Cơ cấu xã hội cán bộ khối đoàn thể cấp xã huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TRANG

CƠ CẤU XÃ HỘI CÁN BỘ KHỐI ĐOÀN THỂ CẤP XÃ
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI – 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TRANG

CƠ CẤU XÃ HỘI CÁN BỘ KHỐI ĐOÀN THỂ CẤP XÃ
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. LÊ NGỌC HÙNG

HÀ NỘI, 2016

luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thường Tín, ngày 27 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trang


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CƠ CẤU XÃ HỘICỦA ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ ĐOÀN THỂ .............................................................................................. 12
1.1. Một số nội dung cơ bản ..................................................................................... 12
1.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng hồ chí minh và quan điểm của đảng cộng sản
về cán bộ đoàn thể cấp xã ......................................................................................... 14
1.3. Một số cách tiếp cận lý thuyết xã hội học ......................................................... 22
Chương 2.THỰC TRẠNG CƠ CẤU XÃ HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHỐI
ĐOÀN THỂ CẤP XÃ HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI ...................................... 26
2.1. Vài nét về vị trí địa lý- lịch sử và kinh tế-xã hội huyện Thường Tín .................... 26
2.2. Thực trạng về cơ cấu xã hội cán bộ khối đoàn thể cấp xã của huyện Thường Tín .. 30
Chương 3.CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH CƠ CẤU XÃ
HỘI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN THỂ CẤP XÃ Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ
NỘI ........................................................................................................................................... 54
3.1. Các yếu tố tác động đến cơ cấu xã hội của đội ngũi cán bộ đoàn thể cấp xã .... 54
3.2. Giải pháp điều chỉnh cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ đoàn thể cấp xã .......... 71
KẾT LUẬN............................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................. 81



công tác đào tạo đến cơ cấu xã hội của cán bộ đoàn thể xã………………………..54
Biểu đồ 3.2: Đánh giá về sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến phát triển đội
ngũ cán bộ đoàn thể………………………………………………………………...61
Biểu đồ 3.3: Đánh giá thái độ của cán bộ đoàn thể với chức năng, nhiệm vụ được
phân công…………………………………………………………………………..67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta, đội ngũ
những người cốt cán,cán bộ đoàn thể có vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò to lớn
đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cán bộ là gốc của mọi vấn đề, gốc
có tốt thì ngọn mới tốt”. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa VIII
cũng đã nêu “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Thực vậy,
hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung, của hệ thống các tổ
chức đoàn thể nói riêng suy cho cùng được quyết định bởi năng lực, phẩm chất của
đội ngũ cán bộ đoàn thể.Với ý nghĩa đó, cán bộ là lực lượng tinh hoa của xã hội, có
vị trí vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và không những có vai trò cực kỳ
quan trọng của hệ thống chính trị mà còn trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Do đó, công tác cán bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà
nước trong bối cảnh hiện nay. Thực hiện tinh thần đó, vị trí, vai trò của cán bộ và
công tác cán bộ được Đảng ta luôn coi trọng trong các kỳ đại hội. Tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định: xây dựng đội ngũcán bộ đoàn thể
trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ đoàn thể cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác;
có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ đoàn thể hoàn thành nhiệm
vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm
kỷ luật, mất uy tín với nhân dân [11]. Trước yêu cầu và áp lực của tình hình mới
hiện nay, Đảng ta xác định cần phải đổi mới trong công tác cán bộ. Một trong
những nội dung yêu cầu cần đổi mới được Đảng ta khẳng định tại Đại hội XI rằng,

bộ cấp xã tuy đã đạt tiêu chuẩn về trình độ, nhưng do độ tuổi cao, năng lực hạn chế
nhưng chưa thể bố trí, bổ nhiệm được cán bộ trẻ để thay thế; nhiều cán bộ dù đã đạt
chuẩn nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống; một số cán bộ đoàn thể cấp xã
hoạt động chưa thực sự dựa vào pháp luật, đôi khi còn giải quyết công việc theo ý
muốn chủ quan, việc ứng xử với nhân dân, với cộng đồng còn nặng về tập quán, thói
quen, tình cảm; một số cán bộ đoàn thể cấp xã (kể cả người đứng đầu cơ quan, đơn vị
chưa sử dụng hiệu quả thời gian làm việc; việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính
có phần chưa nghiêm; trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của công chức là thủ
trưởng cơ quan, đơn vị chưa phát huy đúng mức...Chính vì vậy, việc nghiên cứu và

