VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN BÁ HÙNG
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN QUANG TUẤN
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quang
Tuấn. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. .................................................... 81
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CGCN
Chuyển giao công nghệ
CN
Công nghệ
DN
Doanh Nghiệp
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐH
Đại học
ĐH BKHN
SHTT
Sở hữu trí tuệ
TLO
Technology License Offce
(Văn phòng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ)
TTO
Techology Transfer Office
(Văn phòng chuyển giao công nghệ)
TTC
Techology Transfer Center
(Trung tâm chuyển giao công nghệ)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình/Bảng biểu
Trang
Hình 1.1 Chuyển đổi một ý tưởng khoa học thành sản phẩm sử dụng công nghệ
23
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng trong phương hướng và nhiệm vụ có nêu rõ
(đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững).
Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp có
công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, nhất là các máy điều khiển kỹ thuật số, hệ
thống tự động hoá, có khả năng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, nâng cao tỉ lệ nội địa
hoá sản phẩm...; nhanh chóng hình thành một số viện công nghệ công nghiệp, viện
công nghệ thăm dò và khai thác khoáng sản nước ta có thế mạnh, viện công nghệ
nông nghiệp, đủ sức nghiên cứu, phát minh, sáng chế kỹ thuật, công nghệ; gắn kết
chặt chẽ các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo với các đơn vị sản xuất
kinh doanh.
Từ năm 2010 đến nay, Chính phủ và các bộ ban nghành đã xây dựng, ban
hành hệ thống các bộ luật, các văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh
cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của
nghành Khoa học và Công nghệ nói riêng như: Luật khoa học và công nghệ số:
29/2013/QH13 (Luật này quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công
nghệ; việc tổ chức thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ; biện pháp bảo đảm
phát triển khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ);
nghị định 120/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ…Thực
trạng các kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây thực tế ứng dụng vào sản
xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà Nước.
Sứ mạng của Đại học Bách khoa Hà Nội là đem lại cho xã hội và cộng đồng
các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo
1
thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ để
nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh.
2
Xuất phát từ những thực tế nêu trên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải
pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách
Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh” để viết luận văn thạc sỹ với mong muốn
cung cấp cái nhìn tổng quát từ cơ sở lý luận đến thực tiễn ứng dụng các đề tài
nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Đề
tài sẽ phân tích và trả lời cho một số câu hỏi lớn sau: (1) thế nào là một đề tài
nghiên cứu được xem như là ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, (2) hiện nay việc
ứng dụng các kết quả nghiên cứu của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đang gặp
những khó khăn vướng mắc nào; và làm thế nào để thúc đẩy và ứng dụng các kết
quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh?
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển Khoa học Công nghệ,
trong những năm gần đây, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã có bước phát triển
vượt bậc về quy mô chất lượng đào tạo cũng như các đề tài NCKH.
“Hiện nay Trường đã và đang nỗ lực hơn nữa đem lại cho xã hội và cộng đồng
các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học,
và một phần vô cùng quan trọng là chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần
đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc
phòng và phát triển Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam”.
(nguồn: http://www.hust.edu.vn)
Tuy nhiên tình hình thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách
khoa Hà Nội hiện nay cho thấy phần lớn kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng
vào sản xuất, kinh doanh. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng đánh giá và đưa ra các
giả pháp tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu (KQNC) vào sản xuất kinh doanh
là thực sự cần thiết.
vào DN nói riêng. Một số nghiên cứu đã đề suất một số giải pháp và chính sách thúc
đẩy hoạt động thương mại hóa và CGCN từ nơi nghiên cứu vào doanh nghiệp sản
xuất. Tuy nhiên, các hoạt động CGCN, thương mại hóa KQNC đó vẫn tồn tại nhiều
hạn chế và chưa đồng bộ, chưa có chính sách thích hợp, đặc biệt các chính sách thúc
đẩy thương mại hóa KQNC từ Trường đại học vào Doanh nghiệp.
Do đặc thù của mỗi đơn vị khảo sát là khác nhau, vì vậy những giải pháp thúc
đẩy ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh được
4
đưa ra phân tích tại Đại học Bách Khoa Hà Nội trong luận văn này là chưa từng
được thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên
Đề xuất được các giải pháp tăng cường ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu
trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Một là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng kết quả nghiên
cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh.
