PHẦN MỞ ĐẦU
1. Về tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp. Có rất nhiều công trình
nghiên cứu về văn hóa của nhiều tác giả khác nhau đưa ra nhiều khái niệm,
các nội dung, các giá trị của văn hóa và cách thức phát triển của văn hóa như
thế nào. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, việc phát huy đúng và có hiệu
quả các giá trị của văn hóa vào hoạt động của doanh nghiệp là những nhân tố
đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp như một cơ chế sống là vì con người làm cho doanh
nghiệp hoạt động và hình thành nề nếp đã mang lại ý nghĩa và mục đích cho
hoạt động của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, chuẩn
mực, kinh nghiệm, cá tính và bầu không khí của doanh nghiệp mà khi liên kết
với nhau tạo thành “phương thức mà chúng ta hoàn thành công việc đó”.
Thực chất, văn hoá doanh nghiệp là cơ chế tương tác với môi trường.
Mỗi doanh nghiệp đều có một nề nếp tổ chức định hướng cho phần lớn
công việc trong nội bộ. Nó ảnh hưởng đến phương thức quyết định của nhà
quản trị, quan điểm của họ đối với những chiến lược và điều kiện môi trường
của doanh nghiệp. Nề nếp đó có thể là nhược điểm gây ra các cản trở cho việc
hoạch định và thực hiện chiến lược hoặc là ưu điểm thúc đẩy các hoạt động
đó. Các doanh nghiệp có nề nếp mạnh, tích cực có nhiều cơ hội để thành công
so với các doanh nghiệp có nề nếp yếu kém hoặc tiêu cực.
Đối với doanh nghiệp điều hết sức quan trọng là làm sao xây dựng
được một nề nếp tốt khuyến khích nhân viên tiếp thu được các chuẩn mực đạo
đức. Nếu nề nếp tạo ra được tính linh hoạt và khuyến khích việc tập trung chú
ý đến các điều kiện bên ngoài thì sẽ tăng cường khả năng của doanh nghiệp
thích nghi với các biến đổi môi trường. Một trong các bộ phận chính của các
1
nhà quản trị là phải hình thành được các giá trị phẩm chất của chức bằng cách
mạnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy, các tập đoàn kinh tế lớn trong nước như
VINGROUP, HUD, VINAMILK…. là những đơn vị có văn hóa doanh
nghiệp phát triển rất mạnh, trong những năm qua, nền kinh tế thế giới và
trong nước gặp khủng hoảng nhưng các đơn vị này luôn phát huy được sức
mạnh nội tại, vượt qua khó khăn và vươn lên trở thành đầu tầu, kéo theo sự
phát triển của các doanh nghiệp khác.
Với sự bùng nổ của công nghệ, trong khoảng 20 năm trở lại đây, các
doanh nghiệp công nghệ thông tin phát triển với số lượng lớn. Trong tổng số
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin hiện nay trên địa
bàn thành phố Hà Nội, doanh nghiệp chiếm tới 90% nhưng thị phần của các
doanh nghiệp này lại không nhiều. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có thị
phần và phát triển mạnh là các doanh nghiệp lớn, với văn hóa doanh nghiệp
được quan tâm, phát triển mạnh như FPT, CMC, MISA JSC, Tinh Vân,
Viettel… từ đó đặt ra vấn đề là phải chăng phần lớn các doanh nghiệp công
nghệ thông tin chưa chú trọng tới việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp với
những đặc trưng nghề nghiệp?
Đề giải quyết vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài "Văn hóa doanh
nghiệp trong các doanh nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố
Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu và luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Quản trị
kinh doanh tại Trường Đại học Kinh tế với mong muốn áp dụng kiến thức, kỹ
năng được đào tạo vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn, giúp các doanh nghiệp
3
công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội có được những lợi thế cạnh
tranh để phát triển tốt hơn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu để đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển văn
4. Đóng góp của luận văn.
Đề tài được nghiên cứu với mong muốn có một số đóng góp như sau :
- Nghiên cứu, tìm hiểu, hệ thống hóa một cách chi tiết các lý luận về
vấn đề văn hóa doanh nghiệp
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đồng thời nghiên cứu, tổng kết các kinh nghiệm triển khai từ một số doanh
nghiệp.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc xây dựng văn hóa
doanh nghiệp tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
thì luận văn gồm có 4 chương như sau:
CHƯƠNG I: Tổng quan tình hình nhiên cứu và cơ sở lý luận
CHƯƠNG II: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
CHƯƠNG III: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại các doanh nghiệp
công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội
CHƯƠNG IV:Định hướng và đề xuất một số giải pháp nâng cao văn
hóa doanh nghiệp của các doanh nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn
thành phố Hà Nội
5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ
SỞ LÝ LUẬN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu xây dựng văn hoá doanh nghiệp nhận được sự quan tâm rất
của TS. Nguyễn Viết Lộc như Những yếu tố tâm lý – xã hội cản trở đến văn
hóa doanh nhân Việt Nam trên Tạp chí Kinh tế phát triển, chuyên san tháng
6/2011, Tinh thần kinh doanh – cơ sở xây dựng hệ giá trị văn hóa doanh nhân
Việt Nam trên chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, tập 27,số 4 năm 2011 của
tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nộị hay Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh
với đề tài Văn hóa doanh nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Đặc biệt trong ngành CNTT tại Việt Nam hiện nay, có nhiều tác giả trẻ
nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp của các doanh nghiệp lớn như FPT,
CMC, MISA JSC… để làm khóa luận tốt nghiệp hay luận văn thạc sỹ của
mình.
