tai lieu tap huan nghiên cứu khoa học xã hội - Pdf 38

KẾT QUẢ MONG ĐỢI
1. Về kiến thức: Học viên nắm được:
- Hiện trạng cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh phổ thông.
- Quy trình và nghiệp vụ hướng dẫn học sinh phổ thông thực hiện các đề tài NCKH.
- Những kiến thức cơ bản về phương pháp luận NCKH.
2. Về kỹ năng: Học viên củng cố và phát triển các kỹ năng:
- Tư duy về vấn đề nghiên cứu, từ đó hướng dẫn học sinh hình thành đề tài nghiên cứu.
- Phát huy năng lực hướng dẫn học sinh: Xây dựng đề cương và triển khai kế hoạch
nghiên cứu đề tài.
3. Về thái độ: Học viên cần:
- Nghiêm túc, đam mê trong NCKH.
- Truyền cảm hứng sáng tạo và say mê NCKH cho học sinh.
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC
LĨNH VỰC XÃ HỘI – HÀNH VI
1. Yêu cầu và tầm quan trọng của việc học sinh phổ thông NCKH
- Khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kĩ thuật, công nghệ và vận
dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương
pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; thúc đẩy
giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất
lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học.
- Khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, cơ sở nghiên cứu, các tổ
chức và cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh trung học.
- Tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của
mình; tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập
quốc tế.
2. Những điểm còn hạn chế của cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh
2.1. Về nhận thức
- Mặc dù hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh đã có những bước phát
triển mạnh mẽ trong những năm qua nhưng một bộ phận cán bộ quản lí, giáo viên và

Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá dự án khoa học kĩ thuật của Intel ISEF, các
dự án của học sinh Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:
- Việc nghiên cứu tổng quan còn hạn chế, dẫn tới câu hỏi/vấn đề nghiên cứu chưa
được xác định một cách rõ ràng, cụ thể trong mối quan hệ với những nghiên cứu mới
nhất trong và ngoài nước. Vì vậy có những đề tài đã không xác định được tường minh
điểm mới so với những đề tài cùng lĩnh vực đã được công bố. Cũng vì chưa đầu tư
nghiên cứu tốt về tổng quan nên học sinh chưa đề xuất được những ý tưởng mới và vì
thế nhiều dự án dự thi mới chỉ đạt mức độ "cải tiến", chưa thể hiện được sự sáng tạo về
mặt khoa học hay kĩ thuật. Một số dự án còn "nhầm" lĩnh vực đăng kí dự thi, thể hiện
việc xác định vấn đề/câu hỏi nghiên cứu chưa rõ ràng về mặt khoa học.
- Việc lập kế hoạch nghiên cứu của một số dự án chưa được thực hiện một cách
khoa học, thể hiện ở việc hoàn thành các Biểu mẫu của Cuộc thi chưa chuẩn xác về
mặt nội dung cũng như thời gian thực hiện; cũng vì thế mà chất lượng nghiên cứu còn
hạn chế.
- Việc ghi chép các minh chứng và lí giải về quá trình nghiên cứu, bao gồm việc
xác định vấn đề nghiên cứu, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề và quá trình thực thi
2


giải pháp để giải quyết vấn đề... còn hạn chế, thể hiện ở việc lúng túng khi phải trả lời
các câu hỏi dạng "Tại sao lại làm thế này mà không làm thế kia?".
- Cách trình bày kết quả nghiên cứu của nhiều dự án còn rập khuôn, nặng về hình
thức.
Nhiều bản báo cáo dự án còn có cấu trúc như là một luận văn, luận án, trình bày
dài dòng
về cơ sở lí luận nhưng không làm bật được vấn đề nghiên cứu và điểm mới, sáng
tạo của đề tài. Việc trình bày poster cũng như việc trả lời phỏng vấn của một số học
sinh còn hạn chế, chưa sáng tạo, linh hoạt.
3. Một số nguyên nhân của hạn chế
- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của học sinh, gia đình học sinh, nhà


người hướng dẫn, các nhà khoa học chuyên ngành, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí
nghiệm, kinh phí... cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh.
- Cơ chế, chính sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh như
kinh phí, chế độ đãi ngộ cho giáo viên làm công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu
khoa học còn chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa tạo được động lực bên trong cho cả giáo
viên và học sinh trong hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật.