- Hai là phân tích thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản
xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong năm năm trở lại đây.
- Ba là đề xuất giải pháp tăng cường ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa
học vào sản xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiện cứu
- Trong năm năm trở lại đây, do số lượng các đề tài nghiên cứu của Đại học
Bách khoa Hà Nội rất lớn. Nhiều đề tài nghiên cứu là những nghiên cứu mang tính
chất của nghiên cứu cơ bản. Vì vậy, đề tài chỉ tập trung phân tích các KQNC của
các doanh nghiệp trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Tìm hiểu và tổng hợp lại những thuận lợi và khó khăn,
tìm ra các nguyên nhân còn hạn chế trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát
triển của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh (trong 5 năm
qua). Từ đó tìm ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả trong NCKH và
CGCN tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
7. Cơ cấu của luận văn
Sau phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận ứng dụng, nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh
Chương 2. Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh
doanh của Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Chương 3. Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của
Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN,
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Các khái niệm về khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học
Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, có nghĩa là “kiến thức” hoặc “hiểu biết”,
là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về
cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh. Thông qua các phương pháp
kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật
chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải
thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng. Một trong những cách
thức đó là phương pháp thử nghiệm bằng mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều
kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ
về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và
tư duy.” [Luật khoa học và công nghệ 29/2013/QH13, khoản 3 điều 3].
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ
thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản
ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh
thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [Từ điển
tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.526].
Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (Science) là hệ thống tri thức gồm
những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức
trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Theo đối tượng nghiên cứu, khoa học bao gồm: (1) khoa học tự nhiên, nghiên
cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên; (2) khoa học xã hội và nhân văn,
nghiên cứu hiện tượng, quá trình, quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản
thân của con người.
- Phân loại khoa học theo mục tiêu nghiên cứu: Có khoa học cơ bản; khoa học
ứng dụng.
- Phân loại khoa học theo UNESCO: Thì bao gồm khoa học tự nhiên; khoa học
kinh tế; khoa học nông nghiệp; khoa học y học; khoa học kỹ thuật; khoa học xã hội và
nhân văn…
8
Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt
động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ
thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những
tri thức kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động
sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người.
Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức
mang tính quy luật. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới
nghệ có thể thay đổi khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên.
Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Công
nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả
nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp”. Định nghĩa này chỉ
xét ở một khía cạnh nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu
quả (như trong lĩnh vực công nghiệp mà thôi).
Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa
ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để
chế biến vật liệu và thông tin”. Sau đó định nghĩa được mở rộng, “nó bao gồm tất cả
các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ,
quản lý thông tin” [“Khái niệm công nghệ” (2000), Công tác khoa giáo, tr.43]. Định
nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin và
đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ.
Theo khoa học luận: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ
năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Đây là khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ.
Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là
tổng thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý
được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ [Từ
điển tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.270].
Tóm lại, công nghệ là toàn bộ hệ thống các công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí
quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực tự nhiên
thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Công
nghệ là bàn tay của con người được nối dài ra trong quá trình cải tạo tư nhiên..
1.1.2 Tìm hiểu các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và các hình thức
nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học bao gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách
có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã
hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới."[1] Hoạt động
10
Nghiên cứu trong các ngành nhân văn liên quan đến những phương pháp
khác nhau, chẳng hạn chú giải văn bản cổ và ký hiệu học, và một nhận thức luận
11
khác, mang tính chất tương đối luận hơn. Các học giả trong các ngành nhân văn
thường không tìm một câu trả lời đúng tối hậu cho một câu hỏi, mà khảo sát những
vấn đề và đặc điểm liên quan đến câu trả lời đó. Bối cảnh ở đây rất quan trọng, và
nó có thể mang tính xã hội, lịch sử, chính trị, văn hóa, hay chủng tộc. Một ví dụ về
nghiên cứu trong các ngành nhân văn là nghiên cứu lịch sử, bao hàm trong phương
pháp sử học. Các nhà sử học sử dụng những tài liệu gốc và những bằng chứng khác
để khảo sát một cách hệ thống một chủ đề, và từ đó viết ra lịch sử theo hình thức kể
lại quá khứ.
Nghiên cứu nghệ thuật, còn gọi là "nghiên cứu dựa trên thực hành", có thể
diễn ra khi công trình sáng tạo được xem vừa là một sự nghiên cứu vừa là một đối
tượng của nghiên cứu.
