VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN HỮU VIỆT
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CÁC
NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỪ THỰC TIỄN QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI
NGHỊ ĐỊNH THƢ TẠI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
C u
Quả
K
ọ v C
ệ
Mã số 60.34.04.12
LU N V N THẠC S QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM CÔNG HOẠT
1 CƠ SỞ LÝ LU N QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CÁC NHIỆM VỤ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN ....................................................................................... 7
1.1. Quản lý nhà nước các nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ.................................. 7
1.2. Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ............ 14
1.3. Các tiêu chí đánh giá để đánh giá hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin
trong các nhiệm vụ khoa học và công nghệ............................................................... 20
Kết uậ C ƣơ 1..................................................................................................... 22
C ƣơ 2 THỰC TRẠNG CỦA QUẢN LÝ CÁC ĐỀ TÀI NGHỊ ĐỊNH
THƢ TẠI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHÊ ................................................. 23
2.1 Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ giai đoạn 2010 đến 2015 ........ 23
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với các đề tài nghị định thư ......................... 24
2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin tại Bộ Khoa học và Công nghệ ...................... 32
2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đề tài nghị định thư .................. 42
2.5. Kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ ở ngoài nước . ....................................................................... 44
2.6. Những bài học rút ra từ ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các nhiệm vụ
nghị định thư. ................................................................................................................ 47
Kết uậ C ƣơ 2 ........................................................................................ 50
C ƣơ
3 GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ...... 51
3.1. Giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong Bộ Khoa học và Công nghệ . 51
3.2. Nội dung các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ ............................................................................... 59
3.3 Thách thức trong quản lý nhà nước các nhiệm vụ Khoa học và công nghệ
CSDL
Cơ sở dữ liệu
CPNET
Mạng truyền số liệu chuyên dụng của Chính phủ
HTQT
Hợp tác Quốc tế
KHCN
Khoa học công nghệ
KH&CN
Khoa học và công nghệ
LAN
Mạng nội bộ
NĐT
Nghị định thư
NV
Bảng số 3: Bảng so sánh giữa sử dụng IT và không sử dụng IT trong quản lý
các nhiệm vụ khoa hoc và công nghệ ............................................................ 48
MỞ ĐẦU
1. Tí
ấp t iết ủ đề t i
Chính sách phát triển KH&CN luôn được coi là quốc sách hàng đầu
của nhà nước nước ta trong nhiều năm nay. Chính sách này đã được nêu trong
các chủ trương, chính sách của nhà nước ta đặc biệt là Luật KH&CN năm
2013, Chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2020 và Nghị quyết 20 của
Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa 11. Là một trong những quốc gia
được hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã
nhận thức rõ sự cần thiết phải phát triển CNTT. Toàn cầu hóa nói chung,
trong đó thị trường kinh tế thế giới và giao lưu văn hóa toàn cầu đã và sẽ có
tác động sâu sắc đến phát triển của Việt Nam nói chung và của các cơ quan bộ
nói riêng. Quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội nói chung,
đòi hỏi nhiều điều kiện tối cần thiết trong đó có việc phát triển và ứng dụng
CNTT trong khoa học và công nghệ.
Để thực sự đưa KH&CN vào cuộc sống và biến những tri thức khoa
học thành hàng hóa, chúng ta cần đổi mới tư duy trong việc điều hành và quản
lý các chương trình KH&CN cũng như các nhiệm vụ trong các chương trình.
Muốn vậy chúng ta phải tiến hành các bước trong qui trình quản lý các nhiệm
vụ KH&CN một cách hiệu quả, chính xác và kịp thời đáp ứng nhu cầu của
các cấp trong quá trình quản lý (kiểm tra, giám sát) và thực hiện dự án. Qui
trình dự án có các bước sau: (1) Đề xuất đề tài; (2) Đánh giá các đề xuất đề
tài; (3) Thực hiện đề tài; (4) Kết thúc đề tài. Để vận hành tốt các bước này,
chúng ta phải có đủ thông tin chính xác, kịp thời. Do vậy, việc ứng dụng
tác giả như sau:
Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý của tác giả Nguyễn Thị Phương
Dung “Chính sách đào tạo nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin
khoa học và công nghệ thuộc Hệ thống Thông tin Khoa học và Công nghệ
Quốc gia”. Luận văn đã trình bày cơ sở lý luận về đạo tạo nhân lực thông tin;
tiêu chuẩn về năng lực cán bộ thông tin ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Đánh
giá thực trạng nhân lực thông tin trong các cơ quan thông tin KH&CN thuộc
hệ thống thông tin KH&CN quốc gia, qua tìm hiểu về: Hệ thống thông tin
KH&CN, hiện trạng nhân lực và hiện trạng đào tạo cán bộ thông tin ở Việt
Nam. Đưa ra những giải pháp tăng cường đào tạo nhân lực thông tin trong các
cơ quan thông tin thuộc hệ thống thông tin KH&CN quốc gia: tăng cường hợp
tác đào tạo giữa các trường về thông tin với các cơ quan thông tin KH&CN;
2
thành lập trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ thông tin hoạt động độc lập, tự
chủ về tài chính; đầy mạnh E-learning trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ;
xây dựng cơ chế đánh giá cán bộ thông tin; khuyến khích các cán bộ tham gia
đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học và kiến thức KH&CN.
