VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HUẾ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN
TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN VĂN ĐỊNH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý các dự án tại Đại học
Quốc gia Hà Nội” là nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,
đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần
tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác
giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có chú thích nguồn gốc và được phép công bố.
Ban Quản lý các dự án
CP:
Chính phủ
ĐHQGHN:
Đại học Quốc Gia Hà Nội
ĐVSD:
Đơn vị sử dụng
HC-TH:
Hành chính tổng hợp
HSMT:
Hồ sơ mời thầu
KH:
Kế hoạch
KHCN:
Khoa học công nghệ
Tư vấn giám sát
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1: Các bước trong từng giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư
10
Bảng 1.2: Các nội dung chủ yếu trong quản lý dự án
20
Bảng 2.1: Một số dự án do Ban Quản lý các dự án làm chủ đầu tư và
40
trực tiếp quản lý (2010-2015)
Bảng 2.2: Một số dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng (2012-2015)
49
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu vốn thực hiện (2012-2015)
51
các dự án, sau một thời gian công tác tại Ban Quản lý các dự án, ĐHQGHN tôi
quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý các dự án tại
Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý dự án từ khi ra đời đến nay đã trải qua một thời kỳ phát triển và đã
đạt được những thành công nhất định. Theo Gill Le Beauet Piere Menard viết tại
“Conception de Project” [35] quá trình tiến triển của công tác quản lý dự án được
chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn xuất hiện (1900 – 1960): Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự
xuất hiện của 3 kỹ thuật nhằm quản lý tốt hơn “thời gian” của dự án (biểu đồ
GANT; phương pháp CPM; sơ đồ mạng PERT).
- Giai đoạn tăng nhanh ( 1960 – 1980): Giai đoạn này sự ra đời quản lý dự án
như một ngành nghề riêng và việc sáng lập ra Học viện quản lý dự án ở Mỹ đã đóng
góp rất nhiều cho lĩnh vực này.
- Giai đoạn truyền bá (1980 – 1990): Là giai đoạn mà quản lý dự án được
truyền bá nhanh chóng trong các lĩnh vực như xây dựng, hàng không, kỹ thuật vũ
khí, .... giai đoạn này quản lý dự án được nhắc đến rất nhiều. Quản lý dự án được
xác định là một phương pháp quản lý hiệu quả để sử dụng trong quản lý các dự án.
- Giai đoạn phổ cập toàn cầu (từ 1990 đến nay): Giai đoạn này là giai đoạn
của kinh tế toàn cầu, cạnh tranh quốc tế, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ...
đã đưa quản lý dự án trở thành một khoa học quản lý, một mô hình quản lý phát
triển rộng khắp trên thế giới.
Ở nước ta từ những năm 1986 khi thực hiện chính sách kinh tế mở của Đảng
và Nhà nước đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quốc tế vào nước ta và việc quản
lý dự án theo chuẩn quốc tế cũng được du nhập và xuất hiện ở Việt nam. Một số tác
giả đã nghiên cứu tài liệu nước ngoài kết hợp với thực tiễn của Việt Nam để viết
công tác quản lý dự án thực hiện tốt nhất các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý
dự án như quản lý dự án đạt chất lượng tốt nhất, chi phí thấp nhất và thời gian thực
hiện ngắn nhất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
* Mục đích chung: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý dự án và nâng
cao hiệu quả quản lý dự án. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các dự án
đầu tư công nói chung và các dự án đầu tư tại ĐHQGHN nói riêng.
3
* Mục đích cụ thể:
- Như tên đề tài đã lựa chọn, mục đích nghiên cứu chính của đề tài là tìm ra
các giải pháp hữu hiệu và khả thi nhất để nâng cao chất lượng QLDA tại
ĐHQGHN.
- Xuất phát từ mục đích nghiên cứu đã được đặt ra, hướng nghiên cứu của đề
tài đưa ra là tiếp cận và giải quyết đề tài theo hướng truyền thống:
+ Đưa ra những lý luận cơ bản về dự án, quản lý dự án đầu tư và chất lượng
quản lý dự án.
+ Phân tích thực trạng chất lượng QLDA tại ĐHQGHN, chỉ ra những kết
quả/thành tựu đạt được và những hạn chế yếu kém còn tồn tại cần khắc phục,
nguyên nhân chủ yếu của những thành công và đặc biệt là những nguyên nhân yếu
kém trong quản lý dự án làm giảm chất lượng QLDA tại ĐHQGHN.
+ Nghiên cứu đề xuất giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý
các dự án tại ĐHQGHN góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý dự án nhằm
đạt được kết quả tốt nhất về các chỉ tiêu: chất lượng; tiến độ; chi phí; môi trường;
rủi ro…
3.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài phải trả lời rõ được các câu hỏi sau:
- Thực trạng chất lượng QLCDA tại ĐHQGHN hiện nay như thế nào?
