TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
ĐẶNG THỊ VÂN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ
CỦA PHỤ NỮ VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở XÃ TRỰC THÁI,
HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Th.S Phạm Thị Thúy Vân
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo,
Th.S Phạm Thị Thúy Vân - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục chính
trị, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Tư tưởng Hồ Chí Minh và các bạn sinh viên
trong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016
Sinh viên thực hiện
TRỰC THÁI, HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH HIỆN NAY ...........26
2.1. Sự cần thiết phải vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ
vào việc đẩy mạnh công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực
Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay ...........................................................................26
2.2. Công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam
Định giai đoạn từ 2011- 2016 .............................................................................35
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữ ở
xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.............................................46
KẾT LUẬN .............................................................................................................51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................52
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LHPN
Liên hiệp phụ nữ
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã nhận rõ vai trò của phụ nữ chiếm một phần
phát triển kinh tế- xã hôi của địa phương, tình trạng thiếu viêc làm, phụ nữ
nghèo…diễn ra phức tạp. Do đó, phát huy vai trò của phụ nữ thông qua công tác
vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định là yêu cầu
cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài:“Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của
phụ nữ và sự vận dụng vào công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiên nay” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập đến với những hình thức và mức độ khác nhau:
Nhóm công trình là sách:
Nguyễn Văn Hùng (2005), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác
dân vận trong thời kì mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Linh Khiếu
(2003), Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội;
Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một số ấn phẩm
của Nhà xuất bản Phụ nữ như: “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ”
(1970), “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982); “Hồ Chí Minh với sự
nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990). Tất cả các công trình trên đều đi vào phân
tíchnội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ.
2
Nhóm công trình là luận văn, luận án:
Đặng Thị Linh, “Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. Thực
trạng và giải pháp”, (Luận án phó tiến sỹ triết học, Viện nghiên cứu chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997). Ở Luận án này, tác giả đã
đi vào nghiên cứu thực trạng về vấn đề phụ nữ trong gia đình, tác giả đưa ra một
Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra thực trạng về công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực Thái,
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định theo tư tưởng Hồ Chí Minh và nguyên nhân
của thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác vận động phụ nữ trên
địa bàn xã.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng
Đề tài tập trung vào nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của phụ nữ vào việc nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữ trên địa bàn
xã Trực thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và sự
vận dụng vào công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực Thái, huyện Trực
Ninh, tỉnh Nam Định giai đoạn từ 2011 - 2016.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước, nghị quyết của Đảng bộ địa phương về công tác vận động phụ nữ.
4
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng
các phương pháp: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, logic, phân tích và tổng
hợp, so sánh,phương pháp thống kê.
6. Đóng góp của khóa luận
- Góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực
Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn công tác vận động
Tiếp nối bản lĩnh của các nữ tướng, phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định
vai trò, vị trí cũng như khả năng của mình, chẳng hạn như: bà Bùi Thị Xuân thay
cha lãnh đạo nghĩa quân khi cha vừa tử trận, với gồm một đạo quân gần 5000
người, cùng với sự chỉ huy bản lĩnh của Bà, nghĩa quân đã làm cho quân địch
6
nhiều lần thất bại trong đó có trận Trấn Ninh đã đi vào sử sách ở thế kỷ XVIII.
