DANH MỤC
CHỮ VIẾT
BỘ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠOTẮT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
DN : Doanh nghiệp
ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
Giấy CNĐKDN : Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
TRẦN HUỲNH THANH NGHỊ
GPKD : Giấy phép kinh doanh
HĐND : Hội đồng nhân dân
MTKD : Môi trường kinh doanh
NĐT : Nhà đầu tưECD : Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế
PLDN : Pháp luật doanh nghiệp
QLNN : Quản lý nhà nước
TNHH : Tráchệm hữu hạc hành chính
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP TRONG
MỐI QUAN HỆ VỚI CẢI CÁCH
VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
THỦ
CHÍNH Ở VIỆT NAM
UBND
: ỦyTỤC
ban nhânHÀNH
dân
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
WB : Ngân hàng thế giới
WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cải cách TTHC là một trong số giải pháp cơ bản nhất để hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN ở
Việt Nam thời kỳ hội nhập. Tiến trình cải cách TTHC đó không thể tách rời với sự hoàn thiện PLDN,
vì quy định PLDN đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cải cách TTHC và tác
động đến doanh nghiệp từ quá trình thành lập cho đến tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp. Những
năm qua, thứ hạng MTKD của Việt Nam trên trường quốc tế thường bị đánh giá thấp trong các bảng
xếp hạng của WB, WEF, OECD. Điều đó phản ánh thực trạng pháp luật đầu tư, kinh doanh còn nhiều
vướng mắc, bất cập ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hoàn
cảnh đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa PLDN và cải cách TTHC là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc, phù hợp với yêu cầu đổi mới và hoàn thiện MTKD để đưa ra các giải pháp hoàn
thiện PLDN đóng góp tích cực vào cải cách TTHC ở Việt Nam và hoàn thiện Luật DN 2005 là đề tài
nóng bỏng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa PLDN và cải cách TTHC ở Việt Nam,
cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật
doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam” để làm Luận
án tiến sĩ luật học cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành
chính ở Việt Nam nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản sau :
Luận án chỉ nghiên cứu quy định PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể đối với
doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân,
không nghiên cứu thủ tục thành lập, tổ chức lại, giải thể đối với HTX và hộ kinh doanh.
4. Điểm mới của Luận án
Luận án nghiên cứu đề tài Pháp luật doanh nghiệp trong mối quan hệ với cải cách thủ tục hành
chính ở Việt Nam là sự kế thừa và bổ sung cho các công trình nghiên cứu trên với mục đích phục vụ
cho việc hoàn thiện MTKD và nâng cao hiệu quả cải cách TTHC ở Việt Nam. So với các công trình
nghiên cứu khoa học đã công bố trước đó, nội dung của Luận án có một số điểm mới cơ bản sau :
Thứ nhất, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên giải quyết các vấn đề lý luận cơ bản về mối
quan hệ giữa quy định PLDN với cải cách TTHC ở Việt Nam. Luận án phân tích các nguyên tắc của
quy định PLDN về TTHC, nội dung PLDN về TTHC, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của
PLDN về TTHC, nêu lên sự cần thiết để Việt Nam tiến hành cải cách TTHC đối với doanh nghiệp và
các mục tiêu đạt được từ cải cách TTHC đó. Đây là những nội dung quan trọng được Luận án nghiên
cứu và chưa được giải quyết ở nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước trước đó.
Thứ hai, Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diện những thành công và hạn
chế của PLDN về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ảnh hưởng đến cải cách
3
TTHC ở Việt Nam. Đây là vấn đề chưa được giải quyết ở nhiều công trình nghiên cứu khoa học đi
trước, nhất là sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO từ cuối năm 2006 đến nay.
Thứ ba, Luận án là công trình khoa học đầu tiên đánh giá thực trạng pháp luật đăng ký doanh
nghiệp Việt Nam sau 4 năm thực thi Nghị định 43/2010/NĐ-CP với những thành công và hạn chế
nhất định. Luận án nêu bật các vướng mắc pháp lý về đối tượng ĐKDN, tên doanh nghiệp, sự mâu
thuẫn giữa thủ tục ĐKDN và thủ tục đầu tư tại Luật Đầu tư 2005 đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả cải cách TTHC ở Việt Nam. Đây là những nội dung Luận án nghiên cứu mà chưa được đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu trước đó.
