1
Luận văn thạc sĩ khoa học
Chuyên ngành: chính sách khoa học và công nghệ
Mó số 60.34.70
Khoỏ 2005-2008
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Huy Tiến
Hà Nội, 2008 2
Mục lục……………………………………………………………….……….…. 2
Các ký hiệu viết tắt trong luận văn…………………………………………………. 4
Lời cảm ơn…………………………………………………………………………… 5
29
1.3. Một số mô hình có liên quan………………………………… …………… 31
1.3.1. Mô hình công nghệ đẩy …………………………………………………… 31
1.3.2. Mô hình thị trường kéo ……………………………………………… …… 31
1.3.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Giang ……… 32
3
13.4. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ một số tỉnh …………….
33
Kết luận chương I …………………………………………………………………
33
Chương II: Cơ sở thực tiễn của quá trình xác định
nhiệm vụ nghiên cứu KH&CN tỉnh Bắc Giang …………………… 35
2.1. Những vấn đề tác động đến hoạt động nghiên cứu-
ứng dụng KH&CN của tỉnh Bắc Giang …………………………… …… 35
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh ảnh hưởng
đến hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN ………………………… …
35
2.1.2. Hệ thống tổ chức quản lý và hệ thống cơ quan
nghiên cứu triển khai của tỉnh ………………………………………….… 37
2.1.3. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh …………………… …. 39
2.1.4. Thực trạng công nghệ thiết bị phục vụ công tác
nghiên cứu ứng dụng KH&CN của tỉnh ……………………………….… 41
2.1.5. Quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu ứng dụng
KH&CN của tỉnh giai đoạn 2001-2006 ………………………………….… 42
2.2. Khái quát về nghiên cứu ứng dụng KH&CN
ở Bắc Giang giai đoạn 2001-2006 …………………………………………. 43
2.2.1. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực ………………………………….… 44
2.2.2. Những tồn tại …………………………………………………………….…. 49
2.3. Kết quả nghiên cứu …………………………………………………………. 50
Kết luận ……….…………………………………………………………………… 86
1. Kết luận ……………………………………….…………………………………. 86
2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu ……………….……………………… 86
3. Những khuyến nghị ………………………………………….…………………. 87
Tài liệu tham khảo ….………… ……………………………………………. 88
Phần phụ lục …………………………………………………………………. … 91
Khoa học xã hội và nhân văn
6 Lời cảm ơn
Từ khi thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự động viên, ủng hộ, giúp đỡ
và cung cấp thông tin rất nhiệt tình của bạn bè đồng nghiệp, của các đồng chí
lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, lãnh đạo một số Sở, ngành, huyện, thành
phố của tỉnh Bắc Giang. Đặc biệt các nội dung nghiên cứu đã được sự chỉ bảo,
hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Huy Tiến cùng các thầy, cô trong Viện
7
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và hợp tác quốc tế ngày một phát triển, càng đặt ra
những yêu cầu mới hết sức khó khăn cho hoạt động quản lý KH&CN nói chung
và hoạt động nghiên cứu-ứng dụng KH&CN nói riêng. Làm sao để cho mọi
người thấy rằng trong thắng lợi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều
thấy có “bóng dáng” của KH&CN ở trong đó. Muốn làm được điều này, công
tác quản lý KH&CN phải không ngừng nâng cao, đổi mới để đáp ứng được các
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Hơn nữa, phải tạo được môi trường bền vững
cho phát triển nguồn lực KH&CN cho các đối tượng xã hội (quốc gia, các doanh
nghiệp, các ngành kinh tế, ngành khoa học,…).
Với việc xác định khoa học và công nghệ là nền tảng, động lực đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước; Đảng và Nhà
nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học kỹ thuật.
Trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng
về định hướng chiến lược và cơ chế chính sách phát triển KH&CN đã được ban
hành: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII; Kết luận của Hội nghị
Trung ương 6 khóa IX; Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28 tháng 2 năm 2001; Luật
Khoa học và Công nghệ; Chiến lược phát triển KH&CN và nhiều chính sách cụ
thể về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN.
Đối với tỉnh Bắc Giang, kể từ ngày tái lập tỉnh (1997), hoạt động KH&CN
đã được Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo.
