Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngô Thanh Thiều

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Bùi Nguyên Khánh

Hà Nội, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Nguyên Khánh. Các nội dung
nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ
hình thức nào trước đây. Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,
đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong
phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong Luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như
số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích
nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung Luận văn của mình.
Học viên

KẾT LUẬN .......................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 77
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 80


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TT

Nguyên nghĩa

Ký hiệu

1.

CNTT

Công nghệ thông tin

2.

CQNN

Cơ quan nhà nước

3.

CSDL

Cơ sở dữ liệu


9.

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền
thông (CNTT-TT), CNTT đang được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội, CNTT xóa bỏ các rào cản về địa lý, thay đổi phương thức giao tiếp
và kết nối mọi người với nhau. CNTT là nền tảng của kinh tế tri thức và là một
trong những động lực quan trọng nhất cho sự phát triển.
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của ứng dụng CNTT, trong những
năm qua, Thành ủy Hà Nội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả việc
ứng dụng CNTT trong hoạt động của các CQNN trên địa bàn và trong đời sống kinh
tế xã hội thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo như: Chỉ thị số 13-CT/TU
ngày 09/6/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về việc ứng dụng,
phát triển CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội Thành phố; Kế hoạch số 54-KH/TU ngày 27/4/2012 thực hiện
Nghị quyết số 13-NQ/TW và Nghị quyết số 16/NQ-CP (trong đó có nội dung về
phát triển hạ tầng thông tin).
Các nội dung chỉ đạo trên đã triển khai cụ thể hóa trong Quy hoạch phát triển
CNTT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Chương trình mục tiêu ứng
dụng CNTT trong hoạt động CQNN Thành phố giai đoạn 2012-2015, chương trình
phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và các kế
hoạch triển khai hàng năm. Đến nay, việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT
đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Ứng dụng CNTT đã từng bước tạo dựng nền

Đảng về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
và hội nhập quốc tế.
Với các yêu cầu rất lớn và nhiệm vụ nặng nề trong việc triển khai ứng dụng,
phát triển CNTT trên địa bàn Thành phố trong giai đoạn tiếp theo, cả về phạm vi
ứng dụng cũng như mức độ, qui mô triển khai. Việc đánh giá đúng thực trạng và kịp
thời phát hiện những tồn tại, bất cập làm cơ sở để nâng cao hiệu quả và đẩy mạnh
công tác ứng dụng CNTT trong giai đoạn tới là một đòi hỏi khách quan, cần thiết.
Đó chính là lý do đề tài “Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ
thực tiễn thành phố Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu.

2


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ứng dụng CNTT không phải là một vấn đề mới mẻ mà được nhắc đến nhiều
tài liệu nghiên cứu. Sau đây là một số tài liệu được tác giả lựa chọn để tham khảo,
nghiên cứu:
1. Bộ Thông tin và Truyền thông (2014), Sách trắng “CNTT và truyền
thông Việt Nam, năm 2014”, Hà Nội.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội tin học Việt Nam (2015), Báo
cáo tóm tắt chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam năm
2015, Đà Lạt.
3. Cục Thương mại điện tử và công nghệ thông tin Bộ Công Thương (2015),
Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam năm 2015, Hà Nội.

4. Trần Việt Cường (2014), Một số vấn đề về nghiên cứu xây dựng kiến
trúc hệ thống thông tin quốc gia, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền
thông, tháng 9/2014 (kỳ 2), tr.19-20.
5. Thu Hà (2015), 6 bài học triển khai thành công tin học hóa trong các
CQNN, Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, tháng 01/2015 (kỳ 2),

một công trình khoa học nào đề cập đến. Những tài liệu vừa nêu trên sẽ giúp ích cho
việc tham khảo, đối chứng trong nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin; phân tích, đánh giá việc thực
hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn thành phố Hà Nội; và để
từ đó đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao kết quả thực hiện chính
sách ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:

4


- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin;
- Tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập và tổng hợp thông tin để phục vụ cho
việc phân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở thành phố
Hà Nội;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
từ thực tiễn thành phố Hà Nội;
- Đề xuất quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao kết quả thực hiện
chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3.3. Giả thiết nghiên cứu
Thứ nhất, chính sách ứng dụng CNTT đã được tổ chức triển khai thực hiện ở
thành phố Hà Nội nhưng chưa mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của
nhà nước cũng như của các đối tượng chính sách. Vì vậy, chính sách ứng dụng
CNTT nếu được tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với điều
kiện thực tiễn ở thành phố Hà Nội thì kết quả mang lại sẽ cao hơn so với hiện tại.

- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để
thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài
nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà
nước, thành phố Hà Nội; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê
của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách ứng dụng CNTT của thành phố Hà Nội.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
hệ thống, vận dụng tổng hợp các kiến thức về khoa học quản lý như khoa học quản
lý nhân lực, quản lý công nghệ, quản lý dự án, quản lý hoạt động tác nghiệp, hệ
thống thông tin quản lý,… trên cơ sở sử dụng các số liệu của Thành phố Hà Nội để
tổng hợp, phân tích đánh giá, làm sáng tỏ các vấn đề cốt lõi ảnh hưởng đến quá
trình triển khai ứng dụng CNTT.
- Phương pháp phân tích so sánh: Vận dụng phương pháp tổng hợp, phân
tích so sánh đối tượng nghiên cứu với một chuẩn mực nhất định, trên cơ sở điều tra,
khảo sát, đánh giá thực tế và các số liệu thống kê thu thập thông tin từ các tài liệu
nghiên cứu chuyên ngành có liên quan, các báo cáo tổng kết trong lĩnh vực ứng
dụng và phát triển CNTT trong các cơ nhà nước, làm cơ sở để phân tích so sánh và
đưa ra các nhận xét, đánh giá phù hợp với tình hình triển khai tại thành phố Hà Nội.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Nghiên cứu về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT có thể được tiếp cận
dưới nhiều góc độ của các ngành khoa học khác nhau, nhưng luận văn được tiếp cận
dưới góc độ của ngành khoa học chính sách công, vì vậy luận văn tập trung nghiên
cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và luận giải các giải pháp nhằm nâng cao kết
quả tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT ở thành phố Hà Nội.
- Luận văn tập trung hệ thống một cách cơ bản, có cơ sở khoa học các khái

Việc sử dụng máy tính điện tử vào thực tiễn ở Việt Nam được bắt đầu từ rất
sớm, vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước. Ở phía Bắc chủ yếu là các ứng dụng
nghiên cứu khoa học, thống kê, ở phía Nam là các ứng dụng quản lý kinh tế và dự
báo trên các máy lớn. Đến năm 1993, thông qua Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993
của Chính phủ về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 1990, ngành CNTT
mới có những định hướng phát triển rộng trên quy mô quốc gia. Theo đó những
mục tiêu chính cho ứng dụng CNTT được xác định là “Xây dựng hệ thống máy tính
và phương tiện truyền thông được liên kết với nhau trong các mạng với những công
cụ phần mềm đủ mạnh và các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu có khả năng phục
vụ các hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nền kinh tế;
phát triển rộng rãi việc ứng dụng CNTT góp phần tăng năng suất, chất lượng hiệu
quả sản xuất, kinh doanh, hiện đại hóa dần các ngành sản xuất, dịch vụ quan trọng
và an ninh quốc phòng; Tăng cường ứng dụng CNTT trong các hoạt động điều tra
cơ bản, thăm dò khảo sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nghiên cứu khoa
học và các hoạt động khác; phổ cập văn hóa thông tin trong xã hội nhằm tạo môi
trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin”.
Sau khi có Nghị quyết 49/CP ngày 04/8/1993, Chính phủ công bố Chương
trình quốc gia về CNTT. Đây là kế hoạch phát triển CNTT toàn diện của nước ta
giai đoạn 1995-2000, trong giai đoạn này, CNTT thế giới đã những có bước phát
triển đại nhảy vọt làm thay đổi về cơ bản cách thức mà con người làm việc, học tập
và sinh hoạt.
Nhận thức sâu sắc về vai trò của CNTT trong giai đoạn phát triển mới, ngày
17/10/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH. Trong đó, xác định mục tiêu