Thứ tư, Luận án nghiên cứu pháp luật về giấy phép kinh doanh ảnh hưởng đến việc thành lập,
hoạt động của doanh nghiệp, cải cách TTHC ở Việt Nam. Từ đó, nêu lên giải pháp hoàn thiện pháp
luật về giấy phép kinh doanh nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với
các quy định pháp luật về TTHC đối với doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến môi trường đầu tư, kinh
doanh, đến hiệu quả của chính sách thu hút đầu tư của một quốc gia, cải cách TTHC và quyền tự do
kinh doanh của doanh nghiệp. Các chương trình cải cách TTHC đối với doanh nghiệp dù có khác
nhau về cách thức tiến hành nhưng đều hướng đến đảm bảo cho việc thành lập và hoạt động của
doanh nghiệp ngày càng thuận lợi và ít tốn kém hơn
- Hầu hết công trình nghiên cứu đều xác định các quy định pháp luật về TTHC đối với doanh
nghiệp luôn có mặt tích cực và hạn chế tác động đến MTKD, quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, việc đưa ra các giải pháp để hoàn thiện MTKD, hoạt động QLNN đảm bảo quyền
tự do kinh doanh của doanh nghiệp ở mỗi công trình nghiên cứu đều có cách nhìn nhận khác nhau,
chưa thống nhất phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế cụ thể của từng quốc gia và góc nhìn của
các tác giả cũng có sự khác biệt khá lớn.
- Việc hoàn thiện quy định pháp luật về TTHC đối với doanh nghiệp được các tác giả nêu ra
theo hai xu hướng : Dưới góc độ QLNN, hoàn thiện quy định về TTHC nhằm đảm bảo tăng cường
hiệu lực, hiệu quả QLNN và chức năng điều tiết của nhà nước đối với doanh nghiệp. Đặc biệt, sau sự
kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu, người ta lại cần sự can thiệp mạnh mẽ hơn của nhà nước để hạn
chế các khuyết tật thị trường phát sinh từ hoạt động của doanh nghiệp. Dưới góc độ bảo vệ quyền lợi
của doanh nghiệp, các tác giả đề xuất hoàn thiện quy định về TTHC nhằm đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của doanh nghiệp theo nguyên tắc “được kinh doanh trong các ngành nghề mà pháp luật không
cấm”. Cần tiếp tục rà soát, loại bỏ các GPKD và điều kiện kinh doanh không còn phù hợp, đơn giản
hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong thực hiện TTHC là
nội dung được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu. Thế nhưng, các giải pháp để hoàn thiện
quy định PLDN về TTHC chưa được hệ thống hóa đầy đủ và còn mang tính chung chung.
5
- Các công trình nghiên cứu về cải cách TTHC ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu quy định
pháp luật về TTHC trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa đi sâu nghiên cứu quy định PLDN về
TTHC đối với doanh nghiệp. Hơn nữa, thời gian nghiên cứu khá lâu không còn phù hợp với bối cảnh
tình hình thực tế hiện nay. Đặc biệt, từ giữa năm 2010, sự ra đời của Nghị định 43/2010/NĐ-CP,
Nghị định 102/2010/NĐ-CP và các nghị quyết của Chính phủ về phê duyệt phương án đơn giản hóa
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật doanh nghiệp
Hiểu theo nghĩa rộng, PLDN bao gồm tất cả QPPL được quy định trong các văn bản QPPL do
nhà nước ban hành điều chỉnh doanh nghiệp. Hiểu theo nghĩa này, PLDN có nội hàm rất rộng, bao
gồm các QPPL được quy định tại Luật DN, văn bản dưới luật thi hành Luật DN và tại các văn bản
QPPL khác như Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Kiểm toán độc lập,
Luật Luật sư, Luật Khám chữa bệnh, Luật Xuất bản.... quy định việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt
động của doanh nghiệp, được gọi chung là PLDN. Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp, PLDN chỉ bao
gồm các QPPL được quy định tại Luật DN và văn bản dưới luật thi hành Luật DN điều chỉnh việc
thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Từ định nghĩa PLDN nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của PLDN như sau :
Thứ nhất, PLDN là một bộ phận cấu thành của pháp luật kinh tế, là một chế định pháp luật quan
trọng của ngành luật kinh tế, do đó mức độ hoàn thiện của PLDN có ảnh hưởng đến mức độ hoàn
thiện của hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
Thứ hai, nội dung PLDN có chứa đựng các QPPL quy định về TTHC đối doanh nghiệp, đó là
thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước với
doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh của họ trong khuôn khổ luật định.