Nhiều văn bản của tỉnh về KH&CN đã được ban hành và triển khai thực hiện
như: Chiến lược phát triển KH&CN của tỉnh đến 2010; Chương trình hành động
thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII; Kế hoạch số 04-KH/TU của Tỉnh
uỷ Bắc Giang về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 63-CT/TW ngày
28/02/2001 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KHCN phục vụ
CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn; Kế hoạch triển khai chương trình ứng
dụng công nghệ sinh học vào sản xuất và đời sống và nhiều văn bản đổi mới cơ
của cả nước. Gần đây, trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, GS.TS Võ Tòng Xuân
đã viết: “Số công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam tương đối nhiều,
9
nhưng chúng ta thường nghe phàn nàn rằng: “Kết quả đề tài được nghiệm thu
rồi để đó, ít ai sử dụng…”. Việc đăng các kết quả trên các tạp chí khoa học
quốc tế cũng rất ít khi được chấp nhận mà chỉ có thể đăng trên một số tạp chí
trong nước. Vì thế, nhìn chung hiệu quả sử dụng kinh phí dành cho nghiên cứu
khoa học của chúng ta chưa cao. Lý do chính dẫn đến tình trạng trầm kha này
có lẽ là vì chúng ta chưa có đầu ra ổn định cho các sản phẩm khoa học của
mình, tương tự như nông dân cứ cặm cụi sản xuất những gì mình có thể nuôi
trồng mà không sản xuất những gì thị trường cần. Có nhiều vấn đề dẫn đến tình
trạng này, nhưng trong đó có yếu tố quan trọng hàng đầu đó là “chọn vấn đề
nghiên cứu”.
Đây là vấn đề cốt lõi, quyết định đầu ra của sản phẩm. Những kết quả
nghiên cứu đã công bố nhưng không được sử dụng cho thấy, tác giả chưa chọn
đúng vấn đề nghiên cứu, không có người đặt hàng, hoặc nếu có thì kết quả
không đúng như giả thuyết đã đặt ra”
1
.
Từ những vấn đề nêu trên, cần thiết phải “Nhận diện mối quan hệ giữa
quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết
quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc Giang” đó là yếu tố “chọn
vấn đề nghiên cứu” sát thực, phù hợp với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu
tại địa phương. Vấn đề này thực hiện không tốt sẽ là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến tình trạng “đề tài được nghiệm thu rồi để đó, ít ai sử dụng”
như đã đề cập. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các nhà quản lý về khoa học
và công nghệ cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, tuyển chọn,
nghiệm thu các đề tài/dự án khoa học và công nghệ, các thiết chế quản lý… còn
đang là một thách thức, một rào cản cần phải tháo gỡ để hoạt động khoa học và
nước; nhưng theo đánh giá chung của nhiều tỉnh thì nhiều năm qua chúng ta có
thể nhận thấy một lượng không nhỏ những đề tài/dự án sau khi đã được nghiệm
thu thì không được áp dụng, hay được áp dụng nhưng không nhân rộng ra được
hoặc chỉ áp dụng trong một thời gian rất ngắn. Vấn đề này những năm gần đây
đã được nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử nói đến rất
nhiều. Gần đây Bộ Khoa học và Công nghệ có đưa ra một số chủ trương đổi mới
quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là Đề án chính sách sử dụng và trọng
dụng cán bộ khoa học và công nghệ, giai đoạn 2006-2010. Bày tỏ vấn đề này,
GS Hoàng Tụy có bài đăng trên Vietnamnet về những suy nghĩ xung quanh các
chính sách khoa học hiện hành. Trong đó, GS cũng gọi hiện tượng này là hiện
tượng “đút vào ngăn kéo”. GS cho rằng: “Phát triển khoa học, công nghệ cùng
11
với giáo dục đã từng được trịnh trọng nêu lên là quốc sách hàng đầu, song cho
đến nay khoa học, công nghệ vẫn chưa thật sự khởi sắc. Phải chăng vì đầu tư
chưa đủ mức, vì đội ngũ khoa học, công nghệ của ta quá yếu kém, hay vì nguyên
nhân gì khác? Câu hỏi này đã từng đặt ra nhiều lần. Và cũng đã nhiều lần các
cơ quan quản lý nhận định đúng đắn rằng nguyên nhân quan trọng nhất, nếu
không nói chủ yếu, là thiếu chính sách thích hợp để động viên và phát huy tiềm
năng của đội ngũ khoa học. Tiếc thay, chúng ta thường chỉ nhận định xong rồi
để đó, vài năm sau lại lặp lại y như trước, làm mất hết lòng tin của những người