8


“CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu
tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc


- Trong sản xuất, kinh doanh: Ứng dụng CNTT trong kinh tế có 2 hướng
chính là sử dụng các phương tiện CNTT trong hiện đại hóa dây chuyền sản xuất và
ứng dụng CNTT phục vụ quản lý kinh doanh. Do tạo ra được những thay đổi về
chất đối với toàn bộ quá trình sản xuất (thiết kế, tự động hóa quy trình sản xuất,…)
và quản lý kinh doanh (quản lý các nguồn lực, thương mại điện tử,…), CNTT thực
sự trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
1.1.3. Vai trò của công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế - xã hội
- CNTT là hạ tầng cơ sở cho kinh tế tri thức: Kinh tế tri thức là nền kinh tế
mà ở đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với
sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Một định
nghĩa khác, cụ thể hơn về hàm lượng tri thức là “Kinh tế tri thức là nền kinh tế tạo
ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị tri thức chiếm ít nhất 70% giá trị của từng sản
phẩm, dịch vụ đó”. Như thế, mọi nỗ lực đều tập trung về 1 điểm là “làm thế nào
để giàu tri thức?” Câu trả lời duy nhất là: “phải dựa vào CNTT” vì CNTT vừa là
phương tiện giúp con người tập hợp được nhiều thông tin nhất vừa là công cụ xử
lý thông tin hữu hiệu nhất nhằm tìm ra cái mới. Đây là lý do vì sao CNTT làm
thay đổi toàn bộ xã hội còn các ngành công nghệ khác chỉ có thể tác động lên hay
làm thay đổi được một phần của nó. Cũng vì lẽ này mà người ta ví CNTT là hạ
tầng của kinh tế tri thức.
- CNTT trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội:
+ CNTT biến đổi cách thức giao tiếp: Hàng tỷ người trên thế giới có thể truy
cập Internet cùng một lúc và tham gia vào những cuộc gặp gỡ điện tử theo thời gian
thực, tiếp nhận tin tức hàng ngày, tiến hành các giao dịch thương mại hoặc trò
chuyện với bạn bè, người thân trên khắp thế giới. Hàng rào ngôn ngữ được giảm
thiểu bởi những công cụ hỗ trợ dịch tự động.
+ CNTT biến đổi cách thức khai thác, sử dụng thông tin: Ai cũng có thể tiếp
cận, yêu cầu hoặc sao chép mọi tài liệu, tạp chí, băng, đĩa,… được xuất bản bằng
bất kỳ ngôn ngữ nào để tham khảo chỉ bằng thao tác truy cập đơn giản qua Internet.


Người bệnh có thể tự chăm sóc y tế cho chính họ nhờ có những mô hình mới về
giao tiếp với bác sỹ qua mạng và sự tiếp cận với thông tin y sinh từ các thư viện số
về y học và từ mạng Internet.