Thứ ba, PLDN chỉ hình thành và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường khi có sự thừa
nhận của nhà nước về quyền tự do kinh doanh cho nhà đầu tư. Vì vậy, PLDN phản ánh chính sách đổi
mới kinh tế và hội nhập quốc tế của nhà nước Việt Nam. PLDN là một đảm bảo pháp lý quan trọng
cho nhà đầu tư thực hiện quyền tự do thành lập doanh nghiệp, tự do kinh doanh ở Việt Nam.
Thứ tư, PLDN có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật chuyên ngành, pháp luật đầu tư.
Thứ năm, PLDN là một thành tố của thượng tầng kiến trúc nên chịu sự chi phối quyết định của
kinh tế. Khi các điều kiện kinh tế thay đổi thì đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện PLDN về thành lập, tổ
chức quản trị và hoạt động đối với doanh nghiệp cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế đó.
Thứ sáu, nguồn của PLDN bao gồm các QPPL được quy định tại Luật DN và các văn bản dưới
luật thi hành Luật DN.
7
2.1.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam
định áp dụng cho doanh nghiệp khi thành lập, tổ chức lại và giải thể, bao gồm các bộ phận sau:
- Tên TTHC
- Đối tượng áp dụng của TTHC
8
- Trình tự thực hiện
- Cách thức thực hiện
- Hồ sơ
- Thời hạn giải quyết TTHC
- Kết quả thực hiện TTHC
- Cơ quan thực hiện TTHC
2.3. Quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành chính
PLDN về TTHC được phân thành 3 nhóm cơ bản sau :
2.3.1 Quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục thành lập doanh nghiệp, bao gồm :
- Các quy định PLDN về chủ thể thành lập doanh nghiệp
- Các quy định PLDN về nguyên tắc áp dụng giải quyết thủ tục ĐKDN mà cơ quan ĐKKD phải
tuân thủ trong quá trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ ĐKDN
- Các quy định PLDN về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
- Các quy định PLDN về điều kiện đặt tên doanh nghiệp
- Các quy định PLDN về trình tự, thủ tục ĐKDN
- Các quy định PLDN về thời hạn cấp ĐKDN, điều kiện cấp ĐKDN, quy định về công khai hóa
nội dung ĐKDN, quyền khiếu nại của NĐT trong quá trình ĐKDN
- Các quy định PLDN về quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan ĐKKD trong quá trình giải quyết
cấp ĐKDN, mối quan hệ giữa cơ quan ĐKKD với các cơ quan QLNN khác trong việc phối hợp cấp
ĐKDN cho NĐT và trách nhiệm quản lý doanh nghiệp sau khi cấp ĐKDN.
- Các quy định PLDN về quyền và nghĩa vụ của NĐT khi thực hiện thủ tục ĐKDN.
2.3.2 Quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp, bao gồm :
- Các quy định PLDN về ĐKDN đối với doanh nghiệp chuyển đổi, doanh nghiệp nhận sáp
nhập, doanh nghiệp mới được thành lập sau quá trình chia, tách, hợp nhất doanh nghiệp.
2.4.2. Các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của quy định pháp luật doanh nghiệp về
thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của PLDN về TTHC phải dựa trên 4 tiêu chí sau :
- Tính tính phù hợp
- Tính hợp lý
- Tính hợp pháp
- Tính minh bạch
2.5. Mối quan hệ giữa quy định pháp luật doanh nghiệp về thủ tục hành chính và cải cách
thủ tục hành chính ở Việt Nam
PLDN về TTHC tác động đến cải cách TTHC ở Việt Nam ở những nội dung sau :
- Thứ nhất, PLDN về TTHC đóng vai trò ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả cải cách TTHC ở
Việt Nam. Có thể nói, cải cách TTHC trong lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào sự hoàn thiện của PLDN
về thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp và thực tiễn thi hành PLDN đó trên thực tế.
- Thứ hai, về mặt kinh tế, sự thay đổi tích cực của PLDN về TTHC sẽ đem lại cho cải cách
TTHC ở Việt Nam nhiều lợi ích kinh tế, góp phần giảm chi phí tài chính không cần thiết cho doanh
nghiệp, kích thích NĐT gia nhập thị trường, hoạt động kinh doanh thuận lợi hơn, đáp ứng được mục
tiêu về lợi ích kinh tế của chương trình cải cách TTHC đã đặt ra.