Tác giả Lê Thị Thanh Hà Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý
“Trình bày cơ sở lý luận về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, hoạt động khoa
hoc và công nghệ trong ngành bảo hiểm xã hội (BHXB)”. Luận văn đã trình
bày Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý, nghiên cứu và ứng dụng các kết
quả nghiên cứu khoa học của ngành BHXH Việt Nam hiện nay. Phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động KH&CN, như chất lượng
nghiên cứu khoa học và khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học & công nghệ
của ngành BHXH Việt Nam. Đổi mới quản lý nhiệm vụ khoa học và công
nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ngành bảo hiểm xã hội Việt
Nam.
công nghệ thông tin. Các dịch vụ do công nghệ thông tin tạo ra đáp ứng nhu
cầu thông tin của người sử dụng đúng lúc, đúng nơi cho người cần dụng. Tuy
nhiên các nghiên cứu này chưa đề cập tới việc ứng dụng quản lý công nghệ
thông tin đối với việc quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
James R. Clifton và Georgefriff đã có công trình nghiên cứu về “Ứng
dụng máy tính và công nghệ thông tin – Application and technology
information”. Hai tác giả này cũng phân tích tác dụng của việc ứng dụng máy
tính và công nghệ thông tin trong thư viện, đặc biết hai tác giả cũng phân tích
và so sánh việc sự dụng phương pháp truyền thống và phương pháp ứng dụng
công nghệ thông vào thư viện. Kết quả cho thấy việc ứng dụng công nghệ
thông tin hiệu quả hơn.
Tóm lại đã có nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về việc ứng
dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào
4
liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ.
3. Mụ đí
và
iệm vụ
i
ứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý các đề
tài nghị định thư tại Bộ KH&CN, từ đó đưa ra các giải pháp, biện pháp, định
i
ứu
- Phương pháp luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận dựa trên công trình
nghiên cứu, bài báo trong và ngoài nước. Luận văn có sự kế thừa từ một số đề
tài khác.
5
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp, tham
khảo ý kiến chuyên gia.
6. Ý
ĩ
uậ v t ự tiễ
ủ
uậ vă
Ý nghĩa khoa học: Xác định được tầm quan trọng của hoạt động quản
lý nhà nước các nhiệm vụ KH&CN.
Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu này chủ yếu là phân tích thực trạng
quản lý các đề tài nghị định thư thông qua ứng dụng công nghệ thông tin tại
Bộ KH&CN để đưa ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước các nhiệm vụ KH&CN.
1.1.1 .Khái niệm về quản lý nhà nước
Theo giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước”, khái niệm “quản lý
nhà nước” được nhắc đến như sau:
“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền
lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người
để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng
CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. [Học viện Hành chính Quốc gia, 2004,
trang 407]
Theo TS. Uông Chu Lưu - Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong báo cáo “Một
số vấn đề lý luận về phân cấp quản lý nhà nước”, Ông đưa ra khái niệm như
sau về quản lý nhà nước:
“Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà
nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội.
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các
cơ quan nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành
được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để
thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan
hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao
nhiệm vụ quản lý nhà nước).
7
Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên
kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý. [TS. Uông Chu Lưu, 2010, trang 1]
Nhìn chung, có thể hiểu, Quản lý nhà nước là sự điều hành xã hội của
các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thì quyền lực
29/2013/QH13, 2013, Điều 4]
Đồng thời, Luật KH&CN cũng đề cập cục thể đến các vấn đề liên quan
đến nhiệm vụ KH&CN như sau:
"Nhiệm vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức chương
trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học
và công nghệ và các hình thức khác.
