giải pháp thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam - Pdf 29


BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
CỤC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
¸µ BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM Mã số: 54-07-KHKT-RD
Cơ quan quản lý: Bộ Thông tin và Truyền thông
Đơn vị chủ trì: Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin

ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
ThS. Lê Thành Trung
CN. Ngô Thị Thúy Vân Hà Nội – 2007 1
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Kể từ khi công nghệ thông tin (CNTT) bắt đầu chiếm lĩnh trên thị trường thế giới,
các sản phẩm phần cứng, phần mềm từng bước thâm nhập và cho đến nay đã thâm nhập
hầu hết vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống, xã hội. Cụm từ “ứng dụng Công nghệ thông
tin” bắt đầu xuất hiện và dần dần trở thành quen thuộc với mọi người trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng. Đặc biệt ở Việt Nam, cụm từ này hầu như không thể
thiếu trong các chủ trương, định hướng, văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Và đương nhiên là hành động đi kèm theo hoàn toàn được quan tâm. Trong chục năm
trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng thúc đẩy mảng ứng dụng CNTT vào mọi
mặt trong đời sống, xã hội.
Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58-CT/TW về
đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
, trong đó xác định: "CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất
của sự phát triển, cùng một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời

CNTT ở Việt Nam hiện nay dường như đang gặp những trở ngại và thách thức rất lớn.
Có thể thấy rằng, từ cơ quan quản lý nhà nước nói chung đến các đơn vị, tổ chức thực
hiện triển khai các ứng dụng CNTT đều còn lúng túng trong việc định hướng, hướng
dẫn và triển khai việc thúc đẩy và ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt
động. Ngay cả đến các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội lại càng lúng túng hơn trong
việc ứng dụng như thế nào và thế nào gọi là ứng dụng CNTT có hiệu quả… Để tháo gỡ
một phần những vướng mắc và những thách thức này thì việc tìm hiểu thực trạng, nhu
cầu, định hướng phát triển và các kiến nghị của các cơ quan, đoàn thể để từ đó làm cơ sở
đề xuất được các giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT phát triển hơn nữa
là rất cần thiết. Đây chính là lý do cơ bản để đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT tại Việt Nam”.
1.2 MỘT SỐ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do điều kiện hạn chế về kinh phí cũng như nhân lực thực hiện đề tài, đề tài này
không tham vọng nhiều vào việc sẽ ra được các giải pháp tổng thể để thúc đẩy ứng dụng
CNTT về mọi mặt trong đời sống, xã hội của đất nước Việt Nam trên cơ sở khảo sát
tổng thể thực địa thực tế mà sẽ giới hạn trong một số điều kiện cụ thể sau:
- Nghiên cứu thực trạng được thông qua các báo cáo thực tế của các tỉnh thành, bộ
ngành… cũng như dựa trên “Báo cáo tổng kết 5 năm (2001-2005) thực hiện Chỉ thị số
58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phương hướng nhiệm
vụ giai đoạn 2006-2010” được diễn ra trong tháng 6 năm 2007 vừa qua.
- Nghiên cứu các văn bản đã được ban hành trong nước, các kinh nghiệm, học hỏi
từ một số nước láng giềng thông qua các tài liệu cũng như các khóa học nước ngoài của
một số thành viên thực hiện đề tài.
- Các ý kiến góp ý của một số chuyên gia về CNTT trong nước về phương hướng
phát triển ứng dụng CNTT trong thời gian tới.
- Các nhóm giải pháp sẽ được tập trung nhiều vào việc phục vụ cho công tác
quản lý nhà nước về CNTT của Bộ Thông tin và Truyền thông (trước đây là Bộ Bưu
chính, Viễn thông).
1.3 NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CẦN ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI

Nam, CNTT-TT càng khẳng định rõ vị trí mang tính quyết định thành công trong quá
trình phát triển kinh tế của đất nước. Có thể nói đây là xu thế, là sức ép khách quan buộc
chúng ta phải thúc đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT.
Việc thúc đẩy ứng dụng CNTT là một quá trình lâu dài, có thành công nhưng cũng
gặp không ít khó khăn và thất bại. Đảng và Chính phủ ta đã thể hiện rõ quyết tâm thông
qua các định hướng chiến lược, luật và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
2.1.1 Hệ thống văn bản luật hiện có liên quan đến CNTT
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm thấy được ý nghĩa chiến lược và vai trò quan
trọng của CNTT-TT đối với quá trình CNH-HĐH đất nước. Nhìn lại tổng thể, từ năm
1975, ngay sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ đã hai lần ra nghị quyết:
Nghị quyết
số 173-CP/1975 về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong quản lý
Nhà nước đã được ban hành và Nghị quyết số 245-CP/1976 về tăng cường quản lý và
sử dụng máy tính điện tử trong cả nước. Bước đầu nâng cao nhận thức trong toàn xã hội
về vai trò của máy tính đối với phát triển đất nước. Năm 1981, Bộ Chính trị trong Nghị
quyết số 37-NQ/TW đã chỉ rõ phải
“hết sức chú trọng phục vụ thông tin cho lãnh đạo
và quản lý, đúng nhu cầu và bằng những hình thức thích hợp, góp phần nâng cao chất
quyết định của các cấp
”. Năm 1991, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-
NQ/TW về phát triển khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đất nước, khẳng
định công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát
triển so với các nước công nghiệp tiên tiến. Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị
quyết 49/CP và Kế hoạch Tổng thể về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90,
với mục tiêu chung là
“xây dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu
hạ tầng về CNTT trong xã hội, có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin
trong quản lý Nhà nước và trong các hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời tích cực xây
dựng ngành công nghiệp CNTT thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước, góp phần chuẩn bị cho nước ta có vị trí xứng đáng trong khu vực khi bước vào thế

Sau khi Chỉ thị 58 ra đời, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban
hành làm cơ sở ban đầu tạo môi trường xây dựng nền tảng cho ứng dụng CNTT trong
nhiều hoạt động của Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ quy trình hoạt động
truyền thống sang phương thức mới có sử dụng CNTT-TT là quá trình phức tạp, khó
khăn và lâu dài, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo kiên quyết đưa ra
tầm nhìn chiến lược, mục
tiêu và kế hoạch thúc đẩy ứng dụng CNTT, tiếp đó có chính sách, biện pháp nhằm
đạt được kết quả mong muốn đã đặt ra.
Các nhà lãnh đạo vừa có chức năng đảm đương vai trò lãnh đạo chính trị, hiểu biết
những phức tạp liên quan đến nhà nước điện tử (Nhóm nghiên cứu quy định gọi nhà nước
điện tử với nghĩa nhà nước ứng dụng CNTT-TT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước,
trong các hoạt động giao dịch giữa cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp) và cả
những thay đổi về tổ chức do ảnh hưởng của CNTT-TT. Những yếu tố này là rất cần thiết
cho khả năng xây dựng, phát triển và sự thành công về ứng dụng CNTT.
Các nhà lãnh đạo khẳng định tầm nhìn ứng dụng CNTT, xác định rõ những mục
tiêu chính và những kết quả mong muốn, đưa ra các ưu tiên trong các thành phần của
từng giai đoạn ứng dụng CNTT, huy động sự ủng hộ của chính quyền, huy động được
các nguồn nhân lực và tài chính cần thiết. Thêm nữa, là họ chịu trách nhiệm đối với quá
trình thực hiện các kết quả của quá trình này.

6
Vì mục tiêu của ứng dụng CNTT là bao gồm cả hỗ trợ cải cách hành chính trên
một diện rộng, ứng dụng CNTT sẽ gây một ảnh hưởng lớn đến quản lý hành chính của
chính phủ,
do đó sẽ phải chịu một sự tranh luận rất mạnh trong nội bộ chính phủ, do đó
yêu cầu lãnh đạo phải có sự cam kết và quyết tâm thực hiện.
Những điều kiện trên có thể xem như những tiêu chí cần thiết đối với lãnh đạo ở các
cấp, đặc biệt ở cấp Trung ương cần vào cuộc với các tiêu chí này để chỉ đạo từ trên xuống.
Tuy nhiên, đi cùng các tiêu chí này nhà lãnh đạo cần có những quyền hạn đủ mạnh, tích
hợp cả về chính trị, hành chính và tài chính để thực thi và chịu trách nhiệm, là đối tượng

và có thể làm được.
- Quản lý chương trình, dự án: Những sáng kiến về
ứng dụng CNTT trong các cơ
quan
có khuynh hướng phức tạp vì với một dịch vụ công cụ thể nào đó không chỉ liên
quan tới một cơ quan chức năng, mà còn liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau và các
cơ quan tham gia với những vai trò khác nhau. Việc quản lý thực hiện một sáng kiến
ứng dụng CNTT, điều phối giữa các cơ quan và những chủ thể liên quan khác nhau,