10
- Thứ ba, về mặt xã hội, PLDN về TTHC đem lại những giá trị xã hội lớn cho cải cách
TTHC ở Việt Nam. PLDN về TTHC thông thoáng, phù hợp sẽ được sự hưởng ứng, đánh giá cao của
doanh nghiệp, góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội và doanh nghiệp trong việc tuân thủ
pháp luật, tạo hiệu ứng tích cực cho cải cách TTHC trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
- Thứ tư, về mặt chính trị, việc đổi mới và hoàn thiện PLDN về TTHC góp phần khẳng định vị
thế lãnh đạo của Đảng, uy tín của nhà nước đối với các chương trình cải cách TTHC ở Việt Nam,
chứng minh chủ trương của Đảng và chính sách cải cách TTHC của nhà nước Việt Nam là hoàn toàn
đúng đắn. Kết quả đó thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng
cao niềm tin của doanh nghiệp vào sự lãnh đạo của Đảng trong việc đề ra chủ trương hoàn thiện
PLDN đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC.
11
người dân và doanh nghiệp vì lý do yếu kém về năng lực và trình độ quản lý của các cơ quan
QLNN liên quan; khắc phục tình trạng ban hành quy định mới không bảo đảm tính khả thi, không
thực hiện được hoặc thực hiện không hiệu quả, gây tổn hại đến lợi ích của nhân dân và doanh nghiệp.
2.6.2. Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp nhằm thực hiện các cam kết quốc tế
Việt Nam đã ký kết hoặc phê chuẩn trong quá trình hội nhập.
Để thực thi các cam kết WTO, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
71/2006/NQ-QH phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập WTO của Việt Nam. Trong
đó, nhấn mạnh việc áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam với WTO trên lãnh thổ Việt Nam,
ngay cả trong trường hợp pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy tắc của WTO. Đồng thời giao
cho Chính phủ rà soát các văn bản QPPL trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới các văn bản QPPL thuộc thẩm quyền phù hợp với cam kết của Việt Nam với
WTO.4 Gia nhập WTO có tác động đẩy nhanh cải cách chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
hoàn thiện cơ chế thị trường, cải cách hành chính và cải cách doanh nghiệp trong nước.5 Ngoài ra, gia
nhập WTO còn tạo thuận lợi cho việc đổi mới chính sách và hệ thống pháp luật ở Việt Nam, giúp
Việt Nam rà soát đánh giá lại hệ thống pháp luật và TTHC đối với doanh nghiệp, đảm bảo phù hợp
với hệ thống pháp luật và TTHC chung của toàn cầu.
2.6.3. Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp để khắc phục những tồn tại, hạn chế
của môi trường kinh doanh, giúp tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm 2012, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam chỉ đứng hạng 75/144 quốc gia
được khảo sát, tụt đến 10 hạng so với năm 2011. Năm 2013, MTKD của Việt Nam xếp hạng 99/185
nền kinh tế, tụt 1 bậc so với năm 2012, đó là thứ hạng thấp nhất trong vòng 6 năm qua của Việt Nam
trên trường quốc tế. Thực trạng đó đòi hỏi Việt Nam sớm tìm ra giải pháp cải thiện MTKD, với ưu
tiên hàng đầu đẩy mạnh các chương trình cải cách TTHC đối với doanh nghiệp, đảm bảo cho MTKD
không bị tụt hậu và có thể cạnh tranh với các nền kinh tế khác trong thu hút đầu tư.
2.6.4. Cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp góp phần đấu tranh phòng chống tham
nhũng, giảm chi phí tốn kém không cần thiết cho doanh nghiệp.
Theo cuộc điều tra năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2013 của VCCI, có đến 41% trong tổng số
Ba là, đem lại một môi trường kinh doanh thuận lợi và ít tốn kém hơn cho doanh nghiệp ở 3 cấp
độ : tiết kiệm được thời gian tuân thủ TTHC cho doanh nghiệp, tiết kiệm được công sức doanh
nghiệp phải bỏ ra để làm TTHC và tiết kiệm được chi phí tài chính tuân thủ TTHC của doanh nghiệp.
