Thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn tỉnh hưng yên - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ TUẤN ANH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Đỗ Phú Hải

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót, cá nhân
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn


1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách ứng dụng

24

công nghệ thông tin………………………………………………………………………
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỨNG

28

DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỈNH HƯNG YÊN ……….
2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin tỉnh Hưng Yên, giai đoạn 2011 - 2015

28

…………………………

2.2. Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin

38

tại tỉnh Hưng Yên………………………………………………………………………..
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách ứng dụng
công nghệ thông tin tại tỉnh Hưng Yên…………………………………………

57

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN………………………



CNH-HĐH

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CNTT

Công nghệ thông tin

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

KT-XH

Kinh tế - xã hội

TT&TT

Thông tin và truyền thông

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa



quan trọng nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh của từng
doanh nghiệp và cả nền kinh tế, đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế. Hệ
thống chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển CNTT ngày càng được hoàn
thiện; cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước về CNTT được xác lập và từng
bước được nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 01/7/2014 của Bộ chính trị khóa XI,
đã xác định rõ mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt được thời gian tới: “CNTT
phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa
trong phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng
suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển
con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh
mạng”. Trên cơ sở kế thừa các quan điểm lớn của Chỉ thị 58, Nghị quyết 36 của Bộ
Chính trị đã bổ sung, làm rõ thêm những quan điểm mới về ứng dụng và phát triển
CNTT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Một trong 4 quan điểm lớn nêu trong
Nghị quyết 36 là: “Đầu tư cho CNTT là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước,
cần được đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt; tăng cường khả năng làm chủ,
sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc
gia trên không gian mạng”.
Trên cơ sở này, ngày 01/10/2014 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành
Quyết định số 260-QĐ/TW về việc ban hành Chương trình ứng dụng CNTT trong
hoạt động của các cơ quan Đảng giai đoạn 2015-2020, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 16/10/2015 Phê duyệt Chương trình quốc

1


gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai
đoạn 2016 - 2020. Chương trình này tập trung vào một số nội dung trọng tâm:
- Phát triển hạ tầng kỹ thuật.
- Phát triển các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trọng điểm.

Các trang thiết bị CNTT đầu tư theo các Đề án dàn trải trong nhiều năm, đến nay hệ
thống máy chủ đã cũ, lạc hậu, thường xuyên xảy ra các sự cố dẫn đến việc triển khai
ứng dụng CNTT tại các đơn vị gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả.
- Hệ thống mạng thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng và hệ thống
mạng thông tin của các cơ quan Nhà nước triển khai chưa đồng bộ dẫn đến việc kết
nối, trao đổi thông tin giữa các cơ quan Đảng và các cơ quan Nhà nước các cấp
chưa hiệu quả.
Từ thực tế đó, để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng
CNTT tại tỉnh Hưng Yên, tác giả lựa chọn nội dung “Thực hiện chính sách ứng
dụng công nghệ thông tin từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, CNTT ngày càng khẳng định rõ tầm quan trọng đối với
công cuộc CNH-HĐH đất nước vậy nên vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý của
bộ máy hành chính được quan tâm đặc biệt. Các cơ quan Đảng, Nhà nước từ Trung
ương đến địa phương đều có những chương trình ứng dụng CNTT cho riêng mình.
Điển hình có một số công trình nghiên cứu lớn có liên quan đến việc ứng
dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước từ năm 2001 đến
nay, như:
Nghiên cứu về chính sách công:
- PGS.TS Lê Mai Chi (2007), “Chính sách và quá trình chính sách”, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội;
- PGS.TS Võ Kim Sơn (2012), “Xây dựng và thực thi chính sách”;
- TS Tạ Ngọc Hải (2013), “Chính sách công - Tiếp cận từ khoa học tổ chức
nhà nước”;
Nghiên cứu về chính sách ứng dụng công nghệ thông tin:
- Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thong tin phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia;
- Đề án tin học hóa hoạt động các cơ quan Đảng giai đoạn 2001-2005 (Đề án 47)



3.1. Mục đích nghiên cứu
Học viên lấy nghiên cứu này làm đề tài tốt nghiệp thạc sỹ ngành chính sách công.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