Lịch sử: Thomas Kuhn, trong cuốn sách của ông Cấu trúc của cách mạng
khoa học, tìm ra một lịch sử thú vị và phân tích quá trình phát triển của nghiên cứu.
Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền
tảng về tất cả các khía cạnh của khoa học là thiết yếu cho phát triển. Nói một cách
khác, nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước. Nếu coi
Nghiên cứu cơ bản là bước đi trước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết
quả nghiên cứu này.
Trong quản lý các hoạt động nghiên cứu, theo tính chất của sản
phẩm, nghiên cứu được phân loại thành: Nghiên cứu cơ bản (NCCB); nghiên cứu
ứng dụng (NCƯD) và nghiên cứu triển khai (NCTK).
Phân biệt các dạng nghiên cứu:
NCCB và NCƯD tuy có khác nhau về mục tiêu sản phẩm, nhưng đều là tìm
kiếm tri thức mới, chưa xác định rõ việc ứng dụng vào thực tế như thế nào nên để
chỉ hai loại nghiên cứu này, người ta dùng chung khái niệm là “NCKH” (Research
để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể
có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng.
Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm.
Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng. Nói
cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể
làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai.
Khái niệm triển khai:
13
Nội hàm: Tiến hành thực hiện một công việc, một nội dung nào đó hay đưa
một nội dung vào cuộc sống.
Ngoại diên: Tất cả việc làm.
Nói cách khác, triển khai là việc làm nhằm thực hiện hay đưa một nội dung
công việc nào đó vào cuộc sống. Người ta thường nói: Triển khai nghị quyết, triển
khai dự án, triển khai kỹ thuật, triển khao hoạt động nghiên cứu… Đó chính là việc
thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà không có sáng tạo hay
phát triển thêm cái mới (không hàm ý nghiên cứu).
Trong hoạt động KH&CN, các khái niệm phát triển và triển khai thường gắn
với khái niệm công nghệ. Đó là PTCN và triển khai công nghệ.
Phân biệt PTCN và Triển khai công nghệ
PTCN: Là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc đổi mới một cách
căn bản công nghệ đã có.
Phân loại PTCN:
PTCN theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng công nghệ (Intensive
Development of Technology hay Upgrading of Technology) nhằm sáng tạo ra công
nghệ mới hay làm cho công nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của
công nghệ có chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã
có.
vực PTCN theo chiều rộng được hiểu là mở rộng công nghệ theo cách mua, bán
công nghệ, lắp đặt hay nhân bản công nghệ đã định hình và được quản lý theo Luật
Thương mại, Luật Đầu tư và Luật Chuyển giao công nghệ.
(Theo: TC Hoạt động Khoa học, 4.2011)
+ Nghiên cứu và phát triển
Theo cục thông tin khoa học quốc gia thì Nghiên cứu và phát triển là: bất kỳ
một công việc có tính hệ thống và sáng tạo được tiến hành nhằm gia tăng nguồn tri
thức, bao gồm tri thức nhân loại, văn hóa và xã hội và sử dụng những tri thức này
để phát minh ra những ứng dụng mới.
Công tác nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới
về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra
sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng hoặc của thị trường tốt hơn. Bao gồm việc đầu tư, tiến hành và/hoặc mua bán
15
các nghiên cứu, công nghệ mới phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
R&D và cải tiến công nghệ, quy trình công nghệ luôn là mục tiêu và chức
năng quan trọng của các công ty tiên tiến, công ty đa quốc gia (TNTCs) tiên phong,
lớn trên thế giới. “Để trở thành công ty luôn dẫn đầu thị trường không còn cách gì
khác là luôn phải đi trước đối thủ một bước về phát triển sản phẩm và công nghệ để
đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng với giá cả phải chăng và chi phí tối ưu”.
Nghiên cứu và phát triển là một trong những chìa khóa thành công của nhiều
tập đoàn, công ty lớn trên thế giới. Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản là 3 quốc gia chi
tiêu cho NC và phát triển nhiều nhất, trong khi đó Việt nam đứng thứ 54 trong tổng
sô 72 quốc gia có số liệu được công bố (theo dữ liệu của Worldbank năm 2010).