PHẦN II: HƯỚNG DẪN HỌC SINH NCKH
(Trong phạm vi cuộc thi KH-KT của học sinh phổ thông)
1. Xác định nhóm nghiên cứu:
- Một đề tài có thể do 1 đến 2 học sinh nghiên cứu.
- Nhóm nghiên cứu phải hội tụ:
+ Thường là học sinh lớp 9 hoặc 11, 12 với học lực từ loại khá trở lên.
+ Có năng lực tìm tòi, khám phá, sáng tạo và thích NCKH.
+ Có những hiểu biết cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu.
2. Hướng dẫn học sinh xác định vấn đề nghiên cứu:
- Đặt và trả lời các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Phải làm gì? Làm như thế
nào? Nghiên cứu vấn đề sẽ đáp ứng mục tiêu gì?...
- Hình thành vấn đề nghiên cứu một cách sáng tỏ, mạch lạch và có hướng giải
quyết.
3. Đặt tên đề tài:
- Tên đề tài phải sáng rõ, cô đọng, không quá dài.
- Tên đề tài phải hàm chứa mục tiêu, nội dung và hướng nghiên cứu.
- Tránh đặt tên đề tài như: Mang nhiều nghĩa, thử bàn, bước đầu nghiên cứu, một
vài vấn đề, phát huy hơn nữa…
4. Xây dựng thuyết minh đề cương nghiên cứu:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
- Lý do về pháp lý.

vấn đề nhằm đáp ứng mục tiêu và nội dung nghiên cứu.
- Mỗi đề tài có hệ thống phương pháp nghiên cứu khác nhau.
7. Kế hoạch nghiên cứu:
- Kế hoạch nghiên cứu là toàn bộ lộ trình từ khi bắt đầu đến khi hoàn thiện việc
triển khai nghiên cứu một đề tài.
- Kế hoạch nghiên cứu phải liệt kế toàn bộ công việc của quá trình nghiên cứu.
Trong đó thể hiện rõ: Nội dung công việc; yêu cầu cần đạt; ai làm; thời gian bắt đầu và
kết thúc; dự kiến kinh phí (nếu có) và rủi ro.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu:
- Điểm qua những công trình nghiêu cứu của các tác giả đi trước liên quan đến đề
tài nhằm:
+ Họ đã nghiên cứu đến đâu?
+ Thành tựu nghiên cứu của họ là gì?
+ Công trình nghiên cứu của họ đã gợi mở cho nhóm nghiên cứu vấn đề gi?
- Điểm qua những chương trình, những hoạt động của các tổ chức liên quan đến
đề tài nhằm:
5


+ Họ đã làm gì? Làm đến đâu?
+ Kết quả của các chương trình, hoạt động đó có tạo điểm tựa về mặt thực tiễn
cho đề tài không?
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài (nội dung 1): Các khái niệm, định nghĩa, quan
niệm liên quan đến đề tài.
Chương 2: Luận điểm 1 (nội dung 2)
Chương 3: Luận điểm 2 (nội dung 3)
Chương 4: Luận điểm 3 (nội dung 4)


2. Nghiên cứu khoa học là gì?
Nghiên cứu khoa học nói cho cùng là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và
cải tạo thế giới:
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng (sau đây gọi
chung là sự vật ).
- Phát hiện quy luật vận động của sự vật.
- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật.
3. Chức năng cơ bản của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học nhằm vào hai mục đích cơ bản: Nhận thức thế giới và cải
tạo thế giới. Hai mục đích đó được thực hiện thông qua những chức năng cụ thể như
sau :
+ Mô tả
Mô tả một sự vật là sự trình bày bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất của sự vật,
cấu trúc, trang thái, sự vận động của sự vật.
Nhờ nghiên cứu khoa học mà sự vật được mô tả một cách chân xác, phù hợp qui
luật vận động như nó tồn tại. Mục đích của mô tả là đưa ra một hệ thống tri thức về sự
vật, giúp cho con người một công cụ nhận dạng thế giới, phân biệt được sự khác biệt
về bản chất giữa một sự vật này với một sự vật khác.
Sự mô tả bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng.
7


Mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật. Ví dụ, Trái đất và
Kim tinh quay xung quanh Mặt trời theo một quĩ đạo bầu dục. “ Quay theo quĩ đạo
bầu dục” là một đặc trưng về chất của cả hai hành tinh Trái đất và Kim tinh.
Mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật. Trong ví dụ
trên, người ta biết được một trong những đặc trưng về lượng là chu kỳ quay của Trái
đất xung quanh Mặt trời là 365,24 ngày đêm; còn chu kỳ quay của Kim tinh xung
quanh Mặt trời là 224,7 ngày đêm.
+ Giải thích

8


+ Sáng tạo
Sáng tạo là sự làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại
Lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ, khoa học không bao giờ dừng lại ở
chức năng mô tả, giải thích và tiên đóan. Sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của khoa học
là sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới.
4. Tri thức khoa học
+ Tri thức thường nghiệm
Tri thức thường nghiệm là những hiểu biết được tích lũy từ kinh nghiệm sống
thường ngày. Thiếu những tri thức này, con người sẽ hoàn toàn bỡ ngỡ trước các biến
động, không biết phản ứng trước những sự vật xung quanh.
+ Tri thức khoa học
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy từ quá trình nghiên cứu khoa
học. Tri thức khoa học được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, tiền đề, qui
luật, định luật, định lý, lý thuyết, học thuyết vv…
Trong một tọa đàm về kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong cải cách kinh tế,
tác giả Việt Phương đã có sự so sánh thú vị giữa tri thức thường nghiệm với tri thức
khoa học. Việt Phương xem tri thức khoa học là những chủ kiến có giá trị, nó không
miên man dàn trải, mặt nào, vấn đề gì cũng có một tí ý kiến, kiểu ý kiến để “ nói
chuyện nổi bật ở thính phòng”. Tác giả gọi đó là những hiểu biết phổ thông ( tức tri
thức thường nghiệm), không chuyên môn ( tức tri thức khoa học ), có thể hấp dẩn ở
các cuộc nói chuyện tài tử, không phải là kiến thức khoa học chuyên sâu, càng không
phải là sự sáng tạo.
5. Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
+ Tính mới
Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà
con người chưa biết. Vì vậy quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới
những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp

Không
( 1.1 ) Nếu “ không” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 2
( 1.2 ) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3
2. Có còn cách nào khác để đạt kết quả

Không
( 2.1) Nếu “ không” thì bác bỏ giả thuyết và chấm dứt nghiên cứu
( 2.2) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3
3. Có đề ra được giải pháp kiểm chứng giả thuyết Có
Không
( 3.1 ) Nếu “có” thì tiến hành nghiên cứu bổ sung và kiểm tra theo Câu hỏi 1
( 3.2 ) Nếu “ không” thì chấm dứt quá trình tự trắc nghiệm
+ Tính rủi ro:
Tính hướng mới của nghiên cứu khoa học qui định một thuộc tính quan trọng
khác của nghiên cứu khoa học . Đó là tính rủi ro ( risque ). Một nghiên cứu có thể
thành công, có thể thất bại . Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều
nguyên nhân với các mức độ khác nhau :
- Do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt
ra trong nghiên cứu.
- Do trình độ kĩ thuật của thiết bị thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm
chứng giả thuyết.
- Do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề.
- Do giả thuyết nghiên cứu đặt sai
- Do những tác nhân bất khả kháng vv…
Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả.
+ Tính kế thừa

10



yếu tố của năng lực nghiên cứu”
7.1. Một số vấn đề liên quan đến đề tài NCKH
7.1.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Cụm từ nhiệm vụ nghiên cứu nay đã đi vào hệ thống văn bản chính thức về tổ
chức và quản lý nghiên cứu khoa học của Nhà nước.
Nhìn chung trong những hệ thống kinh tế nhiều thành phần, có thể có các
nguồn nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Chủ trương phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia
11


Chủ trương này được ghi trong các văn kiện chính thức của các cơ quan có thẩm
quyền của nhà nước. Trong bất cứ quốc gia nào đây cũng luôn được xem là một
nguồn quan trọng nhất. Tính quan trọng ở đây không chỉ thể hiện ở tầm ảnh hưởng
quốc gia và quốc tế của những nhiệm vụ này, mà còn ở chỗ đó là một địa chỉ hấp dẫn
đối với người nghiên cứu trong việc tìm kiếm “ thị trường” cho những người nghiên
cứu khác nhau.
+ Nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên
Đây là nhiệm vụ được giao từ cơ quan cấp trên của cá nhân hoặc tổ chức nghiên
cứu. Tùy thuộc vị trí của cá nhân hoặc tổ chức nghiên cứu, cơ quan cấp trên có thể rất
khác nhau: một viện nghiên cứu tư nhân có thể không có cấp trên, viện nghiên cứu
thuộc hãng sản xuất thì cấp trên là hãng, cấp trên cũng có thể là một bộ, một trường
đại học, nếu viện trực thuộc bộ hoặc trường.
+ Nhiệm vụ được nhận từ hợp đồng với các đối tác :
Các đối tác giao nhiệm vụ nghiên cứu theo hợp đồng có thể là các doanh nghiệp
hoặc tổ chức xã hội trong nước, cũng có thể là các đối tác nước ngoài. Đối với người
nghiên cứu, đây chưa hẳn là những nhiệm vụ nghiên cứu có nhiều hứng thú về mặt
học thuật, nhưng thường lại là những hợp đồng đưa lại thu nhập cao. Hơn nữa, thường
khi thông qua việc thực hiện hợp đồng nhiều ý tưởng nghiên cứu mới xuất hiện, tạo
tiền đề cho những bước nghiên cứu tiếp sau

Trong mối liên hệ giữa nhiệm vụ vấn đề, đối tượng, mục tiêu cần lưu ý : “ nhiệm
vụ”, “ vấn đề”, “ đối tượng” là sự vật tồn tại khách quan trước người nghiên cứu. Còn
“ mục tiêu” là sự chọn lựa mang tính chủ quan của người nghiên cứu.
7.1.4. Đặt tên đề tài:
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài. Tên một
đề tài khọahoc khác với tên của tác phẩm văn học hoặc những bài văn luận chiến Tên
một tác phẩm văn học hoặc một bài luận chiến có thể mang những ý ẩn dụ sâu xa. Còn
tên của một đề tài khọa hoc thì chỉ được mang một ý nghĩa hết sức khúc triết, đơn vị,
không được phép hiểu hai hoặc nhiều nghĩa.
Về nguyên tắc chung, tên đề tài phải ít chữ nhất, nhưng chứa đựng một lượng
thông tin cao nhất.
Tên đề tài không nên đặt bằng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin, đại
lọai như :
Về vấn đề …,
Thử bàn về …,
Vài suy nghĩ về…;
Góp phần vào việc nghiên cứu về…
Về mặt kết cấu, tên đề tài có thể cấu tạo theo một trong những cách được chỉ
trong bảng sau :
THÀNH PHẦN TRONG CẤU TẠO
VÍ DỤ
TÊN ĐỀ TÀI

13


Đối tượng nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu + phương tiện

Từ các tư liệu đã có, tuy mỗi tác giả có những cách tiếp cận khác nhau,
nhưng ta có thể hình dung một qui luật chung về trình tự nghiên cứu khoa học,
gồm các bước sau :
7.2.1. Lựa chọn đề tài :
Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu có một ý nghĩa quan trọng đối với người nghiên
cứu, vì mỗi đề tài nghiên cứu gắn liền với những cố gắng đầu tư sức lực, thời gian,
kinh phí… đôi khi quyết định cả phương hướng chuyên môn của một đời sự nghiệp.
Việc lựa chọn đề tài có những đặc điểm sau:
Đề tài được chỉ định :
Người nghiên cứu có thể được chỉ định thực hiện một đề tài mà đơn vị đang thực
hiện theo yêu cầu của cấp trên hoặc theo một hợp đồng với đối tác.

14


3.

Đối với sinh viên hoặc nghiên cứu sinh làm luận văn , thì đề tài được chỉ định có
thể là một phần nhiệm vụ của đề tài mà thấy họac nộ môn đang thực hiện, nhưng số
người có cơ hội tham gia cộng tác trực tiếp với thầy không nhiều.
Cũng có trường hợp, căn cứ yêu cầu học tập, thầy hướng dẫn đưa ra một đề tài
mang tính giả định cho sinh viên hoặc nghiên cứu sinh, không liên quan đến nhiệm vụ
nghiên cứu của thầy.
Đề tài tự chọn
Trong trường hợp được tự chọn đề tài, người nghiên cứu cần tìm hiểu hiện trạng
phát trtiển của lĩnh vực chuyên môn, tìm hiểu tình hình thực tế mà xác định một hướng
nghiên cứu thích hợp.
Việc lựa chọn đề tài có thể dựa trên những căn cứ sau:
1. Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?
- Bổ sung những chỗ còn trống trongblý thuyết của bộ môn khoa học

của cá nhân với việc giải quyết nhu cầu bức bách của xã hội. Người nghiên cứu luôn
phải đứng trước sự lựa chọn này.
7.2.2. Đặt tên đề tài
Tên đề tài thường được đặt sau khi đã làm rõ mọi vấn đề liên quan đến mục tiêu
nghiên cứu. Tên đề tài phải súc tích, ít chữ nhất, nhưng nhiều thông tin nhất. Đề tài có
thể được đặt tên theo một số cấu trúc sau :
- Đối tượng nghiên cứu : Môi trường ra rễ ( đề tài trong lĩnh vực nông nghiệp).
- Giả thuyết nghiên cứu : ca Huế là một dòng âm nhạc cổ điển ( âm nhạc)
- Mục tiêu nghiên cứu : Cải tiến giáo trình dạy tiếng Anh ( ngọai ngữ)
Ngoài ra còn một số lọai cấu trúc gồm một số thành phần như “ mục tiêu +
phương tiện”, “ Mục tiêu + môi trường” vv……xem phần đề tài nghiên cứu khoa học).
Trong mọi trường hợp, người nghiên cứu hết sức tránh đặt tên đề tài với những cụm từ
mang nhiều tính bất định như “ một số vấn đề…”, “ vài suy nghĩ về…”, “ góp phần
vào…”
Phát hiện vấn đề nghiên cứu :
Nếu có vấn đề thì mới có nhu cầu giải quyết vấn đề. Tìm giải pháp để giải quyết
vấn đề chính là nội dung của công việc nghiên cứu.
Thông thường, các vấn đề nghiên cứu được phát hiện nhờ quan sát, trao đổi bằng
cách phỏng vấn cá nhân hoặc trong các hội thảo khoa học. Cũng có thể phát hiện vấn
đề nhờ những cuộc điều tra dùng phiếu hỏi, tiến hành các trắc nghiệm, hoặc thậm chí
phải tiến hành những thực nghiệm. Thực nghiệm cũng là để quan sát .
Kết quả của công việc phát hiện vấn đề có thể cho người nghiên cứu thấy có vấn
đề để nghiên cứu, cũng có thể không có vấn đề để nghiên cứu, song cũng có thể phát
hiện ra những giả vấn đề ( tưởng là có vấn đề, nhưng trên thực tế lại không là vấn đề)
Công việc nghiên cứu chỉ xuất hiện khi xác định chắc chắn là có vấn đề.
7.2.3. Xây dựng đề cương nghiên cứu
Đề cương được xây dựng để trình cơ quan và tổ chức tài trợ phê duyệt và là cơ sở
để làm việc với bạn các đồng nghiệp. Nội dung đề cương cần thuyết minh những điểm
sau :
+ Lý do chọn đề tài :