7
Trong bài viết “Nâng cao trách nhiệm và đạo đức trong khu vực công” Tác giả Jeremy Pope đã đưa ra 4 loại chiến lược
để giảm tham nhũng, trong đó chiến lược thứ hai là phải hướng vào việc cải tổ thủ tục của Chính phủ để nâng cao tính
minh bạch và giảm yếu tố kích thích tham nhũng. Còn chiến lược thứ ba là nhằm vào các chương trình chính phủ có thể
dẫn tới tham nhũng do do được thiết kế kém hoặc không cần thiết. Những quy định quản lí có thể phải được xem xét lại
để xác định xem chúng có cần thiết không và chúng có thể được thực hiện suông sẻ không (Xem : Rick Stapenhurst và
Sahr.Kpundeh : “Kiềm chế tham nhũng - Hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc gia”, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, 2002, trang 140 và 141)
13
CHƯƠNG 3
ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ THỦ TỤC THÀNH LẬP, TỔ
CHỨC LẠI VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. Đánh giá pháp luật doanh nghiệp về thủ tục thành lập doanh nghiệp
3.1.1. Những kết quả đạt được.
- Thứ nhất, PLDN hợp nhất thủ tục ĐKKD và đăng ký thuế thành ĐKDN.
Trước ngày 01/06/2010, Việt Nam duy trì hai thủ tục độc lập là ĐKKD và đăng ký thuế, mất
của NĐT từ 50 - 60 ngày, tốn từ 3 - 5 triệu đồng.8 Tuy nhiên, từ ngày 01/06/2010, thực thi Nghị định
43/2010/NĐ-CP, NĐT chỉ làm một thủ tục cấp giấy chứng nhận ĐKDN - trong đó thống nhất mã số
doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế và mã số ĐKKD. Ngoài ra, Nghị định 43/2010/NĐ-CP còn rút
ngắn và thống nhất thời hạn ĐKDN, thay đổi ĐKDN, tổ chức lại doanh nghiệp, thành lập chi nhánh,
văn phòng đại diện của doanh nghiệp xuống còn 05 ngày làm việc, so với trước đây là 10 ngày cấp
14
Bên cạnh đó, Nghị định 43/2010/NĐ-CP đã xây dựng quy trình thành lập doanh nghiệp tại
một đầu mối là Hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia với hai thành tố hợp thành là Cổng thông tin
ĐKDN quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN.13 Dữ liệu tại Hệ thống thông tin ĐKDN quốc
gia là thông tin chung để cơ quan thuế và các cơ quan ĐKKD cả nước chia sẻ trong quản lý doanh
nghiệp, qua đó giúp nhà nước triển khai các dịch vụ khác về sau như dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm thông
tin doanh nghiệp, tăng cường vai trò giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp.
- PLDN quy định công khai ĐKDN tại một đầu mối, giảm tốn kém cho doanh nghiệp
Từ ngày 25/02/2013, theo quy định tại Khoản 1 Điều 8c Nghị định 05/2013/NĐ-CP, doanh
nghiệp chỉ đăng nội dung ĐKDN trên Cổng thông tin ĐKDN quốc gia, qua đó giúp nhà nước kiểm
soát được số lượng doanh nghiệp thành lập mới trên lãnh thổ Việt Nam tại một đầu mối, khắc phục
tình trạng công khai ĐKDN ở nhiều báo viết, báo điện tử phân tán, khó kiểm soát như trước đây. Mặt
khác, quy định công khai ĐKDN trên Cổng thông tin ĐKDN quốc gia còn giúp doanh nghiệp giảm
chi phí so với đăng báo giấy hoặc báo điện tử, theo đó, doanh nghiệp chỉ tốn 300.000 đồng, nếu so
với đăng báo điện tử hoặc báo viết tốn khoảng 1 triệu đồng.
- PLDN thu hẹp thẩm quyền quy định về GPKD và bãi bỏ GPKD không cần thiết gây trở ngại
cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp
Trong quy định về GPKD, PLDN có hai cải cách quan trọng :
Một là, đã giới hạn thẩm quyền quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD. Điều 7 Luật DN
2005 và Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều
kiện kinh doanh áp dụng theo các quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc
quyết định có liên quan của Thủ tướng Chính phủ. Các quy định về loại ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện và điều kiện kinh doanh đối với ngành nghề đó tại các văn bản QPPL khác đều không có
hiệu lực thi hành. Việc giới hạn thẩm quyền quy định về điều kiện kinh doanh và GPKD nêu trên sẽ
giúp nhà nước kiểm soát từ đầu việc hình thành GPKD, giảm đầu mối đặt ra điều kiện cấp phép kinh
doanh, giảm cơ chế xin – cho trong công tác cấp phép, tiết kiệm cho doanh nghiệp chi phí thành lập
và hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả QLNN, hạn chế tư tưởng cục bộ ngành, địa phương gây
phương hại đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo của WB về MTKD toàn cầu năm 2014 đã chỉ ra thực tế thành lập doanh nghiệp ở Việt
Nam NĐT phải trải qua 10 thủ tục, mất 34 ngày, tốn 2,3 triệu đồng. Trong khi ở Thái Lan, NĐT chỉ
trải qua 4 thủ tục, mất 27.5 ngày để thành lập 1 DN. Ở Malaysia, chỉ trải qua 3 thủ tục, mất 6 ngày để
thành lập 1 doanh nghiệp thì số lượng thủ tục ở Việt Nam là nhiều hơn.