4


Luận văn có nhiệm vụ trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng CNTT,
vai trò của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước?
Câu hỏi 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng CNTT từ thực tiễn hoạt
động của các cơ quan Đảng, Nhà nước tỉnh Hưng Yên thời gian qua như thế nào?
Câu hỏi 3: Giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách ứng dụng CNTT
trong các cơ quan Đảng, Nhà nước tỉnh Hưng Yên thời gian tới là gì?
4. Đối tượng và phạ

vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện chính sách ứng dụng CNTT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu việc ứng dụng CNTT tại tỉnh Hưng Yên.
- Thời gian: giai đoạn 2011-2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên
ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sách công từ
lý luận đến thực tiễn và phân tích đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách. Các quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định

phát huy tối đa hiệu quả của chính sách đã ban hành và đề xuất hoàn thiện, đổi mới
chính sách.
6.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn cung cấp những kiến thức lý luận và thực tiễn về chính sách
công, việc vận dụng vấn đề trong thực hiện chính sách ứng dụng CNTT tại tỉnh
Hưng Yên từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh,
các sở, ngành có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để
chính sách có thể mang lại hiệu quả thiết thực nhất phục vụ sự nghiệp phát triển
KT-XH ở địa phương.

6


7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách ứng dụng công
nghệ thông tin
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

8


điểm khác nhau về vấn đề này. Vận dụng khái niệm chính sách công vào lĩnh vực
CNTT ta có thể hiểu khái niệm chính sách ứng dụng CNTT: Chính sách ứng dụng
CNTT là chính sách công, là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của
Đảng và Nhà nước về CNTT nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công
cụ chính sách để giải quyết vấn đề về CNTT theo mục tiêu tổng thể của Đảng và
Nhà nước đã xác định.
Chính sách ứng dụng CNTT gồm có các bộ phận hợp thành quan trọng là:
những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục
tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo hiện đại hóa CNTT cả
về nhân lực và vật lực, thực hiện theo định hướng phát triển đã xác định. Đây là hạt
nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo ban
hành, thực thi và đánh giá chính sách.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
1.2.1. Vấn đề của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Để xây dựng chu trình chính sách hiệu quả, điều đầu tiên chúng ta cần xác
định đúng và kịp thời vấn đề chính sách. Khi xác định vấn đề của xã hội sai sẽ dẫn
đến vấn đề chính sách công sai, tất yếu chu trình chính sách sẽ sai, kéo theo nhiều
tổn thất và hệ lụy trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của đất
nước. Do đó, muốn xác định được vấn đề chính sách đòi hỏi chủ thể xây dựng chính
sách phải thường xuyên quan sát và phân tích thực tế để kịp thời chỉ ra và dự báo
được những mâu thuẫn cơ bản nảy sinh trong đời sống KT-XH cần được giải quyết
nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Vấn đề của chính sách ứng dụng CNTT là chưa được ứng dụng rộng rãi
trong đời sống, KT-XH, an ninh quốc phòng, chưa phát huy hết được sức mạnh
CNTT, chưa có những chính sách ưu đãi rõ ràng cho phát triển CNTT, nguồn nhân
lực CNTT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng chuyên môn. Đó là những
mâu thuẫn đòi hỏi được giải quyết: Mâu thuẫn giữa sự phát triển mạnh mẽ của ứng

d. Vấn đề quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ thông tin
Quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách ứng
dụng CNTT. Để đổi mới quản lý nhà nước về CNTT các nhà lãnh đạo cần kết hợp
chặt chẽ giữa ứng dụng CNTT với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải
cách hành chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà

10


nước. Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực CNTT, viễn thông và thông tin điện tử
chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh
cho việc cung ứng dịch vụ viễn thông, chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông
tin là loại đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH. Hiện nay, hệ thống quản lý nhà nước về
CNTT gồm các cơ quan quản lý các cấp về CNTT ở Trung ương và địa phương.
Tuy nhiên chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan, đơn vị còn chồng chéo chưa
phù hợp với từng địa phương; Chưa có các chính sách phù hợp để quản lý và ứng
dụng CNTT một cách thống nhất.
Như vậy, trong các chủ trương phát triển CNTT nói chung, vấn đề thực hiện
chính sách ứng dụng CNTT luôn có một vị trí cực kỳ quan trọng và là yếu tố được
Chính phủ, các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan tâm.
1.2.2. Mục tiêu chính sách
Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu đối với ngành CNTT là phát triển
mạng thông tin quốc gia trên quy mô cả nước, với băng thông rộng, dung lượng lớn,
tốc độ và chất lượng cao, ổn định, giá thành thấp; Tăng tỷ lệ người tiếp cận với các
ứng dụng CNTT và sử dụng mạng Internet; Đưa CNTT trở thành ngành công nghệp
kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát triển hàng năm cao nhất so với các khu vực khác;
Có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Bộ Chính trị đã quán triệt một số chủ trương
lớn: Ứng dụng và phát triển CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát
triển KT - XH, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát

Ứng dụng rộng rãi, có hiệu quả công nghệ thông tin trong toàn xã hội
Các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội đi đầu trong việc
triển khai, ứng dụng CNTT trong hoạt động chuyên môn theo phương châm tiết
kiệm, thiết thực và hiệu quả lâu dài. Ứng dụng CNTT thể hiện ở việc tin học hóa
hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải
cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhằm
tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đồng thời
các cấp ủy Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết
phục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của
Nhà nước.

12


Song song với việc ứng dụng CNTT, chúng ta cũng cần tập trung phát triển
những dịch vụ điện tử trong các lĩnh vực thương mại, thương mại điện tử và các
dịch vụ công cộng (giáo dục, đào tạo từ xa, chữa bệnh từ xa, thư viện điện tử,…);
Để có thể ứng dụng CNTT trong toàn xã hội thì Nhà nước cần tạo môi thuận lợi cho
ứng dụng CNTT; cần rà soát và tháo bỏ những nhận thức và quy định không phù
hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu đãi hiện hành cao nhất và từng
bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các nước trong khu vực cho việc
ứng dụng và phát triển CNTT, đi đôi với việc thực hiện các biện pháp quản lý chặt
chẽ, sử dụng có hiệu quả; Chuẩn hóa thông tin và các hệ thống thông tin trong từng
lĩnh vực; Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc trao đổi và sử dụng chung các cơ
sở dữ liệu, các hệ thống thông tin trong nước và quốc tế; Có các biện pháp chủ động
và các quy định cụ thể về an toàn và an ninh thông tin, trước hết trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước, an ninh - quốc phòng; Khuyến khích và hỗ trợ việc phổ cập và
nâng cao trình độ ngoại ngữ trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong thanh niên,
thiếu niên; Xây dựng tiêu chuẩn ngành, nghề với mức lương và chế độ đãi ngộ hợp
lý đối với đội ngũ cán bộ về CNTT.

triển nguồn nhân lực CNTT; Cân đối lại tỷ lệ phân bổ ngân sách, đảm bảo tỷ lệ cân
xứng cho nhiệm vụ CNTT; Tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu được chủ động sử
dụng nguồn kinh phí này và tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả nghiên cứu,
đặc biệt được hưởng lợi chính đáng, hợp pháp từ kết quả nghiên cứu của họ. Chủ
động tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá
nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT. [18].
Đảng, Nhà nước cần sớm hoàn thiện và ban hành hệ thống văn bản pháp quy
về quản lý, thực hiện chính sách ứng dụng và phát triển CNTT theo phương châm
năng lực quản lý phải theo kịp tốc độ phát triển, đầu tư phải thiết thực, hiệu quả,
không được lãng phí và đảm bảo công khai, minh bạch.
Công cụ chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Công cụ dựa vào tổ chức, nhân sự
Đây là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và quá trình thực hiện
chính sách bằng cơ cấu tổ chức thông qua các chức năng, nhiệm vụ được phân công
nhằm đạt được mục tiêu dự kiến. Cụ thể ở đây, các nhà quản lý cần bố trí, sử dụng
nguồn nhân lực làm CNTT một cách hợp lý, phù hợp với vị trí việc làm, đúng
chuyên môn, đúng cơ cấu nguồn nhân lực của đơn vị.
14


Công cụ dựa vào quyền lực
Công cụ dựa vào quyền lực là cách thức chủ thể tác động lên đối tượng và
quá trình chính sách bằng quyền lực nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Để công tác
ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cần nâng cao vai trò của công tác quản lý, thanh tra,
kiểm tra, xử lý nghiêm những sai phạm về CNTT từ trung ương đến địa phương.
Công cụ tài chính
Công cụ tài chính là công cụ được các chủ thể sử dụng phổ biến khi triển
khai thực hiện chính sách ứng dụng CNTT. Đây là công cụ dùng lợi ích vật chất và
tinh thần để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực CNTT. Các tác động kích thích
vật chất hoặc tinh thần của chủ thể chính sách đối với đối tượng thụ hưởng chính

phù hợp nhất khi thực hiện chính sách là tiếp cận theo chiều dọc “từ trên xuống” và
“từ dưới lên”.
Đảng, Nhà nước