2


hoạch định chính sách đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở đang trở thành một
yêu cầu nhiệm vụ cần phải được quan tâm thực hiện trong công tác cán bộ ở nước ta
hiện nay.
Trong những năm gần đây, Thành phố Hà Nội nói chung, huyện Thường Tín nói
riêng đã rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ đoàn thể. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện, đội ngũ cán bộ các cấp ở địa phương ngày càng tăng lên
cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong đó, tỷ lệ cán bộ các cấp có trình độ chuyên môn
và trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước chiếm khá cao, góp phần nâng cao hiệu
quả trong công việc và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do đó,
đội ngũ cán bộ đoàn thể các cấp cũng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay. Đặc biệt, muốn thúc đẩy phong trào đoàn thể huyện Thường
Tín phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nhất thiết phải nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ đoàn thể năng động, nhiệt tình, trách nhiệm vững chắc với nhịp độ cao.
Một trong những mắt khâu quan trọng củacông tác này là phải xác lập một xã hội hợp
lý trong đội ngũ cán bộ đảng, chính quyền, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đảng, chính
quyền cấp cơ sở. Bởi lẽ, cán bộ cấp cơ sở là đội ngũ trực tiếp thực hiện các chủ trương,
chính sách và là đội ngũ cán bộ bám dân, gần dân; hiểu và nắm bắt tâm tư nguyện vọng

học và đặc biệt là xã hội học... Đặc biệt nổi lên là các công trình nghiên cứu gắn liền
với tên tuổi của các tác giả: Vũ Khiêu, Phan Huy Lê, Phạm Xuân Nam, Tô Duy Hợp,
Lê Hữu Tầng, Tương Lai, Trịnh Duy Luân… đến từ Viện Khoa học xã hội Việt Nam;
các tác giả: Đỗ Nguyên Phương, Phạm Ngọc Quang, Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo,
Trịnh Quốc Tuấn, Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Đình Tấn,… thuộc Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh. Trong khoảng 30 năm trở lại đây có thể nêu ra một số sách, công
trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến cơ cấu xã hội của các tác giả như: Nguyễn Duy
Quý, Về quá trình vận động và biến đổi cơ cấu xã hội tầng lớp trí thức Việt Nam[41];
Tô Duy Hợp, Về thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng
bằng Bắc Bộ hiện nay [61]; Tương Lai, Những nghiên cứu xã hội học về cơ cấu xã hội
và chính sách xã hội [63]; Đỗ Nguyên Phương, Sự phân tầng xã hội ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay[18]; Nguyễn Quang Ngọc, Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển
của lịch sử Việt Nam[39]; Đặng Nguyên Anh, hộ gia đình và sức khỏe trẻ em: những
phát hiện qua khảo sát nhân khẩu học và sức khỏe[15].

4


Trong đó, nổi bật lên việc khẳng định: cơ cấu xã hội là một khái niệm cơ bản và
đối tượng nghiên cứu quan trọng của xã hội học. Bên cạnh đó, thông qua các bài viết
này, chủ đề nghiên cứu cơ cấu xã hội đã có sự phát triển từ nghiên cứu thuần tuý lý
luận đến khảo sát thực nghiệm về cơ cấu xã hội. Đặc biệt, đã quan tâm làm rõ vấn đề
cơ cấu lao động - nghề nghiệp và cơ cấu phân tầng xã hội trong điều kiện đổi mới của
đất nước [31]. Cũng theo tác giả Lê Ngọc Hùng cho biết, vấn đề đặt ra ở đây không
đơn giản là tên gọi mà là nội hàm khái niệm và sự hình thành, phát triển quan niệm về
cơ cấu xã hội. Về phương pháp nghiên cứu, mỗi bài viết được phân tích nội dung theo
chiều lịch đại và được phân vào từng giai đoạn cụ thể. Khái niệm cơ cấu xã hội là một
khái niệm có tính lịch sử với nghĩa là nó cũng xuất hiện, vận động và biến đổi theo thời
gian, do vậy, có thể áp dụng cách tiếp cận của Max Weber để dần dần làm sáng tỏ nội
dung khái niệm này như nó đã xuất hiện, biến đổi trong 30 năm qua ở Việt Nam. Tuy