15
Các thủ tục khắc dấu, cấp
phép kinh doanh, đăng ký số lao động ...vẫn còn phức tạp. Ví dụ, sau khi ĐKDN, NĐT phải trực tiếp
liên hệ cơ quan công an để làm thủ tục khắc dấu doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định
58/2001/NĐ-CP và Nghị định 31/2009/NĐ-CP. Sự thiếu kết nối giữa thủ tục ĐKDN và thủ tục khắc
dấu đã làm giảm hiệu quả thực thi Nghị định 43/2010/NĐ-CP trên thực tế.
- Thứ ba, sự bất nhất trong quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp giữa PLDN và pháp luật
đầu tư
Theo Luật Đầu tư 2005, NĐT nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và
làm thủ tục đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận ĐKDN.16 Lẽ ra
Luật Đầu tư 2005 chỉ cần điều chỉnh việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, thực tế lại điều chỉnh cả việc
cấp giấy chứng nhận ĐKDN cho doanh nghiệp, dẫn đến sự chồng chéo chức năng giữa cơ quan
ĐKKD và cơ quan quản lý đầu tư, làm phát sinh nhiều vướng mắc về thủ tục bổ sung, sửa đổi nội
dung ĐKDN trong giấy chứng nhận đầu tư như tên gọi, địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp
luật,…..gây rối cho cả cơ quan QLNN lẫn NĐT.
15
16
Nguồn : www.doingbusiness.org/data/exploreeconomies/vietnam#starting-a-business, 2014
Xem : Khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư 2005
16
Nguồn : có thể truy cập tại www.vneconomy.vn, thứ ba, ngày 25/09/2007
19
Xem : Nguyễn Thị Doan : “Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay” Bài viết đăng trong Kỷ
yếu hội thảo khoa học “Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam : Lý luận và Thực tiễn” do GS.TS Lê Hữu Nghĩa
và TS. Đinh Văn Ân (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004, trang 595
20
Xem : Tờ trình của Chính phủ về Dự thảo Luật Kiểm toán độc lập, 04/2010, Mục A.I
21
Xem : Điều 23 Luật Kiểm toán độc lập 2011, có hiệu lực thực thi từ ngày 01-01-2012
22
Xem : Anthony Ogus và Qing Zhang : “Licensing regimes East and West”, International Review of Law and
Economics, số 25, 2005, trang 139.
23
Xem : Điều 4 và Điều 12 Nghị định 109/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 04/11/2010, có hiệu lực từ ngày 01
tháng 01 năm 2011
24
Xem : Báo Thanh niên số 222 (5709), thứ tư ngày 10/08/2011, trang 4
25
Xem : W.D.White : “Dynamic elements of regulation : The case of occupational licensure”, Research in Law and
Economics, số 1, 1979, trang 15
17
Ba là, sự thiếu rõ ràng trong quy định về điều kiện kinh doanh.
Khoản 2 Điều 8 Nghị định 102/2010/NĐ-CP liệt kê 7 hình thức của các điều kiện kinh doanh,
trong đó hình thức thứ 6 và thứ 7 lại được quy định có tính đa nghĩa : “Chấp thuận khác của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền”26 và “Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới
được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức
nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.27 Quy định trên quá mập mờ vì không xác định cụ thể
chấp thuận khác ở đây là gì và cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nào ? Ngoài ra, Khoản 4 Điều 24 và
27
18
TNHH một thành viên quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP và hợp đồng chuyển nhượng
phần vốn góp của công ty cũng được loại bỏ, giúp thủ tục chuyển đổi nhanh chóng hơn.