Đến thế kỷ XIX, có một phụ nữ tên thật Yến Phi hay còn gọi là “bà Ba Cai
Vàng” đã chỉ huy cuộc nổi dậy của nông dân chống lại triều đại phong kiến nhà
Nguyễn, được nhân dân ta mãi truyền tụng cho đến ngày nay. Bên cạnh đó, phụ
nữ còn tham gia đảm nhiệm công việc tổ chức và quản lý xã hội, ví như: Nguyên
Phi Ỷ Lan từng thay vua Lê Thánh Tông trông coi việc triều đình để Vua yên
tâm khi đem quân đánh Chiêm Thành, đồng thời, gợi ý cho vua trong việc bảo vệ
trâu bò nhằm đảm bảo việc cày bừa của dân gian; Thái hậu Dương Vân Nga,
người đã thay chồng lãnh đạo việc nước, đưa đất nước vượt qua những khó khăn,
thử thách. Ngoài ra, phụ nữ cũng đạt được thành tựu to lớn trong lĩnh vực văn
học, nghệ thuật, ví như: bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân
Hương,… là những nữ sĩ nổi tiếng với những áng thơ đầy khí phách và hoài bão
lớn, đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Thể hiện sự phản kháng lại
những định kiến áp đặt lên vai người phụ nữ trong chế độ phong kiến, những lễ
giáo Khổng, Mạnh. Do hoàn cảnh lịch sử, ở thế kỷ X và XV, nước ta đã phải huy
động rất nhiều người tham gia vào quân đội. Do đó, người phụ nữ phải thay
chồng, thay con trực tiếp lao động sản xuất, nuôi dạy con nhỏ, chăm sóc cha mẹ
già và cung cấp lương thực, lương thảo cho quân đội. Việc điều động một lực
lượng lao động lớn là nam giới vào các công trình tập trung, đã làm cho phụ nữ
trở thành lực lượng lao động thiết yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam từ
ngàn xưa.
1.1.2. Trong lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh khảo sát thực tiễn nhiều cuộc cách mạng lớn trên thế giới, tìm
sự trọn vẹn của cuộc cách mạng. Người nói: “Các chị em phụ nữ, chẳng những
khôn khéo, hăng hái mà lại gan góc vô cùng” [13, tr.412], “Chị em rất hăng hái,
rất chịu khó và tổ chức rất khéo” [11, tr.412], cho nên, trong hai cuộc kháng
chiến trường kỳ, gian khổ, với chủ trương kháng chiến toàn dân, thành phần phụ
8
nữ là không thể thiếu. Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là
toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông đàn bà, người già con trẻ, ai cũng
tham gia kháng chiến” [18, tr.540]. Cả trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,
Người lại một lần nữa nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già,
người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc” [10, tr.534]. Bởi vì, phụ nữ
không chỉ giỏi trong lao động, sản xuất, trong công việc gia đình, nữ công gia
chánh “các chị em phụ nữ, họ tranh nhau giúp nấu cơm, gánh nước, giặt áo, vá
quần cho bộ đội, họ coi các chiến sĩ như anh em ruột” [19, tr.84]. Từ đó, Người
yêu cầu: “Ngày xưa, Bà Trưng, Bà Triệu, đã phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu
dân. Trong lịch sử của dân tộc ta nhất là những thời kỳ cách mạng và kháng
chiến, phụ nữ đã rất dũng cảm.
Hiện nay, phụ nữ đang góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam” [19, tr.523].Phụ
nữ đã luôn có mặt trong các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh, giành độc lập và
thống nhất tổ quốc. Họ tham gia với số lượng ngày càng đông, ý chí quyết tâm
ngày càng lớn, tinh thần giác ngộ ngày càng sâu sắc, với những hình thức hoạt
động rất đa dạng, gan dạ, khôn khéo và dũng cảm. Trong cuộc kháng chiến
chống Pháp đã có rất nhiều phụ nữ hòa cùng khí thế chống quân xâm lược của
dân tộc, chung sức, chung lòng, đứng lên chống thực dân Pháp. Ví như, trong
phong trào Duy Tân, có bà Đinh Phu Nhân, 10 năm liên tục tham gia hoạt động
dũng cảm, dù bị địch bắt và tù đày, tra khảo nhưng không khai nửa lời. Sau khi
có Đảng, có một giai đoạn lịch sử, Đảng ta phải hoạt động một cách bí mật,
Người nhận thấy, “Thời kỳ bí mật, nhiều chị em đã giác ngộ, tham gia hoạt động
nữa, đứng lên cùng toàn dân kiên cường kháng chiến chống Pháp. Họ bất chấp
gian lao nguy hiểm, bất kể không gian, thời gian, bảo vệ cán bộ cách mạng bằng
một sự lạc quan, tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Người ca ngợi:
“Trong các chiến dịch, phụ nữ đi dân công, tải lương thực, đạn dược, làm đường,
10
v.v... rất đông; 2/3 số dân công là phụ nữ. Mặc dầu bị máy bay địch theo dõi thả
bom dữ dội nhưng chị em vẫn vui vẻ ca hát, động viên nhau làm tròn nhiệm vụ”
[22, tr.510]. Trong các vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp âm mưu dùng người
Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, tình thế cách mạng rơi
vào cảnh khốn khó. Thế nhưng phụ nữ đấu tranh rất bền chí, chị em kiều bào ở
nước ngoài cũng ủng hộ kháng chiến trong nước về mọi mặt; phụ nữ trong nước
thì đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, gan dạ, luồn lách qua các đồn bốt, vượt
qua mạng lưới do thám của kẻ thù để chuyển thư từ, công văn một cách an toàn.