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn này xây dựng hệ thống các quan
đểm và đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao công tác QLDA của
ĐHQGHN trong điều kiện hiện nay. Các quan điểm được xây dựng cùng với những
tồn tại đã phân tích là định hướng để nâng cao chất lượng quản lý dự án. Các giải
pháp đề xuất là những giải pháp trực tiếp đối với ĐHQGHN từ việc nâng cao về
nhận thức đến tổ chức và nội dung cũng như phương pháp quản lý dự án.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo,
nội dung chính của đề tài nghiên cứu được chia là 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về dự án, quản lý dự án và chất lượng quản lý dự án.
Chương 2: Thực trạng chất lượng quản lý dự án tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Chương 3: Một số Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý các dự án tại Đại
học Quốc gia Hà Nội.
5
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN, QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG
QUẢN LÝ DỰ ÁN
1.1. Tổng quan về dự án và quản lý dự án
1.1.1. Dự án
1.1.1.1 Khái nhiệm dự án
Hiện nay, trên thế giới tồn tại rất nhiều khái niệm về dự án.
Theo ngân hàng thế giới: Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi
phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó
trong một thời gian nhất định.
Theo Luật đầu tư: Dự án là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn
để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian
xác định. [8]
gian và ngân sách.
Tóm lại điểm chung nhất của các khái niệm đều nằm trong khuôn khổ các
yếu tố: mục đích, nguồn lực và thời gian. Bất cứ dự án nào có thể khác nhau về mục
đích hay mục tiêu hay phương tiện, cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính
nguyên vẹn của bản chất dự án.
Nhưng dù xét trên khía cạnh nào thì dự án bao giờ cũng gồm 4 thành phần
chính được minh họa qua sơ đồ sau:
Mục tiêu
Hoạt động
Nguồn lực
Kết quả
Hình 1.1: Các thành phần của một dự án
1.1.1.2. Đặc trưng của dự án
- Thứ nhất, Dự án luôn hướng đến một mục tiêu và kết quả xác định. Tất
cả các dự án đều phải có kết quả xác định rõ. Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp
nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng,
độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung
của dự án. Dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận,
7
phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải thống nhất đảm bảo mục
tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao
Thứ hai, Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Khác
với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản
phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án
quyết, phòng ngừa nhằm đưa dự án hoàn thành đúng yêu cầu.
1.1.1.3. Tác dụng của dự án
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Dự án đầu tư là cơ sở để thẩm định và
ra quyết định đầu tư.
- Trên góc độ các định chế tài chính: Dự án đầu tư là cơ sở để ra quyết định
tài trợ vốn cho dự án.
- Trên góc độ chủ đầu tư: Dự án đầu tư là căn cứ để xin phép đầu tư và giấy
phép hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tư kỹ thuật, xin hưởng các ưu đãi
đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của các định
chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ để kêu gọi vốn góp…..
1.1.1.4. Phân loại dự án
Theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13:
- Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau:
+ Dự án có cấu phần xây dựng: xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự
án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án;
+ Dự án không có cấu phần xây dựng: mua tài sản, nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác.
- Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại
thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C.
1.1.1.5. Chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải
trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý tưởng đến khi dự án được hoàn thành và
chấm dứt hoạt động. Có thể minh họa sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư như sau:
Ý tưởng về
DADT
Chuẩn bị
đầu tư
Thực
Nghiên
cứu
tiền
khả thi
sơ bộ
lựa
chọn
dự án
Đầu tư
Nghiên
Thiết
Đấu
Vận hành KQĐT
cứu
Đánh
kế và
thầu,
khả thi
xây lắp
nghiệm
luận
(Thẩm
công
và ký
công
thu sử
chứng
định
xây lắp
kết các
trình
dụng
kinh
dần và
thanh
lý
Trong ba giai đoạn thì giai đoạn tiền đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết
định sự thành công hay thất bại ở những giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn vận
hành kết quả đầu tư. Nội dung chủ yếu của giai đoạn tiền đầu tư là việc xây dựng dự
án đầu tư, trong đó vấn đề về chất lượng, tính chính xác của các kết quả nghiên cứu
tính toán và dự toán là quan trọng nhất.
Giai đoạn thực hiện đầu tư thì vấn đề về thời gian sẽ là vấn đề quan trọng
nhất vì đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định đến khả năng về vốn, thời
cơ cạnh tranh của sản phẩm, ….
Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư thì việc tổ chức quản lý phát huy tác dụng
các kết quả của dự án là quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại
của dự án, hiệu quả của quá trình vận hành, ….