- Đối với thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH : Nghị quyết
70/2010/NQ-CP đã loại bỏ các loại giấy tờ sau ra khỏi thành phần hồ sơ chuyển đổi mà nếu áp dụng
theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Nghị định 102/2010/NĐ-CP buộc doanh nghiệp phải có : (1)
Danh sách chủ nợ và số nợ chưa thanh toán, danh sách người lao động hiện có; danh sách các hợp
đồng chưa thanh lý. (2) Văn bản thỏa thuận với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty
TNHH chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó. (3) Văn bản cam kết của chủ doanh
nghiệp tư nhân hoặc thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành viên góp vốn khác về
việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp. 29
3.2.2. Những hạn chế của pháp luật doanh nghiệp về thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp.
Một là, việc quy định các công ty cùng loại mới được sáp nhập, hợp nhất là chưa phù hợp với
thực tế Việt Nam, thể hiện sự can thiệp vào quyền tự chủ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và
không phù hợp với nguyên tắc tự do kinh doanh của kinh tế thị trường. Ở Trung Quốc, họ cho phép
các công ty được sáp nhập với nhau, không nhất thiết phải công ty cùng loại như ở Việt Nam.30 Hơn
nữa, việc thiếu sự giải thích thuật ngữ “cùng loại” là cùng loại hình công ty hay cùng ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh cũng gây trở ngại không nhỏ cho việc tái cấu trúc doanh nghiệp ở Việt Nam.
Hai là, Nghị định 43/2010/NĐ-CP và Nghị định 102/2010/NĐ-CP không cho phép doanh
nghiệp tư nhân chuyển thành công ty cổ phần và công ty hợp danh hoặc chuyển từ công ty TNHH
thành doanh nghiệp tư nhân, loại bỏ công ty hợp danh ra khỏi đối tượng áp dụng của thủ tục chuyển
đổi doanh nghiệp là không phù hợp với thực tế kinh tế thị trường ở Việt Nam, làm tăng thêm gánh
nặng TTHC cho doanh nghiệp. Hiện nay, theo quy định tại Thông tư 11/2011/TT-BTP do Bộ Tư
pháp ban hành ngày 27/06/2011, Bộ Tư pháp khuyến khích các văn phòng công chứng tư dưới hình
thức doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi sang hình thức văn phòng công chứng dưới hình thức công ty
hợp danh. Song, để thay đổi loại hình các văn phòng công chứng, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục
giải thể, sau đó tiến hành thủ tục thành lập mới, gây khó khăn, tốn kém, phát sinh thêm các TTHC,
chủ nợ và đối tác, nhà nước không can thiệp vào việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Trách nhiệm
của cơ quan ĐKKD chỉ làm thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ giải thể theo quy định tại Luật DN
2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP, sau đó ra quyết định xóa tên doanh nghiệp trong sổ ĐKDN.
3.3.2 Những hạn chế của PLDN về thủ tục giải thể doanh nghiệp
Hiện nay, thủ tục giải thể doanh nghiệp gặp một số vướng mắc, bất cập sau :
Chưa quy định thời hạn để cơ quan thuế xác nhận quyết toán thuế
Luật DN 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP chưa quy định cụ thể thời hạn để cơ quan thuế
xác nhận quyết toán thuế cho doanh nghiệp. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã thông qua quyết định giải
thể, gửi thông báo quyết định giải thể đến cơ quan ĐKKD, nhưng khi nộp hồ sơ quyết toán thuế đến
cơ quan thuế bị bị ách tắc kéo dải ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp.
Thủ tục giải thể chưa được hiện đại hóa
Luật DN 2005 và Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định doanh nghiệp giải thể nộp hồ sơ giấy tại
cơ quan ĐKKD và phải trực tiếp liên hệ với các cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội, công an để giải quyết
thủ tục quyết toán thuế, bảo hiểm xã hội và thủ tục hủy con dấu doanh nghiệp. Các công đoạn trên
đến nay vẫn chưa được tin học hóa gắn kết cơ quan ĐKKD với cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội và cơ
quan công an, gây mất nhiều thời gian và công sức cho doanh nghiệp, không phù hợp với yêu cầu cải
cách TTHC.
20
CHƯƠNG 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP
VỀ THỦ TỤC THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI VÀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ HỘI NHẬP
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
4.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hình thành giải pháp hoàn thiện pháp luật doanh
nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam.
Những hạn chế của PLDN về TTHC đã ảnh hưởng tiêu cực đến cải cách TTHC ở Việt Nam. Để
21
4.1.3 Phải dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm xây dựng pháp luật
doanh nghiệp về thủ tục hành chính.