thiết tha với sự nghiệp. Lần gần đây nhất là năm 2001, hưởng ứng lời kêu gọi
của Thủ Tướng, nhiều người đã góp những ý kiến rất chân thành, tha thiết, mà
rồi, cũng như các lần khác, mọi ý kiến tiếp tục chìm trong im lặng, ngoại trừ
Nhà nước tốn thêm mấy trăm triệu chi cho các cơ quan nghiên cứu cơ chế chính
sách để sản xuất thêm một số kiến nghị đút vào ngăn kéo vốn đã đầy ắp những
văn kiện tương tự. Mong rằng lần này, với áp lực hội nhập, chúng ta sẽ làm việc
nghiêm túc hơn, trung thực, thẳng thắn và kỹ càng hơn, để có những hành động
thiết thực, tạo được chuyển biến thật sự, gây lòng tin đã được chờ đợi từ quá lâu
rồi”
Hiện tại, bản thân tác giả đang công tác tại cơ quan quản lý khoa học và
công nghệ địa phương, qua hoạt động thực tiễn cũng như qua thông tin trong và
ngoài ngành thì có thể khẳng định rằng:
+ Chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu “đầu vào” của quá trình
nghiên cứu ứng dụng KH&CN trên cơ sở nhu cầu thực tiễn ứng dụng các kết
quả đó vào sản xuất và đời sống của nơi thực hiện cũng như áp dụng rộng rãi kết
quả nghiên cứu đó.
+ Có một số tác giả đã có những bài viết, những nhận định về việc “ra đầu
bài không chuẩn” trong nghiên cứu khoa học, xong những đánh giá đó chỉ mang
tính chủ quan, chưa có cơ sở khoa học. Vấn đề là cần nghiên cứu theo hướng
tiếp cận của hoạt động quản lý khoa học và công nghệ trong bối cảnh hiện tại
của mỗi địa phương, để có thể đề xuất một số những giải pháp mang tính chiến
lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu ứng dụng KH&CN.
Như vậy, vấn đề nghiên cứu này là một vấn đề mới để tìm ra nguyên nhân
quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN không đi vào
cuộc sống của tỉnh Bắc Giang nói riêng cũng như các tỉnh, thành trong cả nước
nói chung.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, mục tiêu mà chúng tôi muốn thực hiện là:
- Nhận diện mối liên hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống tỉnh Bắc
Giang,
13
- Đề xuất một số giải pháp cho việc xác định nhiệm vụ khoa học và công
nghệ của tỉnh.
4. Khách thể, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể của nghiên cứu:
- Các đề tài/dự án khoa học sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và
công nghệ của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001-2006.
từ những bức xúc của đời sống, của quá trình sản xuất… như vậy là sau khi
nghiên cứu nó phải được đi vào cuộc sống, phải được thực tế sản xuất và đời
sống chấp nhận, nhưng thời gian qua nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học sau
khi kết thúc thì lại bị lãng quên ngay hoặc có được áp dụng thì cũng chỉ là miễn
cưỡng, hiệu quả không cao. Vậy, làm cách nào để nhận diện và gắn kết được
quá trình xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả
nghiên cứu vào sản xuất và đời sống của địa phương?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đề xuất tự phát, không theo
định hướng nghiên cứu; chất lượng chưa cao:
+ Nhiều đề tài/dự án khoa học còn chưa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản
xuất và đời sống, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương.
+ Nhiều Hội đồng xét duyệt đề tài/dự án còn có chất lượng chuyên môn
thấp, trách nhiệm chưa cao.
+ Định hướng, kế hoạch nghiên cứu khoa học còn chưa cụ thể, chưa rõ
ràng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu; tiêu chí đánh giá các
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học còn nhiều điểm chưa phù hợp…
- Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chỉ giải quyết vấn đề trong phạm vi hẹp
của đơn vị cũng như của địa phương.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả ứng dụng các nhóm phương pháp nghiên
cứu sau đây:
* Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Để nhận diện mối quan hệ giữa quá trình xác định nhiệm vụ nghiên
cứu khoa học với nhu cầu ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời
sống của tỉnh Bắc Giang, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu.
15
Nguồn tài liệu dùng để phân tích chủ yếu là thông tin thu được từ 157
phiếu trưng cầu; các thông tin thu được từ các phiếu phỏng vấn sâu các cán
+ Đối tượng là chủ nhiệm/cộng sự: 85
+ Đối tượng thuộc đơn vị chủ trì, phối hợp thực hiện đề tài/dự án: 32
+ Đối tượng là thành viên hội đồng xét duyệt đề tài/dự án: 40
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp:
- Sau khi số liệu đã thu thập bằng các phương pháp định lượng và định tính
(số liệu định lượng được xử lý qua chương trình SPSS 11.5) chúng tôi tiếp tục
phân tích các tài liệu đó.
- Dùng phương pháp so sánh cùng hạng.
- Dùng phương pháp so sánh khác nhóm với cùng một tiêu chí so sánh.
Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát (tham dự và không tham dự,
trong bối cảnh tự nhiên) được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu.
9. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
ở phần này, chúng tôi muốn trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu
bao gồm: Lý do chọn đề tài; Lịch sử nghiên cứu; Mục tiêu nghiên cứu; Khách
thể, phạm vi nghiên cứu; Mẫu khảo sát; Vấn đề nghiên cứu; Giả thuyết nghiên
cứu và Phương pháp nghiên cứu.
Chương 1: Cơ sở lý luận
Bao gồm hệ thống các khái niệm, các quá trình và các mô hình liên quan
đến hoạt động khoa học và công nghệ.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của quá trình xác định nhiệm vụ khoa học và
công nghệ tỉnh Bắc Giang
Chương 3: Một số giải pháp cho việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học trên địa bàn tỉnh
Kết luận
Phần phụ lục
STS
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu ứng dụng
Triển khai (Technological Experimental Development)
Chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ)
Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development)
Dịch vụ khoa học và công nghệ
1.1.2. Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một mảng quan trọng của hoạt động KH&CN,
được định nghĩa: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy
luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào
4
Mục 3, điều 2, Luật khoa học và công nghệ, được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 07 thông qua ngày 09 tháng 06 năm
2000.
18
thực tiễn. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng
dụng
5
.
Có thể nói, nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá trong một thế giới
hoàn toàn chưa được biết đến, và kết quả tìm kiếm ra sao cũng không thể dự
kiến trước một cách chi tiết. Chính vì vậy, mà trong nghiên cứu khoa học, mỗi
người nghiên cứu cần đưa ra một hoặc một số nhận định sơ bộ về kết quả cuối
cùng của nghiên cứu, gọi đó là giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học.
Giả thuyết nghiên cứu, hoặc giả thuyết khoa học là một phán đoán về bản
chất đối tượng nghiên cứu. Theo phán đoán này, người nghiên cứu tiếp tục đi
tìm kiếm các luận cứ để chứng minh. Rất có thể kết quả nghiên cứu sẽ xác nhận
quan trọng của nghiên cứu khoa học. Đó là khi trình bày một kết quả nghiên
cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện
thực hiện. Nguyên tắc này mang tính chung cho cả khoa học tự nhiên, khoa học
kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn.
- Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới
nhiều dạng như một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, một mẫu vật liệu
mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm, giải pháp mới,… Tuy nhiên trong tất
cả các dạng thể hiện trên sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Đó
là những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công
nghệ, tính năng của sản phẩm mới…
- Tính khách quan: Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu
khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học.
Trong xã hội khoa học người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị.
- Tính rủi ro: khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới là một quá
trình có thể gặp thất bại, đó là tính rủi ro của nghiên cứu khoa học. Nguyên nhân
dẫn đến rủi ro có nhiều dạng như do thiếu thông tin, trình độ, năng lực thiết bị,
người nghiên cứu còn hạn chế… Tuy nhiên trong nghiên cứu khoa học, thất bại
cũng được xem là một kết quả.
- Tính kế thừa: mỗi nghiên cứu thường phải kế thừa các kết quả nghiên cứu
trước đó, thậm chí trong những lĩnh vực khoa học khác xa nhau. Tính kế thừa có
một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu.
20
- Tính cá nhân: dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể
thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá
nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
- Tính trễ trong áp dụng: một kết quả nghiên cứu thường không thể áp dụng
ngay vào sản xuất và đời sống được. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đặc điểm
trên như điều kiện kinh tế, tâm lý xã hội, văn hoá… Độ trễ ở mỗi lĩnh vực
nghiên cứu thường khác nhau.
Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một
nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài định hướng vào
việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc
hiện thực hoá trong hoạt động thực tế.
Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế
xã hội. Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: đáp ứng một nhu cầu đã được
nêu ra; chịu sự ràng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn nhân lực
6
Nói một cách bao quát hơn, từ “dự án” theo đại bách khoa toàn thư điện tử
Wikipedia, được định nghĩa là “Điều người ta có ý định làm từ trước” hay “cái
mà xảy đến trước khi điều gì khác được thực hiện”. Ta có thể nhận thấy hai yếu
tố nổi bật gắn liền với thuật ngữ dự án là: tính ý tưởng, ý đồ, ý muốn và tính
hành động, sự nỗ lực đưa những ý tưởng, ý muốn vào thực tế
7
.
Một dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục
tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định và với
một nguồn ngân sách xác định.
Một dự án phải có:
+ Các bên liên quan được xác định rõ ràng, bao gồm các nhóm mục tiêu cơ
bản và những lợi ích tài chính,
+ Có sự điều phối, quản lý và sắp xếp tài chính rõ ràng,
+ Một hệ thống đánh giá và kiểm tra (để hỗ trợ việc quản lý), và
+ Một cấp độ phân tích kinh tế và tài chính thích hợp, để từ đó xác định
được lợi nhuận thu được sẽ vượt quá chi phí ban đầu.
- Đề tài/dự án khoa học
6
Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội, 2005, tr.51.
nặn.
+ Phương pháp nghiên cứu: là cách thức thu thập và tổ chức luận cứ để
chứng minh luận điểm khoa học. Chuẩn mực là các phương pháp được sử dụng
là đúng đắn, bảo đảm đưa ra được những luận cứ tin cậy.
Trên cơ sở cấu trúc logic và các chuẩn mực có thể xây dựng các chỉ báo
đánh giá theo phương pháp Có hoặc Không, hoặc theo thang điểm.
23
Hai khái niệm đề tài/dự án cũng được giải thích rõ trong Điều 1 “Quy định
tạm thời về việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp
tỉnh”, ban hành theo Quyết định số 494/QĐ-CT ngày 15 tháng 4 năm 2003 của
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang như sau:
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh là những vấn đề khoa học và
công nghệ cần được giải quyết đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi phục vụ cho mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Nhiệm vụ đó được thể hiện dưới hình thức
các đề tài/dự án khoa học và công nghệ.
Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh có nội dung chủ yếu nghiên cứu
ứng dụng một chủ đề khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống của tỉnh.
Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc một dự án khoa học công nghệ, một dự án phát
triển kinh tế xã hội khác.
Dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh có nội dung chủ yếu tiến hành các
hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, áp dụng,
thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế xã hội của tỉnh.
Một đề tài/dự án khoa học nói chung phải đặc trưng ở những đặc điểm
sau:
+ Có tính cấp thiết,
+ Có ý nghĩa khoa học,
+ Có ý nghĩa thực tiễn,
+ Có tính khả thi,
+ Có tính ứng dụng, và
địa bàn tỉnh; quản lý các hoạt động dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp thuộc
Sở theo quy định của pháp luật. Sở Khoa học và Công nghệ chịu sự quản lý về
tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo,
hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Khoa học và Công
nghệ”
8
.
Theo Quyết định 105/2004/QĐ-UB này, một số nhiệm vụ và quyền hạn
chính của Sở KH&CN Bắc Giang được thể hiện ở một số nội dung chính sau:
+ Xây dựng và trình UBND tỉnh các biện pháp thúc đẩy hoạt động nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, phát triển thị
trường KH&CN, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống;
+ Tổ chức tuyển chọn và phê duyệt các cá nhân, tổ chức chủ trì thực hiện
các nhiệm vụ KH&CN. Theo dõi, kiểm tra thực hiện, tổ chức đánh giá nghiệm
thu và công bố kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
8
Quyết định 105/2004/QĐ-UB ngày 23 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Bắc
Giang về việc ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ
máy và mối quan hệ công tác của Sở KH&CN tỉnh Bắc Giang
25
+ Hướng dẫn các sở, ban, ngành, các tổ chức KH&CN của địa phương về
hoạt động KH&CN. Xây dựng, đề xuất các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, cấp nhà
nước có tính liên ngành, liên vùng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa
phương và tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền xem xét.
+ Quản lý các hoạt động đánh giá, thẩm định, giám định tư vấn và chuyển
giao công nghệ trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; thẩm định; giám
định công nghệ đối với các dự án đầu tư trong tỉnh theo phân cấp; theo dõi, tổng
hợp, hướng dẫn và tổ chức việc đánh giá trình độ công nghệ của các tổ chức