Các nghiên cứu trên đều cho thấy sự quan trọng của việc xây dựng văn
hóa doanh nghiệp, nhân tố sống còn để phát triển và tăng sức cạnh tranh trên
thương trường của các doanh nghiệp. Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên
cứu về xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp
công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố Hà Nội để đưa ra mô hình phát
triển và quy trình triển khai phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của các doanh
nghiệp trên địa bàn thủ đô Hà Nội.
7
8
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người 1.
Dưới mỗi góc nhìn và cách tiếp cận, mỗi tác giả nghiên cứu lại xem xét văn
Năm 2002, UNESCO định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật
chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và
nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung
sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin..
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả kế thừa quan điểm tại
định nghĩa: văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Về phân loại văn hóa, cũng căn cứ vào cách đánh giá và góc nhìn của
mỗi học giả, ta có sự phân chia về văn hóa bao gồm: Văn hóa tinh thần và văn
hóa vật chất; Văn hóa lý tưởng và văn hóa thực tế; Phân theo loại hình văn
hóa; Phân theo đối tượng hình thành văn hóa;
Văn hóa có 3 đặc tính cơ bản gồm: Tính hệ thống, tính giá trị và tính
lịch sử, tính nhân sinh.
Tính hệ thống: Ngay trong định nghĩa đã thể hiện điều này. Nó giúp
cho văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, góp phần tăng sự ổn
định của xã hội, cung cấp cho xã hội phương tiện cần thiết ứng phó với sự
biến đổi của môi trường tự nhiên và bản thân nó trong quá trình vận hành.
Tính giá trị: đặc tính này thể hiện qua sự phân loại về văn hóa. Nếu
chia văn hóa theo chất liệu thì văn hóa có giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Theo ý nghĩa, phân chia giá trị văn hóa thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức,
10
giá trị thẩm mỹ. Theo thời gian, phân chia thành giá trị vĩnh cửu, giá trị nhất
thời…
Tính lịch sử: Nó thể hiện ở chỗ văn hóa bao giờ cũng được hình thành
từ một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Chính đặc tính này tạo cho
loại hình chính, gồm: văn hóa mạnh và yếu; văn hóa kém hiệu quả; văn hóa
thích ứng2.
Trong đó, văn hóa mạnh là: là một tổng thể có kết cấu thống nhất và
mạnh mẽ, bao gồm 2 mối quan hệ bên trong và bên ngoài có tác động qua lại
với nhau.
Văn hóa yếu là: tồn tại bên trong nhiều văn hóa nhỏ, có ít các tiêu
chuẩn, giá trị và thói quen chung, truyền thống kinh nghiệm.
Văn hóa kém hiệu quả là: thường áp dụng đối với dạng sử dụng văn
hóa doanh nghiệp với mục đích thống trị tư tưởng. Phân tích sâu hơn đó là, tại
các doanh nghiệp đó các nhà quản trị tiến hành các quyết định theo hướng
thống trị duy nhất. Loại văn hóa này khiến cho doanh nghiệp luôn phải đối
mặt với sự biến đổi nhưng bản thân văn hóa nội tại của doanh nghiệp lại khó
biến đổi thích ứng. Văn hóa đề cao các nhà quản trị nắm rõ về công tác quản
lý hơn là các nhà quản trị hiểu về sứ mạng, tầm nhìn, các chiến lược, khả
năng cạnh tranh, … Dạng khép kín, không chịu tiếp thu học hỏi các chuẩn
mực và phương pháp khác bên ngoài tổ chức.
Văn hóa thích ứng là: Là loại hình văn hóa mà ở đó Các thành viên chia
sẻ những cảm nghĩ riêng để tổ chức có thể giải quyết bất cứ mối đe doạ nào,
dễ dàng tiếp thu và chấp nhận các tình huống nguy hiểm, sự thử nghiệm mới,
sự đổi mới, thay đổi các chiến lược và thói quen nếu như cần thiết nhằm đáp
ứng quyền lợi của các bên liên quan.