()

Bộ, Ban, ngành

Sở, Ban, Ngành

Từ dưới lên

Từ trên xuống

Tỉnh ủy; UBND tỉnh

Huyện ủy, UBND huyện
Xã, phường, thị trấn, doanh
nghiệp và người dân

Chính sách ứng dụng CNTT được Chính phủ hoạch định và thực hiện liên
tục trong suốt quá trình đổi mới KT-XH ở Việt Nam. Với định hướng thống nhất,
chính sách phát triển CNTT là một trong công cụ quan trọng giúp Chính phủ thay
đổi cơ cấu kinh tế bằng việc phát triển ngành công nghiệp mới, đặc biệt ngành công
nghệ cao; đồng thời thông qua phát triển và ứng dụng CNTT trong mọi mặt đời
sống KT-XH, chú trọng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước góp phần xây
dựng thành công Chính phủ điện tử. Cụ thể: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về CNTT; Bộ TT&TT chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chủ trì, phối
hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi
16

vận dụng. Cần phải lựa chọn hình thức, phương pháp phổ biến, tuyên truyền chính

17


sách ứng dụng CNTT khác nhau như tổ chức hội thảo, hội thi, tọa đàm nhằm tạo
mối quan tâm, thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của toàn xã hội đối với công tác ứng
dụng CNTT, đồng thời qua đó nghiên cứu xây dựng, phát triển các chương trình
ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điều hành, trong xử lý công việc hành chính
v.v. có sự tham gia của đối tượng ứng dụng CNTT.
1.3.4. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Trong tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT việc phân công, phối
hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực hiện
chính sách. Muốn tổ chức thực hiện tốt, phát huy được những nhân tố tích cực góp
phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ứng dụng CNTT cần phải tiến hành
phân công phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung
ương và các cấp chính quyền ở địa phương đồng thời xác định trách nhiệm cụ thể
giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp. Thông qua việc phân công, phối hợp thực
hiện chính sách một cách khoa học sẽ. Trong phân công nhiệm vụ cần đặc biệt chú
ý đến trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế
tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng.
Điều 4 - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định rõ
vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
[19]. Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 58-CT/TW “Về
đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH” và ngày 01/7/2014 Bộ
chính trị (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW “về đẩy mạnh ứng dụng,
phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” đã thể
hiện cụ thể sự phân công, phối hợp thực hiện của các cơ quan có liên quan đến
chính sách ứng dụng CNTT, cụ thể:
- Ban cán sự đảng Chính phủ xây dựng chương trình, kế hoạch hành động

Duy trì thực hiện chính sách ứng dụng CNTT là làm cho chính sách được tồn
tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế. Tuy nhiên, trong giai đoạn thực
thi lại nảy sinh một số vướng mắc, có thể là do nhà hoạch định chính sách chưa
lường hết diễn biến hay do những tác động làm thay đổi môi trường trước và sau
khi ban hành chính sách. Vì vậy các cơ quan ban hành chính sách ứng dụng CNTT
sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi
cho việc thực thi chính sách. Các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội có trách nhiệm
tham gia thực hiện yêu cầu của Đảng, nhà nước và phát huy quyền làm chủ, tăng
cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã hội.
19


1.3.6. Điều chỉnh thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ thông tin
Điều chỉnh thực hiện chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường
xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách ứng dụng CNTT để phù hợp với
yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước, địa phương.
Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh
bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh cơ chế và biện pháp chính
sách diễn ra khá linh hoạt vì thế các cơ quan quản lý nhà nước về chính sách ứng
dụng CNTT ở từng địa phương cần chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù
hợp với tình hình KT-XH ở địa phương mình, miễn là không làm thay đổi mục tiêu
của chính sách ứng dụng CNTT.
1.3.7. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách ứng dụng công nghệ
thông tin
Để thực hiện tốt chính sách ứng dụng CNTT thì một trong những nhiệm vụ
quan trọng cần tập trung thực hiện đó là tăng cường công tác kiểm tra thực hiện chủ
trương, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện các mục tiêu chính sách ứng dụng
CNTT theo các chương trình, đề án như: Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước
mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”; Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày
01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status