10
1.1.2. Quản lý dự án
Trong những năm gần đây, khái niệm dự án đã không còn là một thuật ngữ
xa lạ đối với các nhà quản lý các cấp. Có rất nhiều công việc trong các tổ chức, cơ
quan, doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức dự án và điều đó đồng nghĩa với
yêu cầu đặt ra là phải có được một hệ thống quản lý với các phương pháp quản lý
dự án hiệu quả nhất. Bởi lẽ trong quá trình thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế,
sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, dự án có một tầm quan trọng đặc biệt.
Chính vì vậy đi kèm với nó phải xác định rõ quản lý dự án là gì? Để hiểu rõ được về
quản lý dự án đầu tư chúng ta hãy bắt đầu từ khái niệm quản lý dự án.
1.1.2.1. Khái niệm về Quản lý dự án
Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các tác giả khác nhau về kháí
- Xác định các nguồn lực cần huy động (nguyên liệu, nhân lực, thông tin...)
- Đánh giá các rủi ro có thể xảy ra, đề xuất các biện pháp theo dõi và hành động.
- Động viên nhân lực tham gia và phối kết hợp các hoạt động của họ.
Như vậy, QLDA không thể chỉ đơn thuần là thực hiện một khối lượng công
việc đã được vạch sẵn, mà nhiều khi chính lại là việc hình thành nên khối lượng
công việc đó. Điều này có nghĩa là không thể quan niệm đơn giản QLDA chỉ là theo
dõi thực hiện dự án.
Các dự án thường bao gồm một số qui trình liên kết với nhau. Các qui trình
này lặp đi lặp lại và diễn ra trong từng giai đoạn của vòng đời dự án, tác động lẫn
nhau. Các giai đoạn quản lý dự án thường tương ứng với các giai đoạn của dự án.
Có 5 giai đoạn quản lý dự án như sau:
- Khởi tạo: Sự cấp phép cho dự án
- Lập kế hoạch: Xây dựng mục tiêu dự án, thiết lập các phương pháp và biện
pháp thực hiện nhằm đạt được mục tiêu một cách tốt nhất.
- Thực hiện kế hoạch: Khi các mục tiêu được thiết lập và các kế hoạch được
tiến hành từ các tổ chức, cần phải biết dẫn dắt chúng thực hiện một cách thành
công. Các công việc gồm triển khai nguồn tài nguyên, nhân lực và các hệ thống
nhằm hoàn thành bản kế hoạch tổng thể và tiến độ dự án.
- Kiểm soát: Được áp dụng cho tất cả các giai đoạn của công việc nhằm đạt
được mục tiêu chung của dự án. Theo dõi thời gian thực hiện bằng việc kiểm soát
12
tiến độ, theo dõi chi phí thông qua việc kiểm soát ngân quỹ dự án, theo dõi chất
lượng bằng cách kiểm soát chất lượng sản phẩm dự án,
- Kết thúc: Mọi mục tiêu của dự án hoàn thành và kết thúc theo thứ tự.
Sơ đồ mối quan hệ của các giai đoạn quản lý dự án:
Lập kế hoạch
của dự án; Tạo điều kiện cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa các nhóm quản
lý dự án, với khách hàng và với các nhà thầu cung cấp đầu vào cho dự án; Tăng
cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham
gia dự án; Tạo điều kiện sớm phát hiện ra những khó khăn vướng mắc nảy sinh và
điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không thể đoán được. Tạo
điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những
bất đồng; Tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt nhất.
- Các giai đoạn của QLDA của quản lý dự án (Hình 1.1.3.2 (a):
Lập kế hoạch
-Thiết lập mục tiêu
-Điều tra nguồn lực
-Xây dựng kế hoạch
Điều phối thực hiện
Giám sát
- Đo lường kết quả
- Điều phối tiến độ thời gian
- So sánh với mục tiêu
- Phân phối nguồn lực
- Báo cáo
- Phối hợp các nỗ lực
- Giải quyết các vấn đề
án
- Nghiên
cứu cơ
hội đầu
tư
- Nghiên
cứu tiền
khải thi
- Nghiên
cứu khả
thi
Thẩm
định và
ra quyết
định đầu
tư
Thiết
kế dự
toán
Lập kế
hoạch
triển khai
thực hiện
Đấu
thầu, lựa
chọn nhà
Hình 1.5: Qui trình quản lý dự án
1.1.3.2. Nội dung quản lý dự án [34]
QLDA là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối với 4
giai đoạn của vòng đời dự án (giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển, giai đoạn
trưởng thành và giai đoạn kết thúc). Mục đích của nó từ góc độ quản lý và tổ chức,
15
áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu của dự án như:
mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng. Vì thế, làm tốt công
tác QLDA là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nội dung của QLDA gồm
những lĩnh vực quản lý sau: (Hình 1.6)
Quản lý dự án
Lập kế hoạch
tổng thể
Quản lý
nhân lực
Quản lý
phạm vi
Quản lý
thời gian
Quản lý
chi phí
Quản lý
Là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo
thời hạn hoàn thành dự án, nó chỉ rõ mỗi công việc phải kéo dài bao lâu, khi nào thì
bắt đầu khi nào thì kết thúc và toàn bộ dự án ké dài bao lâu, phải hoàn thành khi nào?