Quy chiếu các đặc tính cơ bản của văn hóa đối với văn hóa doanh
nghiệp có thể thấy, tính hệ thống của văn hóa doanh nghiệp cũng được thể
2 Bài giảng: Văn hóa doanh nghiệp & Lãnh đạo chiến lược trong thực thi chiến lược – Bộ môn Quản trị
chiến lược – Đại học Thương mại.
12
hiện thông qua các biểu hiện của từng cá nhân trong tổ chức. Cụ thể là mọi
định được dạng văn hóa doanh nghiệp, chiến lược nào để áp dụng tăng cường
văn hóa doanh nghiệp. Theo đó, nó mang dấu ấn lịch sử của những người đã
từng là lãnh đạo của doanh nghiệp đó.
1.2.2. Công nghệ thông tin và Doanh nghiệp công nghệ thông tin
1.2.2.1. Công nghệ thông tin
Công nghệ Thông tin (CNTT)(Information Technology hay là IT) là
một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để
chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin.
CNTT là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau
như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ
lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc
dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức
trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa
phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực CNTT. CNTT
cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các
chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông
tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất.
Từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã có
những định nghĩa cơ bản về ngành này. Theo đó, CNTT là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ
yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm
tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. CNTT phục vụ
trực tiếp cho hoạt động cải cách trong quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả
của các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội
khác, từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. CNTT
14
nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả
năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. (CT số 58-CT/TW ngày 17- 10- 2000 của BCT khoá VIII). Tác
động của CNTT đối với xã hội loài người vô cùng to lớn, nó không chỉ thúc
đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong
phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người Trong
nền kinh tế tri thức, các quy trình sản xuất đều được tự động hoá. Máy móc
không chỉ thay thế con người những công việc nặng nhọc, mà thay thế con
người ở những khâu phức tạp của sản xuất và quản lý, không chỉ thay thế thao
tác lao động của con người mà cả thao tác tư duy. Trong nền kinh tế toàn cầu,
với sự phát triển của internet, thương mại điện tử đang trở thành một lĩnh vực
phát triển rất mạnh mẽ, nó thúc đẩy các ngành sản xuất dịch vụ trên phạm vi
toàn thế giới, và đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển, nhất là đối
với vùng xa xôi hẻo lánh, các nước và các vùng này có cơ hội tiếp cận thị
trường quốc tế. CNTT là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri
thức. Mạng thông tin là môi trường lý tưởng cho sự sáng tạo, là phương tiện
quan trọng để quảng bá và nhân rộng nhanh vốn tri thức, động lực của sự phát
triển, thúc đẩy phát triển dân chủ trong xã hội, phát triển năng lực của con
người…CNTT sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự
chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã
hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người. Đối với y tế, việc ứng
dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT đã trở thành một hình
thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc chữa bệnh
cho nhân dân. Ví dụ, hiện nay đã dùng công nghệ siêu âm 3D (ba chiều), hoặc
các bác sĩ có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khác nhau trên thế
giới). Sử dụng CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương pháp điều trị cho
16
trình dân chủ hoá lại được mở rộng và có nhiều điều kiện để thực hiện như
bây giờ. CNTT đi vào cuộc sống sẽ lan toả đến mọi nơi, mọi lĩnh vực, máy
tính sẽ có mặt ở khắp mọi nơi, việc kết nối mạng cũng trở nên dễ dàng và
thuận tiện nhất cho tất cả mọi người dân. Bên cạnh đó, mặt trái của CNTT ,
của nền kinh tế tri thức đang đặt ra những thách thức rất lớn, đó là sự cách
biệt giàu nghèo, sự phân hoá giữa một bên là các quốc gia, dân tộc biết nắm
bắt và khai phá những nguồn lợi từ CNTT , hạn chế những mặt tiêu cực mà
nó đưa lại với các quốc gia dân tộc không có hoặc chưa phát triển những công
nghệ đó. Vì vậy với sự phát triển như vũ bão của CNTT hiện nay, quốc gia
nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được CNTT thì sẽ khai
thác được nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình. Và cũng chính từ đây nảy
sinh một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như nước ta đó là
làm thế nào để phát huy được thế mạnh của CNTT thúc đẩy sự phát triển của
xã hội mà không mất đi văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc. Sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay tất yếu phải khai thác được
những tiềm năng thế mạnh của CNTT, thúc đẩy những ứng dụng và phát triển
CNTT, coi đó là một điều kiện cần thiết để đạt được những mục tiêu của giai
đoạn đẩy mạnh nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.2.2. Doanh nghiệp Công nghệ thông tin
Doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp thì “Doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh. Trong đó, quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như
vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức
18
Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
nguồn vốn
Số lao
động
Doanh nghiệp vừa
Tổng nguồn
Số lao động
vốn
từ trên 10 từ trên 20 tỷ
I. Nông, lâm
10 người 20 tỷ đồng
người đến đồng đến
nghiệp và thủy sản trở xuống trở xuống
200 người 100 tỷ đồng
từ trên 10 từ trên 20 tỷ
II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng
người đến đồng đến
xây dựng
trở xuống trở xuống
200 người 100 tỷ đồng
19
từ trên 200
người đến
300 người
Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất
và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua
bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng.