Không những vậy, nghiên cứu về “Cơ cấu xã hội đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở
trực thuộc Công đoàn ngành nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam- Thực
Trạng và những vấn đề đặt ra hiện nay” của Đinh Thị Lê Thanh [19] đã khái quát tình
trạng cơ cấu xã hội về đội ngũ cán bộ công đoàn của các ngành Điện lực và Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn. Các nghiên cứu này phân tích thực trạng các phân hệ
cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ công đoàn và sự biến đổi cơ cấu xã hội. Đồng thời,
các nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn cơ sở
vững mạnh và có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của ngành.
Các công trình nghiên cứu cơ cấu xã hội của đội ngũ của các nhóm xã hội đã cho
thấy tính đa chiều của cơ cấu xã hội nhóm cán bộ trong hệ thống chính trị của đất nước.
Các nghiên cứu này bước đầu đã vận dụng các phương pháp, hệ khái niệm, lý thuyết và
cách tiếp cận xã hội học về cơ cấu/ xã hội để làm sáng tỏ những mục tiêu, nhiệm vụ
nghiên cứu được đặt ra. Thông qua các nghiên cứ này đã góp phần nhận diện về cơ cấu
xã hội của nhóm xã hội thuộc hệ thống chính trị ở Việt Nam (sĩ quan quân đội; cán bộ
đảng, chính quyền cấp tỉnh; cán bộ công đoàn, cán bộ khoa học…). Bên cạnh đó, qua
sưu tầm và tổng hợp tài liệu chúng tôi nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây,
chủ đề nghiên cứu về bản thân đội ngũ cán bộ đoàn thể cấp xã đã được đề cập khá nhiều
bởi các ngành khoa học: Kinh tế, Luật học, Xây dựng Đảng, Chính trị học, Triết học,

6


Chủ nghĩa xã hội khoa học… Tuy nhiên, nghiên cứu về đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp
xã theo hướng tiếp cận xã hội học dường như chưa được quan tâm một cách thỏa đáng
và tại huyện Thường Tín chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến
cán bộ khối đoàn thể cấp xã, do vậy việc nghiên cứu cơ cấu cán bộ khối đoàn thể
cấp xã là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển chung của thủ đô. Do đó,
việc triển khai nghiên cứu“Cơ cấu xã hội cán bộ khối đoàn thể cấp xã huyện Thường
Tín, Thành phố Hà Nội”có ý nghĩa quan trọng và cần thiết đối với công tác tổ chức xây

4.4.1.Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã ở Huyện
Thường Tín như thế nào ?
- Các yếu tố như sự quan tâm của cấp ủy, lãnh đạo địa phương, điều kiện kinh tếxã hội của xã, thị trấn, yếu tố bản thân của cán bộ có tác động như thế nào đến cơ
cấu xã hội của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã?
4.4.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Cơ cấu xã hội - độ tuổi của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã có xu hướng trẻ
hóa và ngày càng đáp ứng nhiệm vụ đoàn thể cũng công tác đào tạo bồi dưỡng, quy
hoạch.
- Cơ cấu xã hội - trình độ của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã có sự khác nhau
về tỷ lệ và sự thay đổi của các loại trình độ và do đó, có sự khác nhau về mức độ
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đoàn thể của các loại trình độ.
- Các yếu tố như chính sách cán bộ; sự quan tâm của lãnh đạo sự nỗ lực phấn đấu
của bản thân và thâm niên công tác - kỹ năng vận động tuyên truyền ảnh hưởng
mạnh tới cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã.
- Cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã sẽ biến đổi theo hướng
tăng cường năng lực chuyên môn nghề nghiệp và giảm bất bình đẳng xã hội nhằm
đáp ứng yêu cầu đặt ra.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Luận văn bám sát quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, các
quyết định, nghị quyết về công tác cán bộ là cơ sở lý luận trong quá trình nghiên cứu.