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm
nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở
do cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 27 của Luật này xác định. Nhiệm
vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo
hình thức đặt hàng.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân đề xuất
ý tưởng khoa học, nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Chính phủ quy định tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ
các cấp phù hợp với từng giai đoạn phát triển và lĩnh vực khoa học và công
nghệ; biện pháp khuyến khích đề xuất ý tưởng khoa học, nhiệm vụ khoa học
và công nghệ". [Luật số: 29/2013/QH13, 2013, Điều 25, Chương IV].
1.1.3. Một số chính sách liên quan đến quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Căn cứ vào Luật khoa học và công nghệ 2013, trong thời gian quan Bộ
Khoa học và Công nghệ đã ban hành một số các văn bản luật, nghị định và
thông tư qui định chi tiết về chính sách có liên quan đến quản lý nhiệm vụ
khoa học và công nghệ:
- Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khoa học và
công nghệ.
10
- Thông tư số 05/2014/TT-BKHCN ngày 10 tháng 04 năm 2014 của
hội đồng đánh giá các đề xuất từ các bộ và đồng thời đề nghị hội đồng xem
xét các đề xuất đó có phù hợp với nhu cầu hiện tại của đất nước và khả năng
của nhà khoa học và đơn vị chủ quản. Việc làm này có nghĩa là Bộ Khoa học
và Công nghệ đặt lại đầu bài nghiên cứu thông qua từ vấn của hội đồng khoa
học. Việc đặt đầu bài phải có ba phần như sau: (1) Tên nhiệm vụ nghiên cứu;
(2) Mục tiêu nghiên cứu và (3) Kết quả dự kiến đặt được. Xong bước xác định
nhiệm vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt nhiệm vụ đó.
Tuyển chọn các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (bước 3)
Việc tuyển chọn phải dựa vào tiêu chí công khai, minh bạch và cạnh
tranh. Do vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ tiến hành cho phép đăng trên mạng
của Bộ Khoa học và Công nghệ để cho tất cả các nhà khoa học và công nghệ
tham gia tuyển chọn. Thời gian đăng trên mạng thường là một tháng. Sau thời
gian đăng trên mạng, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp nhận những hồ sơ
đăng ký tuyển chọn. Sau khi nhận hồ sơ, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiến
hành tổ chức mở hồ sở và xem xét tính hợp lệ của các hồ sơ đó. Nếu các hồ sơ
hợp lệ thì Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tổ chức hội đồng tuyển chọn các
nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Việc đánh giá sẽ tiến hành chấm điểm và
nhiệm vụ nào đạt được số điểm cao nhất thì sẽ được cấp kinh phí thực hiện.
Thẩm định kinh phí cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ (bước 4)
Sau khi hội đồng tuyển chọn đã chọn được nhiệm vụ khoa học và công
nghệ, hội đồng thẩm định kinh phí tiếp tục họp thẩm định kinh phí cho từng
hoạt động nghiên cứu và triển khai trong nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (bước 5)
Theo thông tư qui định trong quá trình triển khai nhiệm vụ khoa học và
công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiến hành kiểm tra và giám sát quá
trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Định kỳ 6 tháng Bộ sẽ tiến
hành kiểm tra để thấy được những khó khăn và thuận lợi, từ đó đưa ra những
12
mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông
tin. Vì vậy, do đó người làm trong ngành này thường được gọi là các chuyên
gia CNTT hoặc cố vân quy trình doanh nghiệp và bộ phận của một công ty
hay đại học chuyên làm việc với CNTT thường được gọi là phòng CNTT.
Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa
trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin
của chính phủ Việt Nam, như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ
yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có
hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong
mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."
Còn trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức
tích hợp vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra
rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời
của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng
của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành
hiện thực
* Ứng dụng công nghệ thông tin
Hiểu một cách nôm na, "Ứng dụng công nghệ thông tin" là quá trình
đưa hệ thống các phương pháp khoa học, các giải pháp công nghệ, các
phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại vào trong thực tiễn các cơ quan đơn
vị, vào trong thực tiễn các hoạt động, các công tác, nhằm tổ chức, khai thác sử
14
dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, đáp ứng nhu cầu về thông tin trong
mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội.
* Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý
Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát
hoặc trang thông tin điện tử cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho
người dân và doanh nghiệp.