- Là quá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng công việc, xác định thời
gian thực hiện công việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiến trình thực hiện các
công việc của dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép và những yêu cầu về chất
lượng đã định.
- Mục đích của quản lý thời gian và tiến độ của dự án là làm sao để dự án
hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng
những yêu cầu đã định về chất lượng. Quản lý thời gian và tiến độ của dự án là cơ
sở để giám sát chi phí cũng như các nguồn lực khác cần cho công việc dự án.
- Quản lý thời gian và tiến độ của dự án đòi hỏi việc triển khai một dự án
phải đúng tiến độ, các khâu phải đúng trình tự, đối với các công việc nối tiếp nhau
phải đảm bảo công việc này xong mới thực hiện công việc khác, giai đoạn sau thực
hiện nối tiếp giai đoạn trước, đối với các công việc song song cần hoàn thành đúng
thời gian thực hiện
- Tiến độ tổng thể của dự án phải không bị chậm. Nếu dự án không hoàn
thành đúng tiến độ được giao phải xác định được nguyên nhân là do yếu tố nào và
chủ động tìm các biện pháp khắc phục để giảm thiểu tối đa tổn thất cũng như hậu
quả gây ra đối với dự án
Quản lý chi phí dự án
Là quá trình dự toán kinh phí, giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho
từng công việc và cho toàn bộ dự án đảm bảo dự án hoàn thành mà không bị vượt
quá mức chi phí được duyệt của dự án.
Quản lý chất lượng dự án
Là quá trình triển khai, giám sát có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm
bảo đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng mà dự án đề ra, đảm bảo chất lượng
17
18
Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Là quá trình bảo đảm các dòng thông tin thông suốt một cách nhanh nhất,
chính xác nhất giữa các thành viên của dự án và với các cấp quản lý khác nhau, giữa
các tổ chức nhóm quản lý dự án. Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời câu hỏi:
Ai cần thông tin về dự án? Mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án cần báo cáo
cho họ bằng cách nào?
Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ khó tránh khỏi việc gặp phải những nhân tố rủi ro mà
chúng ta không thể lường trước được. Vì vậy, quản lý rủi ro trong dự án là biện
pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi, không
xác định và giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định cho dự án. Cụ
thể bao gồm những công việc như: Nhận biết các yếu tố rủi ro, lượng hóa mức độ
rủi ro và chuẩn bị trước kế hoạch đối phó với từng loại rủi ro đó.
Quản lý hợp đồng và các hoạt động mua sắm của dự án
Là quá trình lựa chọn nhà thầu cấp hàng hóa và dịch vụ, thương lượng với
họ, quản lý các hợp đồng và điều hành việc thi công, mua bán nguyên vật liệu, trang
thiết bị, dịch vụ.... cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này nhằm giải quyết vấn
đề: Bằng cách nào dự án nhận được hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho dự án? Tiến
độ cung cấp, chất lượng cung cấp như thế nào?
Quản lý việc giao nhận dự án
Đây là một nội dung quản lý dự án mới mà hiệp hội các nhà quản lý dự án
trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển của quản lý dự án. Một số dự án
tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc
cùng với sự chuyển giao kết quả. Nhưng cũng có một số dự án lại khác, sau khi dự
án hoàn thành thì người được đầu tư lập tức sử dụng kết quả dự án này vào việc vận
hành, sản xuất nên người được đầu tư có thể thiếu nhân lực quản lý cũng như chưa
- Quản lý tiến độ
- Lập kế hoạch chất lượng
- Đảm bảo chất lượng
- Quản lý chất lượng
- Lập kế hoạch nguồn lực
- Tính toán chi phí
- Lập dự toán
- Quản lý chi phí
- Lập kế hoạch nhân lực, tiền lương
- Tuyển dụng, đào tạo
- Phát triển nhóm
- Kế hoạch
- Đánh giá rủi ro
- Lựa chọn rủi ro
- Quản lý rủi ro
1.1.3.3. Một số công cụ quản lý dự án
- Các công cụ về chính sách, quy trình quản lý: Hoàn thiện hệ thống
chính sách, quy định, quy trình quản lý dự án một cách chặt chẽ, hiệu quả.
- Các công cụ kỹ thuật: Rà soát thịết kế, tối ưu hóa tính toán kĩ thuật, lập
mô hình 3 chiều, lập kế hoạch chất lượng dự án, sử dụng internet chuyên biệt để
giao tiếp trong dự án, và triển khai chức năng chất lượng.
20