8


- Luận văn vận dụng phương pháp tiếp cận về cơ cấu xã hội trong nghiên cứu xã
hội học.


suất, bảng chéo tương quan.
5.2.3. Phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã thực hiện 19 cuộc phỏng vấn sâu, nhằm thu thập những thông tin
cụ thể, chi tiết về các mức độ, tần suất cũng như các yếu tố tác động đến sự biến đổi cơ
cấu của đội ngũ cán bộ.
Các đối tượng phỏng vấn bao gồm: Cán bộ khối đoàn thể 15 cuộc/15 cán bộ; Cán
bộ làm công tác tổ chức, cán bộ lãnh đạo khối đoàn thể huyện: 4 cuộc/4cán bộ.
Về phân tích dữ liệu thu thập từ phỏng vấn sâu: Dữ liệu phỏng vấn sâu được
tổng hợp và phân tích theo các tiêu chí phỏng vấn sâu hóa nhờ sự hỗ trợ lưu giữ thông
tin bằng phần mềm Excel, giúp truy xuất thông tin của người trả lời (như đặc điểm cá
nhân, nội dung trả lời) một cách dễ dàng hơn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần áp dụng, chứng minh lý thuyết và khuynh hướng tiếp cận cơ cấu xã hội
trong nghiên cứu một vấn đề thực tiễn xã hội. Thông qua đó góp phần phát triển và phổ
biến tri thức, tư duy xã hội họctrong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ khối
đoàn thể.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn về thực trạng và đưa ra đề xuất,
phương hướng và giải pháp giúp các cơ quan chức năng tham khảo và vận dụng vào
định hướng, điều chỉnh cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ đoàn thể xã, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ đoàn
thể.

10

nhân trực tiếp lao động sản xuất. Sự đánh đồng như vậy có ý nghĩa về lập trường chính
trị giai cấp nhiều hơn là khoa học và thực tiễn hành động. Một hệ quả dễ nhận thấy là
nó không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những
người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công
trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động, hành xử công vụ.
Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỷ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi
chính sự mơ hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này. Cùng với xu hướng đổi mới đất
nước và bối cảnh toàn cầu hóa, nhất là trong những năm vừa qua mà nội hàm “cán bộ”
ở nước ta đã có sự thay đổi cơ bản. Pháp lệnh cán bộ đoàn thể năm 1998 bên cạnh khái

12


niệm “cán bộ” đã được xây dựng thêm và sử dụng ghép với “công chức”, “viên chức”
để khẳng định những người là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách [57].
Có thể nói Pháp lệnh Cán bộ đoàn thể năm 1998 mặc dù đã có sự thay đổi và
phát triển rõ rệt so với những qui định trước đó, tuy nhiên còn nhiều bất cập, trong đó
có vấn đề chưa làm rõ và phân tích được những đối tượng cán bộ và công chức. Đến
năm 2003, với việc ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
Cán bộ đoàn thể, trong đó có sự phân định rõ hơn khái niệm công chức, viên chức, tuy
nhiên cũng chưa phân biệt một cách rõ ràng giữa cán bộ và công chức, chưa xác định
cụ thể cán bộ là gì. Và khoảng trống này chỉ được giải quyết khi Luật Cán bộ đoàn thể
năm 2008 xác lập. Tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ đoàn thể 2008 khẳng định: Cán bộ
là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo
nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã
hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp
tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đặc biệt, Luật Cán bộ đoàn thể
cũng xác lập cụ thể cán bộ công tác tại cấp cơ sở, tại khoản 3 Điều 4: Cán bộ xã,

Các yếu tố này được sắp xếp, thể hiện rõ qua các phân hệ cơ cấu xã hội như: phân hệ
cơ cấu xã hội - giới tính, phân hệ cơ cấuxã hội - lứa tuổi, phân hệ cơ cấuxã hội- học
vấn, phân hệ cơ cấu xã hội - trình độ lý luận chính trị…Đây là cơ sở quan trọng để xác
định, nhận diện và phân tích cơ cấu xã hội của đội ngũ cán bộ khối đoàn thể cấp xã ở
huyện Thường Tín, Hà Nội hiện nay.
1.2. Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản về cán bộ đoàn thể cấp xã
1.2.1. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, bất cứ giai cấp và chính đảng nào muốn giành và giữ
được chính quyền nhà nước thì trước hết phải có được đội ngũ những con người làm
đầu tàu, nồng cốt. Giai cấp vô sản và chính đảng của mình cũng vậy, phải đào tạo được
đội ngũ cán bộ trung thành, đáp ứng được nhiệm vụ cách mạng; đó là đội ngũ cán bộ
chuyên nghiệp, như Mác đã khẳng định rằng, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có
những con người sử dụng lực lượng thực tiễn[4]. V.I. Lênin cũng chỉ rõ, trong lịch sử
chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được

14


trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả
năng tổ chức và lãnh đạo phong trào. Chính vì thế, theo Lênin, bất kỳ đảng cầm quyền
nào đều có hai vấn đề hệ trọng là đường lối chính trị và vấn đề cán bộ, trong đó mấu
chốt là vấn đề con người và lựa chọn con người.
Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận thức rõ một cách sâu
sắc về vị trí, vai trò của người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành sự quan tâm đặc
biệt đến vấn đề này, tìm cách giải quyết một cách linh hoạt và toàn diện vấn đề đó phù
hợp với điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam. Người luôn coi, cán bộ là gốc của
mọi công việc[23] và muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc
kém[23]. Vì thế, theo Bác điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp đi tới thắng lợi là phải
có cán bộ tốt. Bởi lẽ, cán bộ là người đem những chính sách của Đảng, của Chính phủ

sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra người cán bộ đó; nếu không
như thế thì hỏng việc. Hồ Chí Minh viết rõ: “cất nhắc cán bộ không nên làm theo lối
“giã gạo”, nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi thì không
giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên; một
cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”. Hồ Chí Minh cũng đã bày
tỏ quan điểm quý trọng cán bộ khi cho rằng: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người
làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng
mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[23].
Đồng thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng là một nội dung quan trọng
trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ.Theo Bác, đây là công việc gốc
của Đảng khi đặt trong mối quan hệ với nội dung vai trò của cán bộ. Công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ là một công việc quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên. Ở
đây, có mấy điểm đáng chú ý mà Hồ Chí Minh đã nêu rõ rằng, Học phải thiết thực,
“lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”[23] và đầu tư cho công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có kinh phí tương xứng với yêu cầu, “không nên bủn xỉn về
các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện” [23].
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa và thực
tiễn sâu sắc. Đó là những quan điểm cơ bản chỉ đạo chung vào công tác đổi mới và
chỉnh đốn Đảng trong tất cả các thời kỳ hoạt động của Đảng, đặc biệt trong thời kỳ
cách mạng hiện nay, thời kỳ Đảng tiếp tục cầm quyền lãnh đạo sự nghiệp phát triển đất
nước vì những mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

16


1.2.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn xác định coi vấn đề cán bộ có tầm quan
trọng chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Từ đó, Đảng ta đặc biệt quan tâm xây
dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi của từng thời kỳ cách mạng, đó là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Xác định được tầm quan trọng đó,

quyết định đối với thực hiện tốt các Nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách và pháp pháp luật của Nhà nước. Sở dĩ là vì, cán bộ cấp cơ sở là lực lượng gần
dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân một cách kịp thời nhất và đồng thời,
cũng là lực lượng phản ánh đời sống của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ để có thể
ban hành những quyết sách phù hợp và kịp thời.
Nhận thấy được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Hội nghị Trung
ương 5 khóa IX đã đưa ra Nghị quyết “về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở”. Nghị quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong
giai đoạn hiện nay là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức, vận động
nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc,
tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân”[14].
Đại hội XI, công tác cán bộ không chỉ quan tâm đến hoạt động tuyển chọn, đào
tạo bồi dưỡng mà còn đòi phải xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ hợp lý. Điều này cho
thấy, trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, việc xác định đúng cơ cấu đội ngũ cán
bộ là nhiệm vụ cần thiết bởi vì nó có tác động trực tiếp đến việc sử dụng và bố trí cán
bộ, góp phần “bôi trơn” bộ máy nhà nước và nâng cao hiệu quả công việc; đồng thời
hạn chế tình trạng lãng phí trong công tác cán bộ.
Như vây, cán bộ và công tác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay thất
bại của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo, xây dựng đội ngũ
cán bộ gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng. Nhìn lại
thực tiễn cách mạng Việt Nam và yêu cầu tình hình mới hiện nay, Đảng và Nhà nước
ta đã có những đổi mới về cán bộ và công tác cán bộ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ và công
tác cán bộ phải có những thay đổi theo hướng có cơ cấu xã hội hợp lý, có tính chuyên
nghiệp cao, có đủ năng lực, trình độ phẩm chất, thẩm quyền để thực thi vai trò lãnh đạo
và quản lý đất nước. Những nội dung cơ bản về cán bộ, công tác cán bộ của Đảng ta
trong những năm đổi mới có thể khái quát như sau:

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status