Để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu trên, Chính phủ đã đưa ra các hoạt
động triển khai cụ thể sau:
Thứ nhất, để nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà
nước, các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện cải tiến quy trình công
việc, thủ tục và chuẩn hóa nghiệp vụ; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả ứng dụng các hệ thống thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành và
quản lý của các cơ quan nhà nước, bao gồm các nội dung chủ yếu như: hệ
thống thư điện tử; hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành và số hóa
nguồn thông tin chưa ở dạng số theo thứ tự ưu tiên về thời gian và tầm quan
trọng; tăng cường sử dụng văn bản điện tử; phát triển và cung cấp thông tin
trực tuyến phục vụ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; thông tin công
khai về tuyển dụng, chế độ lương, hưu, bảo hiểm, khen thưởng và kỷ luật. Các Bộ,
Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương cũng cần tiếp tục xây dựng và triển khai việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ phù hợp với đặc thù của từng đơn vị.
Bên cạnh đó, các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với
các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; các cuộc họp của các Bộ, Cơ quan ngang
Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương với các cơ quan trực thuộc cần đảm bảo thực hiện từ xa.
16
Thứ hai, để đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp, Bộ, Cơ quan
ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
đòi hỏi các Bộ, Ngành và đơn vị liên quan phải tiếp tục xây dựng và phát triển
đội ngũ giám đốc công nghệ thông tin; bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông
tin cho cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước; nghiên cứu xây dựng
chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức chuyên trách về công nghệ thông tin;
tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý dự án công nghệ thông tin
và đẩy mạnh ứng dụng đào tạo trực tuyến cho cán bộ, công chức.
Một số giải pháp thực hiện
Rõ ràng, việc thực hiện và hoàn thành các mục tiêu lớn nói trên không
hề đơn giản. Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt các mục tiêu đề ra, trong thời
gian tới, các Bộ, ngành và đơn vị liên quan cần triển khai thực hiện tốt các
giải pháp sau:
Một là kết hợp chặt chẽ việc triển khai Kế hoạch ứng dụng công nghệ
thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước với việc thực hiện Chương
trình cải cách hành chính để ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
của cơ quan nhà nước có tác dụng thực sự thúc đẩy cải cách hành chính và
tăng hiệu quả của ứng dụng công nghệ thông tin.
Hai là đa dạng hóa các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin và nâng
cao hiệu quả đầu tư về sử dụng điện thoại, thư điện tử, nhắn tin và các hình
thức thông tin liên lạc khác để cung cấp thông tin phục vụ người dân và doanh
nghiệp, không giới hạn chỉ sử dụng Internet, mạng máy tính.
Ba là tăng cường liên hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức, đoàn
thể và doanh nghiệp để thực hiện tốt các dịch vụ trực tuyến và các hệ thống
thông tin, đảm bảo việc ứng dụng công nghệ thông tin ổn định, thường xuyên.
Bên cạnh đó, trong thời gian tới cần triển khai các hình thức thuê dịch
vụ công nghệ thông tin; khuyến khích tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp áp
dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công nghệ thông tin; tổ
chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về các lợi ích
18
lý, nhằm tổ chức, khai thác sử dụng có hiệu quả tài nguyên thông tin, đáp ứng
nhu cầu về thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động của cơ quan, của xã hội.
"Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý" là quá trình đưa hệ thống các
phương pháp khoa học, các giải pháp công nghệ, các phương tiện và công cụ
kỹ thuật hiện đại vào trong thực tiễn các hoạt động điều khiển, dẫn hướng các
bộ phận của một tổ chức, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài
nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình).
Ứng dụng thông tin trong quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Như đã nêu ở trên chúng ta có 7 bước trong chu kỳ của nhiệm vụ khoa
học và công nghệ. Chúng ta có thể áp dụng công nghệ thông tin trong hầu hết
các bước này. Từ khâu đề xuất cho đến nộp sản phẩm cuối cùng.
1.3. Cá ti u
í đá
iá để đá
iá hiệu quả của ứng dụng công nghệ
thông tin trong các nhiệm vụ khoa học và công nghệ
1.3.1. Tính công khai và minh bạch.
Trong quản lý cũng như quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ,
việc công khai các đề xuất và kết quả đóng vai trò quan trọng. Do vậy, việc
đăng lên mạng các thông tin liên quan đế nhiệm vụ khoa học và công nghệ là
rất cần thiết để đảm bảo được tính công khai, minh bạch và cạnh tranh.
1.3.2. Tính chính xác
Các số liệu có trong cơ sở dữ liệu và đồng thời là những dữ liệu cặp
nhật thường xuyên nên đó là dữ liệu mới nhất và chính xác nhất.
1.3.3. Thời gian tính