11


+ CNTT biến đổi cách thức thiết kế và xây dựng: Những sản phẩm và cấu
trúc phức tạp được thiết kế bằng chương trình mô phỏng trên máy tính biểu diễn
chính xác các đặc thù của hệ thống sẽ được xây dựng. Công nghệ tính toán tốc độ
cao sẽ được sử dụng, quá trình phân tích, giám sát, kiểm tra, truy tìm và xử lý dữ
liệu sẽ được tiến hành một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng thiết kế. Nhà
cung cấp và người dùng sẽ tham gia thảo luận trực tuyến về quá trình thiết kế thông
qua Internet.
+ CNTT biến đổi phương pháp nghiên cứu: Việc nghiên cứu khoa học trở
nên thuận tiện hơn nhiều nhờ sự trợ giúp các các hệ thống mô phỏng, các phòng thí
nghiệm ảo và công nghệ hội nghị truyền hình qua Internet. Sự hỗ trợ mạnh mẽ của
các thư viện điện tử cũng mang lại cho các nhà nghiên cứu những lợi thế hơn hẳn so
với phương pháp nghiên cứu truyền thống.
+ CNTT đổi mới phương thức hoạt động của chính phủ: CNTT tạo ra khả
năng xây dựng một hệ thống thông tin thống nhất trong toàn bộ bộ máy nhà nước
nơi mọi thông tin xuất hiện ở bất cứ cơ quan nào của bộ máy chính quyền từ các bộ,
ngành đến các cấp chính quyền từ đều được cập nhật và lưu giữ trong hệ thống.
Điều đó cho phép người dân có cơ hội tiếp cận với bộ máy chính quyền thông qua
cơ chế “một cửa điện tử” (theo nghĩa “chỉ cần vào 1 cửa là được đáp ứng mọi yêu
cầu từ bộ máy chính quyền”), các CQNN có thể phối hợp với nhau một cách dễ
dàng để thực thi các quy trình nghiệp vụ quản lý nhà nước và phục vụ người dân.
Các hệ thống “thông minh” sẽ hướng dẫn các công dân nhanh chóng định vị thông
tin cần thiết. Người dân và doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống chính
phủ điện tử.CNTT làm cho chính quyền có khả năng thu được nhiều dữ liệu hơn từ

Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa,
mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một
hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng
hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát
triển của một hệ thống xã hội”.
Chính sách là những đường hướng hành động, ứng xử cơ bản của chủ thể với
các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu
nhất định[38].
* Khái niệm về chính sách công:
Thomas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công: “Chính
sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”[12].

14


Chính sách công là những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà
nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội[30].
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải
quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định[12].
Qua nghiên cứu, ta có thể nhận định: Chính sách ứng dụng CNTT là tổng thể
những quan điểm, thái độ, quyết định, quy định của Đảng và Nhà nước với mục
tiêu, các giải pháp, công cụ cụ thể nhằm sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc
lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này.
1.2.2. Quy trình thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT diễn ra trong thời
gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế để chính sách ứng dụng

Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách ứng dụng CNTT khi được tổ chức thực hiện nó đòi hỏi và
cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành ở nhiều lĩnh vực
khác nhau. Vì thế, các chủ thể tham gia vào quá trình này rất phong phú bao
gồm các đối tượng của chính sách, các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các
doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, nghiệp đoàn, hiệp hội thậm chí là
cả các nhà khoa học và các đối tượng khác trong xã hội….
Bước 4: Duy trì chính sách
Duy trì chính sách là làm cho chính sách sống được trong môi trường
thực tế và phát huy tác dụng. Do đó, phải thường xuyên quan tâm tuyên
truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia
thực thi chính sách; tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách.
Bên cạnh đó cần chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh
mới. Các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sự dụng các biện pháp hành chính
16


để duy trì chính sách, tăng cường thực hiện dân chủ để người dân mạnh dạn
tham gia quản lý xã hộ, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm
kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách.
Bước 5: Điều chỉnh chính sách
Là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ
chức thực hiện chính sách nhằm đảm bảo cho chính sách ngày càng phù hợp
với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế. Các cơ quan nhà nước chủ động điều
chỉnh công cụ, giải pháp để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không
làm thay đổi mục tiêu chính sách.
Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện chính sách
Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực hiện chính sách vừa
kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực
hiện chính sách, giúp nâng cao kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan

các cấp quận, huyện, phường, xã tại các tỉnh còn khó khăn vẫn còn rất thiếu thốn
chưa đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT.
- Ứng dụng CNTT trong nội bộ CQNN chủ yếu quy mô nhỏ, chưa phát huy
hết hiệu quả của ứng dụng CNTT. Các hệ thống thông tin chuyên ngành, quy mô
quốc gia tạo nền tảng cho phát triển Chính phủ điện tử chưa được triển khai trên
diện rộng. Các ứng dụng CNTT cơ bản hiện được triển khai ở mức độ nhỏ lẻ, tính
kết nối chưa cao. Việc sử dụng chủ yếu hạn chế trong các đơn vị đơn lẻ, chưa kết
nối rộng, tỉnh, chưa hình thành môi trường trao đổi và tác nghiệp trên mạng. Phần
lớn các dự án chuyên ngành chưa được hoàn thiện, chủ yếu mới ở giai đoạn bắt đầu
triển khai, hoặc triển khai thí điểm trên diện hẹp. Điều này gây cản trở rất lớn đến
phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam.
- Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, các
trang thông tin điện tử chủ yếu mới chỉ cung cấp thông tin, còn ít trường hợp người
dân có thể nộp hồ sơ xin cấp phép, đăng ký qua mạng. Khoảng cách số giữa các khu
vực còn lớn, đặc biệt giữa nông thôn và thành thị, điều này gây khó khăn cho việc
triển khai đồng bộ, trên diện rộng các ứng dụng CNTT.

18


- Trình độ, thói quen ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức và người dân
còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận các dịch vụ của các CQNN thông
qua ứng dụng CNTT. Số lượng và trình độ các cán bộ chuyên trách về CNTT còn
hạn chế, đặc biệt là tại các địa phương, nhiều cán bộ đang làm việc theo hình thức
kiêm nhiệm. Một trong các khó khăn lớn nhất mà các đơn vị đưa ra là chưa có chính
sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho các cán bộ chuyên trách về CNTT, nên khó có
thể thu hút đủ các cán bộ chuyên trách CNTT có trình độ phù hợp về công tác.
- Mức độ cấp phát kinh phí cho các dự án chưa đủ, tiến độ cấp phát chậm; sự
phối hợp giữa các cơ quan trong triển khai giữa các dự án lớn chưa được chú trọng,
dẫn đến sự kết nối giữa các hệ thống thông tin chuyên ngành lớn còn hạn chế.

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong CQNN;
- 100% các CQNN từ cấp quận, huyện, Sở, Ban, ngành hoặc tương đương trở
lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin
theo Điều 28 của Luật Công nghệ thông tin, cung cấp tất cả các dịch vụ công trực
tuyến mức độ 2 và hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới
người dân và doanh nghiệp.
- 50% hồ sơ khai thuế của người dân và doanh nghiệp được nộp qua mạng.
- 90% cơ quan hải quan các tỉnh, thành phố triển khai thủ tục hải quan điện tử.
- 100% hộ chiếu được cấp cho công dân Việt Nam phục vụ công tác xuất,
nhập cảnh là hộ chiếu điện tử.
- Tất cả kế hoạch đấu thầu, thông báo mời thầu, kết quả đấu thầu, danh sách
nhà thầu tham gia được đăng tải trên mạng đấu thầu quốc gia; khoảng 20% số gói
thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn sử dụng vốn nhà nước được thực
hiện qua mạng; thí điểm hình thức mua sắm chính phủ tập trung trên hệ thống mạng
đấu thầu quốc gia.
- 30% công dân Việt Nam đủ độ tuổi theo quy định được cấp chứng minh
nhân dân sản xuất trên dây chuyền hiện đại, với một số chứng minh nhân dân duy
nhất không trùng lặp, chống được làm giả.
- 30% số hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng được nộp qua mạng.
1.3.3. Giải pháp và công cụ của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
* Giải pháp về tổ chức, điều hành

20


- Tăng cường hoạt động của Ban Điều hành triển khai công tác ứng dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của
lãnh đạo công nghệ thông tin ở các cấp, các ngành.
- Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status