chính là cơ sở để dự kiến các nguồn lực, lập kế họach tiến độ nghiên cứu, kế họach về
nhân lực, vật tư thiết bị, tư liệu, tài chính và cuối cùng là cơ sở để vạch ra cơ cấu
chương mục của báo cáo khoa học.
+ Xây dựng kế họach nghiên cứu : Trình bày vắn tắt kế hoạch NC theo các nội
dung sau :
- Kế họach tiến độ
Kế họach tiền độ được xây dựng căn cứ yêu cầu của cơ quan giao nhiệm vụ
(hoặc là lệnh của cấp trên, hoặc yêu cầu củađối tác phía bên giao nhiệm vụ nghiên
cứu theo hợp đồng)
- Kế họach nhân lực
Lập kế họach nhân lực nghiên cứu có phần phức tạp hơn trong kế họach nhân lực
sản xuất UNESCO đã đưa ra một cách tính nhân lực dễ sử dụng trong khi xây dựng kế
họach nghiên cứu gồm các lọai nhân lực sau :
- Nhân lực chính nhiệm ( full time staff ), trong một số tài liệu dịch trước đây,
được dịch là “ nhân lực toàn thời gian”. Trong dự toán tài chính, số nhân lực này được
nhận 100% lương.
- Nhân lực kiêm nhiệm ( part time staff), là nhân lực chỉ dành một phần quĩ thời
gian tham gia vào công việc nghiên cứu. Ví dụ : giám đốc dự án có thể có vai trò rất
17


quan trọng, nhưng thường chỉ tính khỏang 30 –50% quĩ thời gian, vì vị này thường là
người có chức vụ chính nhiệm nào đó chẳng hạn, Viện trưởng, Bộ trưởng, Thứ trưởng
hoặc những chức vụ chiếm quĩ thời gian tương đương. Khi lập dự toán tài chính cũng
chỉ tính lương bằng số phần trăm tương ứng so với mức lương qui định cho giám đốc
dự án chính nhiệm.
- Nhân lực chính nhiệm qui đổi ( cquivalent full time staff ), trong một số tài liệu
dịch trước đây, chúng tôi chuyển ngữ thành “ nhân lực thời gian toàn bộ tương đương”
. Có lẽ cách chuyển ngữ sau này phù hợp hơn .
+ Lập danh sách cộng tác viên



Chi phí nghiên cứu :
- Tiền trả các bản phân tích, nghiên cứu, dịch thuật.
- Tiền trả cho các phỏng vấn
- Tiền trả cho việc in phát, hướng dẫn và xử lý kết quả điều tra
- Chi phí đi lại, ăn ở phục vụ các cuộc điều tra.
Chi phí mua và xuất bản tài liệu :
- Mua sách, tài liệu, trả cho việc cung cấp số liệu
- Xuất bản các bản tin nghiên cứu
Chi phí hội nghị :
Trong hướng dẫn dự toán nghiên cứu của các cơ quan tài trợ nước ngoài, chi phí
hội nghị bao gồm :
- Tiền trả cho các báo cáo.
- Chi phí phòng họp, gồm tiền thuê phòng họp và các trang bị hội nghị, nước
uống, ăn nhẹ giữa giờ, thuê nhân viên.
- Tiền in chụp tài liệu sử dụng trong hội nghị và in kỷ yếu hội nghị.
Chi phí quản lý đề tài.
7.2.4. Tiến hành nghiên cứu
Nội dung của công việc nghiên cứu bắt đầu bằng việc nghiên cứu tư liệu, xây
dựng khái niệm, đặt giả thuyết, kiểm chứng giả thuyết và viết luận văn.
+ Lập danh mục tư liệu
Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian làm việc trong các kho lưu trữ, các trung
tâm thông tin, tư liệu, thư viện và các tiếp xúc cá nhân để khai thác các nguồn tư liệu
cá nhân. Việc lập danh mục tư liệu có thể thực hiện theo nhiều phương thức :
+ Lập phiếu thư mục
Người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra cứu, Phiếu thư mục
nên làm theo mẫu phiếu thư mục của các thư viện để tiện đối chiếu với hệ thống
chung, cũng có thể cải tiến một chút theo thói quen tra cứu của cá nhân, nhưng phải
bảo đảm một yếu cầu rất quan trọng là phải ghi rất rõ nguồn tư liệu, mã số của thư

Đặt giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết là công việc thiết yếu và quan trọng nhất
của nghiên cứu
Bảng sau tóm tắt phân lọai các lọai hình nghiên cứu, trong đó liệt kê một số nội
dung cụ thể của từng lọai hình để người nghiên cứu nhận dạng lọai hình nghiên cứu để
đặt giả thuyết.
LỌAI HÌNH VÀ GIẢ
NỘI DUNG
THUYẾT NGHIÊN CỨU
Phát hiện qui luật của sự vật, hiện tượng:
-Tổng kết kinh nghiệm từ một sự vật
Nghiên cứu cơ bản
-Điều tra tổng thể về tự nhiên hoặc kinh tế và xã hội
( Giả thuyết về qui luật)
-Nghiên cứu chuyên đề về bản chất của mọi sự vật
-Xây dựng các cơ sở lý thuyết về một sự vật
Sáng tạo nguyên lý giải pháp họat động
Nghiên cứu ứng dụng
- Phương pháp điều hành một quá trình
( Giả thuyết về giải pháp)
- Luận chứng cho các biện pháp đạt mục tiêu
- Công nghệ trong công nghiệp
- Giải pháp chế biến vật chất hoặc thông tin
Xây dựng một khuôn mẫu khả thi, có khả năng mở rộng
Triển khai
qui mô áp dụng đại trà :
( Giả thuyết về hình mẫu)
-Khuôn mẫu một phương pháp khả thi
-Khuôn mẫu một công nghệ khả thi
-M ẫu một sản phảm khả thi
20

trường hợp rất khoa định lượng hóa chỉ tiêu định tính, nhất là trong các nghiên cứu xã
hội.
4. Lặp lại và kiểm tra chéo giữa các phương pháp
Trong quá trình kiểm chứng giả thuyết, người nghiên cứu có thể lặp lại một số
công việc như đã tiến hành khi phát hiện vấn đề nghiên cứu hoặc đặt giả thuyết nghiên
cứu, cũng có thể và cần kiểm tra chéo giữa các phương pháp bằng cách sử dụng
phương pháp này để kiểm tra phướng pháp kia.
Rất có thể không nhất thiết phải lập lại toàn bộ các phương pháp đã làm ở những
bước trên.
7.2.5 .Viết báo cáo khoa học
1. Mục đích báo cáo
21


Báo cáo công trình nghiên cứu nhằm một số mục đích sau :
- Ghi nhận và công bố các kết quả nghiên cứu
- Văn bản báo cáo cơ quan quản lý nghiên cứu hoặc cơ quan cấp tài trợ.
Có nhiều hình thức báo cáo công trình nghiên cứu
- Viết báo cáo từng phần đã hoàn tất của một công trình nghiên cứu
- Viết báo cáo trung hạn theo qui định của cơ quan tài trợ hoặc cơ quan quản lý
nghiên cứu.
-Viết báo cáo hoàn tất công trình nghiên cứu để công bố kết quả nghiên cứu và
báo cáo với cơ quan tài trợ hoặc cơ quan quản lý nghiên cứu
2. Nội dung của báo cáo
Dù bố trí theo các chương mục như thế nào, thì trong báo cáo cũng phải bao
gồm đầy đủ nhưng nội dung sau :
- Giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu
- Trình bày vắn tắt hoat động của nhóm nghiên cứu ( đề tài)
- Cơ sở lý thuyết được sử dụng ( kế thừa của người đi trước, tự mình xây dựng)
- Mô tả các phương pháp nghiên cứu đã được thực hiện