Hoàn thiện PLDN phải tiếp thu những bài học kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu khoa học đi
trước đã đúc kết trong các công trình nghiên cứu. Các sai lầm, những tồn tại, hạn chế của PLDN thể
hiện trong các quy định TTHC không phù hợp, không đồng bộ đối với doanh nghiệp cần phải được
loại trừ. Ngược lại, các giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với thực tại kinh tế Việt Nam, đảm bảo
tính thống nhất của PLDN về TTHC cần được tiếp thu nghiêm túc để hình thành các đề xuất, giải
pháp khoa học hoàn thiện PLDN trong thời gian tới.
4.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành
chính và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
Việc hoàn thiện PLDN nhằm phục vụ thiết thực cho cải cách TTHC và hội nhập quốc tế ở Việt
Nam phải hướng tới các đảm bảo sau :
4.2.1 Đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân và doanh nghiệp
PLDN phải tiếp tục được đổi mới ở các quy định về TTHC theo hướng tích cực để góp phần
thúc đẩy hoạt động đầu tư, đảm bảo và mở rộng quyền tự do kinh doanh của công dân.34 Để thực hiện
được nhiệm vụ trên, việc hoàn thiện PLDN phải chú ý đến những vấn đề cơ bản sau :
- Một là, PLDN phải tạo hành lang pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế trong quá trình thực thi TTHC.
- Hai là, PLDN phải thu hẹp phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhất là những ngành
nghề kinh doanh phải có GPKD.
- Ba là, PLDN phải mở rộng chủ thể được thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp.
4.2.2 Đảm bảo yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
Yêu cầu đặt ra cho hoàn thiện PLDN không chỉ vì mục tiêu bảo vệ lợi ích doanh nghiệp, mà
phải gắn kết với cải cách nền hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực QLNN. Cải cách TTHC không
phải là sửa đổi được bao nhiêu quy định mà cốt lõi là những sửa đổi này phải đi vào cuộc sống, giảm
thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và lấy hiệu quả QLNN làm thước đo cho kết
quả cải cách.35
4.2.3. Đảm bảo yêu cầu thực hiện cam kết quốc tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam thời kỳ hội nhập
trong nền kinh tế
Theo đó, tất cả doanh nghiệp trong các lĩnh vực chuyên ngành đều phải trải qua thủ tục ĐKDN
tại cơ quan ĐKKD, sau đó mới xin cấp phép kinh doanh tại cơ quan QLNN chuyên ngành. Như vậy,
các luật chuyên ngành phải theo hướng quy định về hoạt động, còn việc thành lập và quản lý của
doanh nghiệp sẽ theo Luật DN 2005. Để thực hiện được nội dung trên, nhà nước cần sửa đổi Điều 3
Luật DN 2005 theo hướng :
“1. Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế áp dụng theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp đặc thù liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp được quy định tại Luật khác
thì áp dụng theo quy định của Luật đó”.
- Thứ ba, bỏ thủ tục khắc dấu (đăng ký mẫu dấu) doanh nghiệp, nhà nước nên giao việc khắc
dấu cho doanh nghiệp tự thực hiện và chịu trách nhiệm bảo quản con dấu. Như vậy, vừa đảm bảo
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp vừa tăng cường hiệu lực QLNN, thúc đẩy cải cách TTHC ở
Việt Nam và phù hợp với xu thế chung của thế giới.
- Thứ tư, bỏ đăng ký ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp khi thành lập nhằm đảm bảo
sự phù hợp với Điều 33 Hiến pháp 2013 : “Mọi người đều có quyền tự do kinh doanh trong những
23
ngành nghề mà pháp luật không cấm”, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, khắc phục các hạn chế
của quy định buộc doanh nghiệp phải đăng ký ngành nghề kinh doanh thời gian qua và phù hợp với
xu thế chung của thế giới trong quy định về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ năm, tôn trọng quyền khiếu nại của NĐT.
Nhà nước cần sửa đổi Khoản 3 Điều 16 Nghị định 43/2010/NĐ-CP theo hướng cho phép NĐT
có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật khi tên DN đăng ký bị cơ quan từ chối thay cho quy
định hiện hành quyết định của cơ quan ĐKKD là quyết định cuối cùng nhằm đảm bảo sự tôn trọng
quyền tự do kinh doanh của NĐT, phù hợp với Luật Khiếu nại 2011 và hạn chế sự tùy tiện của cơ
quan công quyền trong quá trình giải quyết ĐKDN.
- Thứ sáu, hoàn thiện pháp luật về tên doanh nghiệp.
Nhà nước sớm ban hành thông tư giải thích thuật ngữ “tên DN vi phạm truyền thống lịch sử,