Nhiều chị kiên trì, móc liên lạc trong các thôn xóm để xây dựng cơ sở, gây dựng
phong trào, vận động những người lầm đường, lỡ bước theo giặc quay về với
cách mạng. Tích cực chăm sóc thương binh, bộ đội bằng tất cả tình yêu thương
và tấm lòng của mình, Người viết: “Phải chăng vì danh, vì lợi, vì địa vị mà họ
làm như vậy? Không phải. Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước. Đó là vì lòng chí
công vô tư mà chúng ta đều phải học tập theo” [23, tr.134]. Người nhiều lần gửi
thư tỏ lòng biết ơn đến các nữ anh hùng, đồng thời ghi nhận công lao của họ:
“Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ
quốc,…Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con
của các liệt sĩ mà trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta đang gánh một
phần quan trọng” [23, tr.339].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phụ nữ Việt Nam cũng đã
phát huy hết khả năng, tinh thần và sức mạnh của mình. Hồ Chí Minh rất tin
tưởng nên có lời kêu gọi: “Bác mong phụ nữ ta ra sức phát huy hơn nữa truyền
thống dũng cảm và đảm đang, cùng toàn quân, toàn dân ta bảo vệ độc lập tự do
Trước tình thế đó, phụ nữ miền Bắc hăng hái thi đua thực hiện phong trào “ba
đảm đang”, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện tối đa
cho chiến trường miền Nam với tinh thần “thóc không thiếu một hạt, quân không
thiếu một người”. Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần gửi thư khen ngợi phụ nữ
12
miền Bắc, Người nhấn mạnh: “Trong phong trào thanh niên xung phong chống
Mỹ, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất
và chiến đấu như thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi,
tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiểu đội 9, đại đội 814 đã bảo đảm
tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội dân quân gái ở Nam Ngạn đã góp phần bắn
được nhiều máy bay giặc Mỹ v.v…” [11, tr.174]. Hồ Chí Minh không chỉ đánh
giá cao vai trò của phụ nữ trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến, Người còn
đánh giá cao vai trò của các bà mẹ, đã che chở cho bộ đội, chịu đựng mất mát,
đau thương để khuyến khích con em mình đi chiến đấu, Người nói: “Các bà mẹ
chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu nước. Ngoài
ra còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu
của mình, như: bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xông pha bom đạn, không sợ sóng
to gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội cán bộ qua sông để chiến đấu.
Bà mẹ Cán, người Thái ở Sơn La có sáu con thì hai con đi bộ đội, bốn vào du
kích, bản thân bà mẹ cũng hăng hái vào bạch đầu quân. Bà mẹ Đích ở Thái Bình
đã cho cả bốn con trai và một con rể vào bộ đội. Bản thân mẹ vừa lo việc nhà
cho các con, vừa hăng hái giúp đỡ gia đình chiến sĩ. Bà Đích còn rất tự hào là cả
nhà có bốn con trai, hai con gái, một con rể đều vẻ vang được tham gia Đảng
Lao động Việt Nam” [24, tr.172, 173]. Hồ Chí Minh đi đến kết luận: “Trong thời
kỳ cách mạng hoạt động bí mật và trong những năm kháng chiến chống bọn thực
dân Pháp và lũ can thiệp Mỹ, phụ nữ ta đều có công lao to lớn” [22, tr.172]. Bởi,
“Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù.
Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc
1.2.1. Thực hiện phát huy vai trò của phụ nữ phải gắn liền với công tác
vận động phụ nữ
Theo Hồ Chí Minh, muốn phát huy vai trò của phụ nữ, trước hết phải đẩy
mạnh công tác vận động phụ nữ. Cụ thể:
14
* Về nội dung vận động phụ nữ
Thứ nhất, trên lĩnh vực chính trị: Theo Hồ Chí Minh để phụ nữ tiến bộ thì
trước tiên phải vận động và làm cho họ thực sự hiểu được quyền bình đẳng về
chính trị, nghĩa là phải bắt đầu từ việc trang bị cho phụ nữ công cụ lý luận, tổ
chức họ tự giác tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng chính mình, từ
người dân mất nước trở thành công dân của một nước tự do, độc lập, có chủ
quyền. Về lĩnh vực này, phải vận động và làm cho phụ nữ được tham gia vào các
hoạt động chính trị như quyền bầu cử, ứng cử, trở thành cán bộ lãnh đạo, tham
gia quản lý Nhà nước một cách bình đẳng như nam giới, có quyền tự do ngôn
luận, đi lại, cư trú và bình đẳng trước pháp luật.
Có thể nói, dưới sự quan tâm chỉ dạo của Hồ Chí Minh, phụ nữ đã được bình
đẳng với nam giới trong đời sống chính trị, hầu hết phụ nữ đến tuổi trưởng thành
đều được sinh hoạt chính trị: được bầu cử, ứng cử, được tham gia sinh hoạt ở các
đoàn thể, nhiều đại diện phụ nữ được tham gia quản lý trong bộ máy Nhà nước.
Thứ hai, trên lĩnh vực kinh tế: Hồ Chí Minh không phải là một nhà chuyên
nghiên cứu về kinh tế, hơn nữa trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình,
Người hầu như không có một bài nói, bài viết riêng về “Đời sống kinh tế của phụ
nữ Việt Nam”. Nhưng như thế không có nghĩa là Người không quan tâm tới vấn
đề này. Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã chứng kiến cảnh vất vả, đói nghèo của
quê hương, trong đó có người mẹ của mình suốt ngày này qua ngày khác phải gò
mình bên khung cửi để kiếm sống.
Không giải phóng sức lao động cho phụ nữ, không vận động để phụ nữ tiến
bộ về kinh tế thì đó là cuộc cách mạng “chưa đến nơi, chưa đến chốn”. Giải
Trong chiến dịch diệt giặc dốt, Người đặc biệt quan tâm tới phụ nữ, bởi lẽ
phụ nữ đã bị “kìm hãm quá lâu”, do vậy, “phụ nữ càng cần phải học, đã lâu chị
em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng
mình là một phần tử trong nước” [18, tr. 37], có kiến thức tham gia vào công
16
cuộc xây dựng nước nhà. Người cho rằng, chỉ có nâng cao trình độ cho phụ nữ
mới có thể giải thoát họ khỏi những trói buộc của chế độ cũ. Chính sự dốt nát đã
làm cho phụ nữ lâm vào bước đường cùng khổ, nó cũng là nguồn gốc sâu xa dẫn
tới sự kéo dài của những thiên kiến lạc hậu, hà khắc. Do người phụ nữ ít được
học hành, mặt khác bị công việc trói buộc cho nên đầu óc càng “u mê, đần độn”.
Không thể khác, chỉ có nâng cao trình độ văn hóa cho phụ nữ thì mới thực sự
giải phóng đươc cho họ.