thức một đối tượng xác định trong một thời gian, một không gian với một mục đích
nhất định, bằng một phương tiện nhất định. Vì vậy quan sát sư phạm có những đặc
điểm sau đây :
1) Đối tượng quan sát là họat động sư phạm phức tạp, đó là họat động của một cá
nhân hay một tập thể, bản thân cá nhân hay tập thể đó lại có những đặc điểm đa dạng
về trình độ phát triển. Nội dung họat động sưn phạm càng phức tạp với những hình
thức phong phú thì quá trình quan sát càng khó khăn, càng phải côpng phu hơn.
2) Chủ thể quan sát là nhà khoa học hay các cộng tác viên. Đó là con người đều
mang lại tính riêng tư, đó là tính chủ quan. Chủ quan ở trình độ, ở kinh nghiệm, ở thế
giới quan, ở cảm xúc tâm lý. Sự quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan
của “ cái tôi” ngay cả khi sử dụng kĩ thuật hiện đại để quan sát, thí dụ máy quay phim
“ vô tư” làm việc nhưng chính con người cầm máy quay theo góc độ mà họ muốn. Đây
có thể là nguồn gốc của sự sai lệch hay “ xuyên tạc” sự thật chưa chưa kể đến các quy
luật ảo giác của cảm giác, tri giác trong họat động nhận thức.
3) Tài liệu quan sát dù khách quan đến mấy vẫn phục thuộc vào vịệc lựa chọn của
người nghiên cứu, do đó cần được lựa chọn theo một lý thuyết nhất định, được xử lý
bằng toán học và theo một lý thuyết nhất định, được hệ thống hóa. Để nhận thức được
thông tin cần thiết theo mục đích cần phải lập một kế họach và chương trình quan sát tỉ
mỉ.
Các công việc được xác định như sau :
- Xác định đối tượng quan sát, mục đích và nhiệm vụ cụ thể phải đạt được.
- Lựa chọn các phương pháp khách quan và đặt kế họach quan sát.
- Chuẩn bị tốt các tài liệu và thiết bị kỹ thuật để quan sát ( ví dụ các phiếu, biên
bản, văn phòng phẩm, thiết bị kĩ thuật…)
- Tiến hành quan sát, thu nhập tài liệu theo chương trình.
- Ghi chép kết quả quan sát có thể bằng các cách:
+ Ghi vắn tắt “ theo dấu vết nóng hổi”
+ Ghi theo phiếu in sẵn
+ Ghi biên bản
+ Ghi nhật ký theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sự kiện.

Trưng cầu ý kiến dựa trên những lời phát biểu của các cá nhân để phát hiện
những sắc thái tinh tế nhất về các sự kiện đang xẩy ra, đây là nguồn thông tin quan
trọng. Khi lập kế họach thu nhập thông tin nhà khoa học cố gắng tính đến các điều
kiện có thể ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kể cả những yếu tố ngẫu nhiên khác.
Độ tin cậy của thông tin là mức độ độc lập của thông tin với những yếu tố ngẫu nhiên,
tức là tính ổn định của thông tin ta thu được.
Căn cứ vào hình thức tổ chức trưng cầu ý kiến người ta chia trưng cầu ý kiến
thành các lọai :
- Trưng cầu ý kiến cá nhân, tập thể, nhóm
- Trưng cầu tại chỗ; Trưng cầu vắng mặt
- Trưng cầu một lần; Trưng cầu nhiều lần
- Trưng cầu toàn bộ vấn đề; Trưng cầu có lựa chọn
- Trưng cầu ý kiến có chuẩn hóa; trưng cầu tự do
Chất lượng ý kiến trả lời phụ thuộc vào hai phía:
24


Bên hỏi
- Đặt các câu hỏi nhằm mục đích gì?
- Kỹ thuật đặt câu hỏi: tự nhiên dễ hiểu, dễ trả lời
- Tình huống giao tiếp, hoàn cảnh môi trường thuận lợi
Bên trả lời
- Động cơ trả lời : để góp ý kiến hay cho qua chuyện
- Trình độ học vấn và văn hóa của họ
- Khả năng trí nhớ
- Thái độ đối với vấn đề được hỏi
- Giấu tên hay phải ghi tên
Điều quan trọng nhất trong trưng cầu ý kiến là đặt câu hỏi. Câu hỏi là thứ công
cụ điều tra được sắp xếp theo một trình tự logic nhằm tìm để thu thông tin. Câu hỏi có
dạng nhằm tìm hiểu sự kiện, kiểm tra nhận thức để biết ý kiến, quan điểm hay để tìm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status