhận thức cảm tính, sự tri giác các đối tượng, hiện tượng là điều
kiện để phát sinh cảm giác, tạo nên biểu tượng về chúng và sau đó, nhờ nhận
thức lý tính hình thành nên khái niệm hoàn chỉnh về đối tượng, hiện tượng
nghiên cứu. Trong quá trình tiếp cận với DSVH của các dân tộc thiểu số theo sự
hướng dẫn của GV, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ
được các em tìm hiểu. Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫn
hơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em có được động
cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến thức mới cũng
như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ DSVH tốt hơn.
- Phát triển trí tuệ của HS: Trong quá trình học tập, trí tuệ của HS được
phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ
việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt
động tâm lý: tri giác, biểu tượng, trí nhớ,….Cho HS tiếp cận di sản đúng mục
đích, đúng lúc với những PPDH phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính
định hướng, kích thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát,
khả năng xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó
phát triển trí tuệ của các em.
- Giáo dục nhân cách HS: DSVH là một trong những phương tiện dạy
học đa dạng sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả
năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của
HS. Do đó, khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các DSVH của các dân
tộc thiểu số, chuyển giao cho HS để các em cũng nhận thức được những giá
trị đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống các quan điểm, các khái niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status