Sản phẩm nội dung thông tin số là sản phẩm nội dung, thông tin bao
gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được
lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng.
Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi
trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, khai thác, phát
20
hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt
động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số.
1.2.2.4. Những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp CNTT
- Mới thành lập: trong vòng khoảng 20 năm trở lại đây
Về số năm hoạt động, các doanh nghiệp CNTT chủ yếu được thành lập
và hoạt động trong khoảng từ 10 năm trở lại đây, trong đó 36% số doanh
nghiệp có từ 5 đến 10 năm kinh nghiệm, 27% số doanh nghiệp có từ 2 đến 5
năm hoạt động. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm không
nhiều (chiếm khoảng trên 10%). Đặc biệt, số lượng các doanh nghiệp mới
thành lập là hoạt động trong khoảng 2 năm chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Những
doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phần mềm và nội dung
số. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng phát triển và có cơ hội cho các doanh
nghiệp mới thành lập, đặc biệt là những doanh nghiệp có những sản phẩm,
giải pháp công nghệ tiên tiến, phù hợp với xu hướng và nhu cầu thực tiễn của
xã hội.
Các doanh nghiệp chủ yếu hoạt động tại các quận nội thành Hà Nội do
thuận lợi về điều kiện giao thông, thuận tiện trong quá trình giao dịch... Tuy
nhiên, đây cũng là điểm hạn chế, đặc biệt đối với những doanh nghiệp hoạt
Tổng số lao động từ 50 đến duới 200
18.86
Tổng số lao động có 200 lao động trở lên
8.77
Không khai báo
19.74
(Nguồn: Sở Thông tin và Truyền thông TP Hà Nội)
Qua số liệu trên có thể thấy, đa số các doanh nghiệp có qui mô vừa và
nhỏ. Số lượng doanh nghiệp có dưới 50 lao động chiếm trên 50%. Chỉ có
khoảng 8% số doanh nghiệp CNTT có trên 200 lao động. Số lượng nhân lực
của doanh nghiệp là một tiêu chí rất quan trọng thể hiện qui mô của doanh
nghiệp.
Về doanh thu của các doanh nghiệp CNTT:
Bảng 1.3. Phân loại Doanh nghiệp CNTT theo doanh thu (năm 2014)
Thống kê doanh thu
Tỉ lệ (%)
Doanh thu dưới 1 tỷ
4.39
Doanh thu từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ
8.77
Doanh thu từ 5 tỷ đến dưới 15 tỷ
7.02
Doanh thu từ 15 tỷ trở lên
19.74
22
Thống kê doanh thu
1273
2763
2431
2485
phần cứng
Công nghiệp
1756
2958
7044
7246
6832
phần mềm
Công nghiệp
2844
2312
3289
3883
4498
23
nội dung số
(Nguồn: Sách trắng CNTT Việt Nam 2014)
Từ năm 2011 đến 2013, tổng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong
ngành công nghiệp phần mềm và nội dung số chiếm tới hơn 90% số lượng
doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp CNTT . Đại đa số các
doanh nghiệp này là doanh nghiệp tư nhân, hoạt động theo mô hình công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và một số hình thức khác. Bên cạnh đó,
có một số doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài có đầu tư vào
công ty, nhân viên thoải mái và chủ động hơn trong việc định hướng cách
nghĩ và cách làm của mình, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như: chất
lượng sản phẩm, chi phí, sự linh hoạt (trước phản ứng của thị trường), thời
gian giao hàng… Để có được những lợi thế này doanh nghiệp phải có những
nguồn lực như nhân lực, tài chính, công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu,
phương pháp làm việc (phương pháp 5 M: man, money, material, machine,
method). Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệu đóng vai trò lợi thế
so sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng. Nguồn nhân lực đóng vai trò
tham gia toàn bộ quá trình chuyển hoá các nguồn lực khác thành sản phẩm
đầu ra.
Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong:
(1) quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranh như chất lượng sản
phẩm, thời gian giao hàng;
(2) tác động đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hoá doanh nghiệp.
(3) ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và
chính sách;
(4) tạo ra tính định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanh
nghiệp;
25