Với mục đích như vậy, Hồ Chí Minh đã đề nghị và đưa vào Hiến pháp vấn
đề bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực văn hóa, vừa tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền
lợi cho phụ nữ, vừa ghi nhận vai trò mà phụ nữ đã cống hiến. Điều 6, Hiến pháp
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 1946 đã công nhận: “Tất cả công dân Việt
Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”. Trong
Hiến pháp 1959 một lần nữa khẳng định quyền bình đẳng về văn hóa của phụ nữ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để vận động phụ nữ tiến bộ về lĩnh vực này,
trước hết bản thân phụ nữ phải “gắng học tập chính trị, học tập văn hóa, kỹ
thuật” [20, tr. 89], góp phần xây dựng đất nước, nhanh chóng đuổi kịp “chị em
phụ nữ ở thế giới”. Vì vậy, Người luôn quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng
phụ nữ. Người vui mừng khi biết phụ nữ đã có mặt ở cả vị trí người dạy cũng
như người học: “Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm một
phần lớn trong số người dạy cũng như trong số người học” [20, tr. 432]. Người
kịp thời biểu dương những gương điển hình học giỏi của nữ giới, vừa động viên,
vừa khích lệ phụ nữ. Để nâng cao địa vị cho phụ nữ đòi hỏi “chúng ta phải có
phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa điạ vị của phụ nữ” [21, tr.
dựng hạnh phúc gia đình, góp phần để nam giới đề cao, tôn trọng phụ nữ. Do đó,
muốn đạt tới sự tiến bộ của phụ nữ phải bắt đầu giải phóng họ từ gia đình, gắn
liền với giải phóng họ ngoài xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ ngoài xã hội sẽ
18
tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào công tác xã hội, tiến tới
bình đẳng với nam giới trong nhiều lĩnh vực.
Như vậy, vấn đề vận động phụ nữ tiến tới bình đẳng trên mọi lĩnh vực và
trong gia đình đã được Hồ Chí Minh đánh giá: “Dưới chế độ Việt Nam dân chủ
cộng hòa, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt” [22, tr.132]. Sự nghiệp đổi
mới sẽ tiếp tục phát triển và làm sâu sắc thêm tư tưởng Hồ Chí Minh.
* Về phương pháp vận động phụ nữ
Phương pháp vận động phụ nữ có thể hiểu là tổng hợp những cách thức,
biện pháp, quy trình tổ chức, tập hợp mọi tầng lớp phụ nữ làm cách mạng có
hiệu quả cao nhất.
Theo Hồ Chí Minh: Trước hết, phải tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục cho
phụ nữ hiểu, khi họ hiểu rồi thì mới tin theo và quyết tâm thực hiện. Trong thời
gian Người còn bôn ba hoạt động ở nước ngoài, bằng nhiều cách khác nhau,
Người đã giải thích cho phụ nữ hiểu rằng: “những việc đó là vì lợi ích của họ mà
phải làm”. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ” cho nên mọi người
dân, mọi phụ nữ có quyền được thông tin, được biết, được giải thích, được bàn
bạc. Thông qua đó mà rút ra những kinh nghiệm quý báu, những bài học hay.
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị Liên hiệp phụ nữ toàn quốc về vấn đề phát
động quần chúng nông dân vào 3/3/1953, Người nói “Cán bộ phụ nữ đi vận
động, có cô vận động khéo, đến đâu dân làm gì mình làm nấy, thân thiết như
người nhà thì có thành tích. Cô nào không hòa lẫn được với nhân dân, vẫn giữ
thói quen thành phố thì vận động không thành công” [18, tr.57].
Một trong những phương pháp quan trọng của công việc vận động phụ nữ,
Người khẳng định: “Đảng và Chính phủ ta luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ
nữ” [22, tr.85].
Người chỉ đạo các cấp ủy Đảng phải quan tâm, bồi dưỡng “cất nhắc cán bộ
là nữ” để bồi dưỡng họ trở thành những người “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho
20