7
đảm bảo thời hạn và các kết quả theo kế hoạch, đồng thời việc bao quát toàn bộ quá
trình đòi hỏi các cơ quan có những kỹ năng quản lý chương trình, dự án. Thực tế ở nước
ta việc phối kết hợp hoạt động giữa các cơ quan, nhất là giữa các cơ quan chính phủ
cũng còn nhiều hạn chế.
ứng dụng CNTT
- Quản lý thay đổi: Đi kèm với
là cải cách tổ chức, phải đào tạo
lại kỹ năng và bố trí lại nguồn nhân lực trong nội bộ các cơ quan. Trong bối cảnh này,
việc phản ứng lại những thay đổi có thể diễn ra. Đòi hỏi cần có những chuyên gia từ
phía chính phủ có kỹ năng quản lý thay đổi để hướng dẫn các cơ quan chính phủ trong
suốt quá trình cơ cấu lại tổ chức này.
- Quản lý việc mua sắm CNTT và truyền thông, quản lý việc thuê nhân lực bên
ngoài: Chính phủ cần phải là "người mua thông minh" cơ sở hạ tầng và dịch vụ
CNTT-TT, có khả năng xác định cụ thể nhu cầu của mình, quản lý quá trình mua
sắm, quản lý các nhà cung cấp...
Ứng dụng CNTT
- Việc duy trì và vận hành dịch vụ CNTT:
là công cụ hỗ trợ cho
việc cung cấp thông tin và dịch vụ mọi lúc, ở mọi nơi. Điều này sẽ gây chuyển biến lớn
về thời gian và tổ chức so với việc phân phối dịch vụ theo kiểu truyền thống. Vậy các cơ

8
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin từ nay đến năm
2010 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 331/QĐ-TTg ngày 06/4/2004).
- Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến
năm 2020

(Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT ngày 26/10/2007).
3) Xây dựng và đảm bảo trao đổi dữ liệu, hạ tầng CNTT-TT
Kinh nghiệm của các nước và trong nước cho thấy rằng khung quy chế trao đổi
thông tin là một trong những yếu tố quyết định cho việc xây dựng thành công hệ thống
ứng dụng CNTT. Quy chế về trao đổi thông tin là một việc phải làm để tạo nền tảng cho
đa số các ứng dụng CNTT trong các cơ quan, tổ chức phải tuân theo. Có thể nói, trường
hợp ứng dụng CNTT không tuân thủ khung quy chế trao đổi thông tin được quy định
gần như không có cơ hội hội nhập và tồn tại.
Quá trình ứng dụng CNTT đòi hỏi phải thiết lập một loạt các tiêu chuẩn mang tính
pháp lý và quy chế thích hợp, đặc biệt trong các cơ quan chính phủ, nhằm:
- Tích hợp và chia sẻ các hệ thống dữ liệu bên trong và giữa các cơ quan.
- Bảo vệ sự riêng tư và an toàn thông tin cho các bên tham gia hệ thống đặc biệt là
khu vực tư nhân khi họ sử dụng hệ thống thông tin công.
- Hỗ trợ việc trao đổi trực tuyến, tương tác và giao dịch giữa các cơ quan chính
phủ, công dân và doanh nghiệp.
- Giao tiếp với người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện thông qua nhiều thiết
bị tuỳ theo người sử dụng lựa chọn như máy tính, điện thoại di động...
Nhiều nơi trên thế giới, điều làm người ta lo ngại đối với việc ứng dụng CNTT,
đặc biệt sử dụng hệ thống thông tin công, là vấn đề an toàn, an ninh môi trường truyền
và lưu trữ thông tin điện tử. Một cuộc khảo sát tại Mỹ cho thấy đa số người dân đều có
nguyện vọng tăng cường hơn nữa các dịch vụ hành chính trực tuyến của chính phủ.
Những dịch vụ mà họ thấy cần có sự ưu tiên trực tuyến là đăng ký kinh doanh, cấp thẻ
môn bài, bằng lái xe, nộp thuế và khoản phạt, các thủ tin xin nhập học hay xin việc làm.
Hầu hết mọi người dân Mỹ đều tin rằng các dịch vụ này được cung cấp trực tuyến sẽ cải

vấn đề này, trong thời gian ngắn vừa qua Chính phủ Việt Nam đã làm tốt thông qua một
loạt những văn bản như pháp lệnh, nghị định, chỉ thị và thông tư đã được ban hành và
đang được thực thi có hiệu quả đáng kể. Đó là:
- Luật công nghệ thông tin
- Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010 (Quyết
định số 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/2/2006)
- Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông (Số: 43/2002/PL-UBTVQH10 được công bố
ngày 7/6/2002)
- Nghị định số 55 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet (Số
55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001).
Thêm nữa là công việc triển khai phần cứng, phần mềm cần được hỗ trợ bằng
những chính sách về đầu tư và mua sắm phù hợp như đối với hệ thống thuế nhập khẩu
và tính khấu hao đối với các thiết bị phần cứng và phần mềm liên quan đến CNTT và
truyền thông.
Về vấn đề này được đề cập trong:
- Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/07/2006 quy định về việc đầu tư, mua
sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn
ngân sách nhà nước.
- Quyết định số 223/2006/QĐ-TTg ngày 04/10/2006 sửa đổi một số điều của
Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/07/2006 quy định về việc đầu tư, mua sắm
các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân
sách nhà nước.
4) X
ây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu
Dữ liệu là nguồn lực cơ bản khi nói đến các giai đoạn ứng dụng CNTT trong các
cơ quan, tổ chức. Việc chuẩn hoá dữ liệu là vấn đề lớn, là nguyên nhân chính làm giảm
các chi phí giao dịch khi sử dụng lại các thông tin qua hệ thống này. Đây cũng chính là

10
điểm mạnh của ứng dụng CNTT, giúp cho nhiều đối tượng, nhiều hoạt động được triển

của CNTT.
Muốn vậy cần đưa ra một chiến lược tuyên truyền, nâng cao nhận thức về những
lợi ích, triển vọng tiềm năng của việc ứng dụng CNTT. Đồng thời phải thu hút sự quan
tâm của các nhà lãnh đạo cao cấp, những nhà quản lý, các công chức, doanh nghiệp và
công dân. Chiến lược này cần được xem như một phần quan trọng trong quá trình ứng
dụng CNTT, đặc biệt xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT).
Nói chung, việc tham gia của công dân vào quá trình ứng dụng CNTT không tự
xảy ra và hơn nữa là cần giảm sự phân cách số trong mọi tầng lớp cộng đồng xã hội.
Thực tế đã tồn tại, ngay cả những nơi có trang bị cơ sở hạ tầng CNTT và truyền thông
được trang bị khá đầy đủ, vẫn tồn tại nhiều người dân không có khả năng sử dụng các hạ

11
tầng này vì họ thiếu “nhận thức hoặc kiến thức điện tử”. Nên cần có chính sách đào tạo
về kiến thức và nhận thức điện tử đối với người dân. Các chính sách này cần xem xét
đến những yếu tố về tổ chức lớp học, ngôn ngữ, giới, tuổi tác...
Hiện nay chúng ta đã phổ biến kiến thức về CNTT nói chung và thuật ngữ CPĐT
nói riêng trên một số các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài, báo, tạp
chí, trang báo điện tử... Song với giới báo chí, các nhà báo cần được nâng cao nhận
thức về CPĐT và luôn cập nhật cho họ các thông tin về xu thế, các thành tựu của CNTT
và truyền thông và những ứng dụng trong lĩnh vực CPĐT trong và ngoài nước.
Khi tương tác giao dịch giữa các cơ quan chính phủ, giữa người dân với chính
phủ..., cần có biện pháp tuyên truyền để tạo lòng tin giữa các bên tham gia và bảo đảm
an toàn, an ninh, riêng tư với những lợi ích rõ ràng cho các bên tham gia trong việc
cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến.
Bên cạnh đó cũng cần có những hội nghị, hội thảo và hội nghị chuyên đề trong nước
và quốc tế về CPĐT nhằm nâng cao nhận thức và có sự ủng hộ chính trị cho CPĐT. Hoạt
động này, Việt Nam đã thực hiện rất tích cực trong thời gian qua. Nhưng vẫn chưa đạt tới
ngưỡng để có thể ban hành được các băn bản liên quan đến thuật ngữ CPĐT.
Về vấn đề này có đề cập trong Nghị định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của
cơ quan nhà nước (Nghị định số 64/2007/NĐ-CP).

bản pháp luật và cải cách tổ chức các cơ quan chính phủ cho phù hợp với yêu cầu của
quá trình ứng dụng CNTT cũng như sự phối kết hợp với các chương trình khác như cải
cách hành chính, chương trình giáo dục và đào tạo;
- Thúc đẩy việc chia sẻ thông tin và tri thức giữa các bên tham gia vào quá trình
ứng dụng CNTT với các vai trò khác nhau, phổ biến những điển hình thành công trong
nước cũng như quốc tế;
- Điều phối và giám sát sử dụng vốn cơ bản, xem xét đầu tư cho các sáng kiến mới;
- Giám sát, đánh giá và báo cáo tiến độ đạt được trong quá trình xây dựng các hệ
thống ứng dụng CNTT...
Cơ quan này đặc biệt quan trọng vì có trách nhiệm tìm ra được những sáng kiến
đảm bảo sự hài hoà giữa tính nhất quán và tính đổi mới trong hệ thống toàn bộ chính
phủ. Những sáng kiến mang tính nhất quán sẽ dễ thuyết phục lãnh đạo hơn, song các
sáng kiến lại mang tính đổi mới nhiều vì nguồn gốc xuất thân là từ các cơ sở chính
quyền tiếp xúc trực tiếp với dân, doanh nghiệp.
Về vấn đề này:
- Năm 2002, nhà nước ta đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Bộ Bưu
chính Viễn thông nhằm đảm bảo việc định hướng và quản lý nhà nước về ứng dụng và
phát triển CNTT.
- Năm 2007, đã có quyết định thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm đẩy
mạnh việc phát triển và ứng dụng CNTT trong môi trường tích hợp đa dạng ngày nay,
ứng dụng CNTT tác động mạnh đến mọi mặt của đời sống xã hội, hoạt động của bất cứ
nhà nước hoặc lĩnh vực nào trên thế giới.
2.1.3 Giới thiệu Luật CNTT, Nghị định 64 liên quan đến ứng dụng CNTT
Nhóm nghiên cứu xin tóm tắt những nội dung chính của Luật CNTT và Nghị định
64, cơ sở pháp lý thực hiện thúc đẩy ứng dụng CNTT hiện nay ở Việt Nam.
a) Luật CNTT: ngày 29/5/2006, Luật CNTT số 67/2006/QH11 được Quốc Hội
thông qua bao gồm 6 chương, 79 điều.
Luật quy định “ứng dụng CNTT là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt
động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động
khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (khoản 5,

trên trang thông tin điện tử; Cung cấp thông tin cho việc giao kết hợp đồng trên môi
trường mạng; Giải quyết hậu quả do lỗi nhập sai thông tin thương mại trên môi trường
mạng; Nhà nước khuyến khích thanh toán trên môi trường mạng.
Mục 4: Ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực (từ Điều 34-37)
Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong: Giáo dục và đào tạo;
Y tế; Văn hoá-thông tin.
Hoạt động ứng dụng CNTT phục vụ quốc phòng, an ninh và một số lĩnh vực khác
được thực hiện theo quy định của Chính phủ: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
(Điều 64); Hỗ trợ người tàn tật (Điều 74).
Biện pháp bảo đảm ứng dụng CNTT:
1. Nguồn nhân lực: (Mục 2, Chương 3) có chính sách phát triển nguồn nhân lực
CNTT; sử dụng nguồn nhân lực CNTT; khuyến khích phổ cập kiến thức CNTT trong
phạm vi cả nước.
2. Phát triển và bảo đảm cơ sở hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu (Mục 1, Chương 4)
Cơ sở hạ tầng thông tin được định nghĩa là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc
sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng
viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu.

14
Nhà nước có chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia;
Cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương
được thống nhất xây dựng và quản lý theo quy định của Chính phủ.
Nhà nước có chính sách ưu tiên vốn đầu tư và có cơ chế hỗ trợ tài chính cho việc
xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ công ích và thu hẹp khoảng cách số.
Có chính sách xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu Quốc gia, cơ sở dữ liệu bộ, ngành
và địa phương.
3. Đầu tư (Mục 2, Chương 4)
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT để
đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp;

15
- Cung cấp các biểu mẫu điện tử, tiến đến có lộ trình cung cấp các dịch vụ hành
chính công;
- Tạo ra thông tin dạng số và lưu trữ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định ở các cơ
quan nhà nước;
- Áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn về kết nối mạng, trao đổi dữ liệu và thông tin
theo kiến trúc chuẩn thông tin quốc gia;
- Thực hiện các nguyên tắc về an toàn thông tin;
- Quy định về kế hoạch ứng dụng CNTT và đầu tư cho ứng dụng CNTT được xem là
đầu tư phát triển, hàng năm nhà nước có kế hoạch bố trí ngân sách cho ứng dụng CNTT.
- Chính sách phát triển và sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong cơ quan nhà nước;
- Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước để chỉ đạo ứng
dụng CNTT, tổ chức các bộ máy chuyên trách về ứng dụng CNTT tại các bộ, ngành và
địa phương.
- Quy định về quy trình hoạt động ứng dụng CNTT phù hợp với chương trình cải
cách hành chính của Chính phủ.
Kết luận: Nghị định 64 ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong các cơ quan nhà nước hiện nay, cơ sở pháp lý mang tính hệ thống và đầy
đủ những yếu tố cần thiết để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, đặt
nền móng pháp lý ban đầu cho việc xây dựng chính phủ điện tử. Tuy nhiên, để triển khai
Nghị định còn cần phải xây dựng nhiều quy chế, quy định và chính sách cụ thể, chi tiết
hơn mới có thể tạo tiền đề cụ thể để thúc đẩy ứng dụng CNTT phát triển ở nước ta.
2.2 TIN HỌC HÓA VÀ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Trước khi đặt vấn đề nghiên cứu tình hình ứng dụng CNTT và xây dựng CPĐT
của một số nước trên thế giới, nhóm nghiên cứu đề tài thấy cần phải đưa ra những tiêu
chí nhất định để lựa chọn quốc gia nghiên cứu sao cho gần gũi và phù hợp với Việt Nam
nhất, có tính khả thi với Việt Nam. Dưới đây là một số tiêu chí đưa ra của nhóm nghiên
cứu đề tài:
- Những nước được coi là thành công trong việc xây dựng CPĐT.

đoạn tích hợp ở mức độ tương đối cao (thúc đẩy hệ thống tích hợp chính phủ theo
phương thức “mọi nơi, mọi lúc” và cung cấp các dịch vụ loại thông minh).
Giai đoạn một (1977 – 1996), Chính phủ Hàn Quốc trong thời gian 10 năm (1977
– 1986) đã tiến hành điện toán hoá hành chính lần thứ nhất; 10 năm tiếp theo (1987 –
1996) đã thúc đẩy xây dựng mạng điện toán hành chính lần thứ hai. Qua 20 năm xây
dựng điện toán hoá hành chính và xây dựng mạng điện toán hành chính, Hàn Quốc đã
thực hiện tin học hoá và trực tuyến hoá các tài liệu chủ yếu chẳng hạn như đăng ký cư
dân, đăng ký ôtô, đăng ký bất động sản.... Mục đích của các công trình thời kỳ này chỉ là
nâng cao hiệu suất công tác trong nội bộ các c
ơ quan của chính phủ.
Giai đoạn hai (1997 – 2000), vào năm 1996, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành
“Luật cơ bản Thúc đẩy Tin học hoá”, đã hoàn thành quy hoạch cơ bản thúc đẩy tin học
hoá 5 năm lần thứ nhất; căn cứ quy hoạch cơ bản đã thực sự thúc đẩy tin học hoá hành
chính. Đặc điểm của thời kỳ này là coi trọng việc nối mạng công tác trong nội bộ cơ
quan của chính phủ, áp dụng mạng cục bộ truyền thống (LAN), kỹ thuật tin học kết nối
hệ thống khách hàng dựa trên đĩa gốc máy chủ.
Giai đoạn ba (2001 – 2006): căn cứ Luật CPĐT đã có hiệu lực năm 2001, Chính
phủ Hàn Quốc đã thông qua Ủy ban CPĐT, mở rộng tin học hoá hành chính, chính thức
khởi động Chương trình CPĐT. Mục tiêu chủ yếu của Chương trình CPĐT thời kỳ này
là đổi mới Chính phủ Hàn Quốc. Đặc điểm của chương trình thời kỳ này là dùng Web
và Internet, coi trọng thúc đẩy dân chúng tham gia dịch vụ công cộng và hợp tác giữa
các cơ quan của chính phủ.
Giai đoạn bốn (từ 2007 trở đi): Sách lược cơ bản về CPĐT mà Chính phủ Hàn
Quốc thúc đẩy trong 6 năm là tiến thêm một bước xây dựng CPĐT. Cốt lõi của thời kỳ
này là thông qua thúc đẩy chính phủ “mọi nơi, mọi lúc (Ubiquitous)” để điện toán mọi

17
nơi, mọi lúc (Ubiquitous computing) tích hợp hệ thống kỹ thuật Web và cung cấp các
loại dịch vụ thông minh.
CPĐT thế hệ mới của Hàn Quốc lấy cải thiện dịch vụ làm phương hướng

2.2.1.1 Tầm nhìn về CPĐT của Hàn Quốc
- Chính phủ Một cửa – Bất kỳ nơi nào và 24/24 (One & Non & Any Stop Gov’t),
- Chính phủ Không giấy tờ và Không khoảng cách (Paperless & Buildingless
Gov’t),
- Chính phủ tri thức (Thần kinh số ) (Knowledge Gov’t [Digital Nervous]),
- Chính phủ minh bạch (Clean Gov’t).
Những yếu tố cơ bản:
Thứ nhất, CPĐT phải làm tăng hiệu suất và hiệu quả bằng cách sử dụng CNTT

18
trong quản lý nhà nước. Hơn nữa, cần cải thiện chất lượng sống của người dân như là mục
tiêu cao nhất bằng cách xem xét tính minh bạch của quản lý nhà nước và tính dân chủ.
Thứ hai, CPĐT cần cung cấp các dịch vụ công đầy đủ và hiệu quả bằng cách áp
dụng CNTT đúng những nơi thích hợp. Để làm được điều này, các dịch vụ công phải
được đổi mới theo các qui trình công việc định hướng đến người dân.
Thứ ba, CPĐT phải được xây dựng và sắp xếp lại các qui trình quản lý nhà nước
và cần tính đến một nỗ lực có hệ thống để thay đổi các mô hình quản lý nhà nước.
Thứ tư, CPĐT cần tham chiếu đến không chỉ là các dịch vụ công định hướng-
thông tin mà còn phải là một mô hình chính phủ tiên tiến trong một xã hội thông tin và
quan tâm đến tính cân bằng của xã hội thông qua các dịch vụ công được mở rộng theo
các ý tưởng dân chủ, bình đẳng.
Các yếu tố để thực hiện CPĐT

Các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến việc thực hiện CPĐT là rất
lớn (theo UNDPEPA & ASPA, 2002, 6), bao gồm :
- Cơ sở hạ tầng thông tin của một nước
- Các nguồn nhân lực
- Lãnh đạo và tầm nhìn,
- Duy trì một hệ thống luật pháp và một hệ thống quản lý nhà nước có những
thay đổi lớn.


Thiếu về mặt số lượng các
chuyên gia và đào tạo
Các kỹ năng sử dụng thông tin
và qui trình làm việc kém
Không có kế hoạch
đầu tư
Đánh giá không đúng mức trong
đầu tư, Hồi vốn đầu tư (ROI) thấ
p
Sự chậm trễ trong công việc và
chi phí bảo dưỡng, duy trì cao
Môi trường ngành
công nghiệp IT
Thiếu về mặt số lượng các nhà
cung cấp IT và thiết bị
Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật, tiếp
tục khó khăn với các dự án

2.2.1.3 Lịch sử phát triển CPĐT của Hàn Quốc
Hình 2.2 trình bày lịch sử phát triển CPĐT Hàn Quốc trong đó, các chữ viết tắt là:

Hình 2.2 Lịch sử phát triển CPĐT của Hàn Quốc

20
BPR (Business Process Re-engineering): Sắp xếp lại qui trình hoạt động
EA (Enterprise Architechture): Kiến trúc tổ chức
TFT (Task Force Team): Đội đặc trách
Có thể thấy mối quan hệ giữa Chính phủ và công dân của Hàn Quốc được tóm tắt
theo chiến lược CPĐT qua các giai đoạn như bảng 2.2:

1) Kế hoạch cơ bản lần thứ nhất: Các dự án hệ thống thông tin cơ bản và mạng
của quốc gia (1987 – 1996)

(Nationwide Basic Information System & Network Projects)
- Chiến lược.
- Giải pháp quản lý của Chính phủ từ trên xuống (Top-Down): Chính phủ như là
một động cơ thúc đẩy (Lập kế hoạch).
- Đầu tư trước, sau khi dự án hoàn thành được Chính phủ trả tiền: Tiền được dùng
để cài đặt, thực hiện (Ngân sách).
- Đã ban hành “Luật Xúc tiến và Phát triển Mạng Máy tính” (Computer Network
Proliferation & Promotion Act) (tháng 12 năm 1986): Luật như là một Công cụ thực thi.
- Đã công bố “Ủy ban Chỉ đạo Mạng Máy tính” dưới Văn phòng Tổng thống:
tháng 5 năm 1987: tổ chức dùng để phối hợp (Organization for Coordination).
Bảng 2.3 trình bày 6 hệ thống thông tin và mạng cơ bản được xây dựng trong giai
đoạn kế hoạch 1987 – 1996.
Bảng 2.3 Sáu hệ thống thông tin và mạng cơ bản
Nhiệm vụ
đạt được
Các dịch vụ đã được cung cấp
Ngày
tháng
Vùng
1) Đăng ký nhân
khẩu (Residence
Registration)
- Đăng ký nhân khẩu (Ngày sinh,
ngày chết)
- Phát hành giấy chứng nhận
01/1991 3.700 cơ quan địa
phương

quan (Hải quan Seoul
custom, 43 cơ quan
vận tải, 3 ngân hàng)
5) Quản lý nhân
viên
- Thông tin nhân viên
- Thông tin hoạt động/Giáo dục
1990 49 tổ chức có liên
quan.
6) Thống kê
- Dân số, lạm phát…
- Cung cấp các công cụ truy cập cho
các số liệu thống kê
1991 36 cơ quan chính phủ
2) Kế hoạch cơ bản lần thứ hai: Cyber Korea (1999-2002)
Chú trọng vào 3 lĩnh vực chính:
a) Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin tiên tiến nhằm tạo ra một quốc gia dựa
trên-tri thức:
- Xây dựng Internet băng rộng, tốc độ cao,
- Tòan cầu hóa hệ thống quản lý có thể sử dụng Internet,
- Tạo ra đất nước Hàn Quốc là nước sử dụng máy tính tốt nhất trên thế giới (giáo
dục, đào tạo 10 triệu dân),
- Xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý và thể chế dùng cho xã hội thông tin,
- Văn hóa an toàn và văn hóa điều khiển hợp lý (logíc).
b) Làm tăng hiệu suất trên toàn đất nước bằng cách sử dụng cơ sở hạ tầng tri thức
và thông tin:
- Xây dựng CPĐT gọn nhẹ nhưng có hiệu quả,
- Xây dựng hệ thống quản lý tri thức (KMS) dùng cho các ngành nhằm làm tăng
hiệu suất,
- Làm tăng sức mạnh về khả năng cá nhân thông quan trại “người tri thức mới”

Cơ hội trở thành quốc gia trung tâm ở vùng Đông Bắc châu Á (NE Asia),

Dẫn đầu hợp tác quốc tế về IT,

Phát triển mạnh cơ sở hạ tầng để thúc đẩy các công ty IT của Hàn Quốc để toàn
cầu hóa.
Tóm lại, kế hoạch này phản ánh được IT Korea đã được nâng cấp và nhấn mạnh
đến vai trò của Hàn Quốc trong CNTT toàn cầu.
2.2.1.4 Một số các vấn đề còn tồn tại
- Còn sự đua tranh và có các mâu thuẫn lác đác giữa các Bộ:

Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Thương mại, Công nghiệp và
Năng lượng (Ministry of Commerce, Industry and Energy – MoCIE): về Chính
sách công nghiệp CNTT.

Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Hành chính và Nội vụ
(MOGAHA – Ministry of Governement Administration & Home Affairs): về
CPĐT.

Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Bộ Văn hóa và Du lịch (Ministry of
Culture and Tourism – MCT): về các nội dung số.

Bộ Thông tin và Truyền thông (MIC) với Ủy ban Phát thanh – Truyền hình
(Broadcasting Comm.): về hội tụ viễn thông với phát thanh và truyền hình.
- Văn phòng quản lý Tin học hóa: được đặt tại Bộ Thông tin và Truyền thông
nhưng lại có ảnh hưởng đến các bộ ngành khác theo hướng tin học hóa toàn bộ.
- Vào lúc bắt đầu triển khai phải chi tiêu quá nhiều trong khi lại đạt được quá ít
thành tựu. Nguyên nhân là do:

Đầu tiên, các hệ thống thông tin được đưa ra mà không có sự tiêu chuẩn hóa và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status