1.1.3. Kết quả nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu là tác phẩm khoa học
dẫn đến mỗi người là chủ sở hữu một phần kết quả nghiên cứu căn cứ theo phần
đóng góp tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình cho nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu là sáng chế
Tác giả sáng chế có các quyền nhân thân, đó là được ghi tên là tác giả trong
bằng độc quyền sáng chế, được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới
thiệu về sáng chế. Như vậy, khác với tác giả của tác phẩm khoa học, tác giả sáng
chế không có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của sáng chế, hay nói cách khác, tác giả
sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu sáng chế hoặc người sử dụng sáng
chế cải tiến sáng chế.
Nếu tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình
để nghiên cứu tạo nên giải pháp kỹ thuật được bảo hộ là sáng chế thì tác giả là chủ
sở hữu sáng chế. Trong thực tế thì người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật
phần lớn là tổ chức hoặc cá nhân khác, do đó chính những người này mới là chủ sở
hữu sáng chế. Một trong những quyền quan trọng của chủ sở hữu sáng chế là được
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (license sáng chế) cho người khác, vì sáng chế
là một dạng tài sản vô hình, bởi vậy chủ sở hữu có thể đồng thời chuyển license
(không độc quyền) sáng chế cho nhiều người khác nhau.
Việc phân định quyền lợi vật chất đối với sáng chế giữa tác giả sáng chế và
chủ sở hữu sáng chế trong trường hợp vừa nêu không khó, nó căn cứ vào thỏa thuận
giữa các bên hoặc theo luật định. Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả cho
17
tác giả là 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, 15%
tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do license
sáng chế.
Trong lĩnh vực quản lý SHTT, có một thuật ngữ chuyên môn, đó là thuật ngữ
“sáng chế công nghệ” (Employee Invention) dùng để chỉ trường hợp sáng chế được
tạo tạo ra trong quá trình tác giả của nó thực hiện công vụ.
Nếu nhiệm vụ chính của tác giả trong quá trình thực hiện công vụ là phải nghiên
Các định nghĩa trên đưa ra khái niệm khác nhau về chuyển giao công nghệ,
cách hiểu bản chất và phạm vi của từng định nghĩa có khác nhau nhưng trong đó nổi
lên hai nhóm thuật ngữ về đối tượng chuyển giao và mục đích của chuyển giao. (1)
Đối tượng của chuyển giao: có thể là kiến thức (hoặc các hoạt động liên quan đến
kiến thức như đào tạo, bồi dưỡng...); thông tin; thiết bị. (2) Mục đích của chuyển
giao: để sản xuất, áp dụng các quy trình và thực hiện dịch vụ; giải quyết các vấn đề
xã hội và thương mại... nhấn mạnh đến việc thay đổi môi trường công nghệ sang
một địa điểm khác, một môi trường khác.
Chuyển giao công nghệ có thể diễn ra: Từ một ngành công nghiệp sang
ngành khác; từ một tổ chức này sang tổ chức khác; bên cạnh bản chất của chuyển
giao, trong các định nghĩa còn thấy xuất hiện hai loại nhóm thuật ngữ đối tượng của
chuyển giao và mục đích của chuyển giao.
Đối tượng của chuyển giao (chuyển giao cái gì) có thể thấy: Kiến thức;
Thông tin; Thiết bị (hoặc các hoạt động liên quan đến kiến thức như đào tạo, học
hỏi...). Thực ra việc nêu ra các đối tượng chuyển giao trong các định nghĩa là không
cần thiết vì có thể nêu thẳng thuật ngữ “công nghệ” và đương nhiên hiểu nó ứng với
các khái niệm về công nghệ đã được thống nhất từ trước. Đến đây, chúng ta thấy rõ
ràng là khái niệm “chuyển giao công nghệ” sẽ có nội dung tùy thuộc vào cách hiểu
thuật ngữ “công nghệ” đã được quy ước trước.
Mục đích của chuyển giao (chuyển giao để làm gì) chúng ta thấy: để sản
xuất, áp dụng quy trình và thực hiện dịch vụ; Giải quyết vấn đề xã hội và thương
mại. Qua ba loại vấn đề được xem xét trên, trong một định nghĩa hợp lý về chuyển
giao công nghệ có thể sẽ chỉ cần nhấn mạnh đến hai ý: bản chất của chuyển giao và
mục đích của chuyển giao.
Trên khía cạnh pháp luật, Luật chuyển giao công nghệ (2006) quy định:
“Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một
19
phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên