VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ THỰC TIỄN XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI- 2016
HÀ NỘI - năm
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC
DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
XÃ HỒ THẦU HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
.......................................................................................................................... 36
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TỘC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU .................................................. 40
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu ............................................................... 40
2.2. Thực trạng các hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao
trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu… ............................................................................................................. 49
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
DÂN TÔC DAO TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ HỒ THẦU,
HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU .................................................. 65
3.1. Các quan điểm, định hướng, mục tiêu giảm nghèo người dân tộc Dao xã
Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu ................................................... 65
3.2.Một số giải pháp đối với người nghèo ....................................................... 67
3.3. Các giải pháp đối với cộng đồng............................................................... 73
3.4. Các giải pháp đối với cấp Trung ương và chính quyền địa phương ......... 73
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 80
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Hình 1.1: Sơ đồ đo lường nghèo đa chiều....................................................... 24
Bảng 2.1 Thống kê đặc điểm của các hộ nghèo .............................................. 43
Biểu 2.1: Thời gian trở thành hộ nghèo .......................................................... 44
Bảng 2.2. Lý do rơi vào hộ nghèo ................................................................... 45
Bảng 2.3: Cơ cấu nghề nghiệp của các hộ nghèo xã Hồ Thầu ....................... 46
Bảng 2.4: So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo .... 48
Bảng 2.5: Bảng số liệu nghiên cứu thực trạng dịch vụ hỗ trợ xã hội ............. 50
PTCĐ
Phát triển cộng đồng
QĐ
Quyết định
UBND
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách
về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân
cư. Trong những năm qua với chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27
tháng 12 năm 2008 (gọi tắt là chương trình 30a) và Nghị quyết số 80/NQ-CP
ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững
thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã thu được những kết quả khả quan, góp
phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện được công bằng xã hội, số hộ
nghèo giảm nhanh. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc; tỷ lệ hộ
nghèo hàng năm còn cao; đời sống người nghèo còn nhiều khó khăn, đặc biệt là
ở khu vực miền núi, những xã vùng cao, vùng người dân tộc thiểu số.
Có nhiều nguyên nhân làm cho kết quả công tác xóa đói giảm nghèo
chưa đạt kết quả cao như cơ chế chính sách còn bất cập, chưa đồng bộ; nguồn
Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi
khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở,
đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay
chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân.
Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện
con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển
từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên
cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn
chế. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo
vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội [9, tr. 19].
Chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức
thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch
2
vụ xã hội cơ bản [7, tr. 11]. Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty
Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện
sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo
lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Hồ Thầu là xã thuộc diện khó khăn của huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu, gồm 10 bản với 602 hộ, 3041 nhân khẩu. Trong đó dân tộc Dao có
2808 khẩu chiếm 92,34% (Theo thống kê của huyện Tam Đường, tỉnh Lai
Châu, 2014). Trong những năm qua, Hồ Thầu được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ
trợ của Huyện Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các ban ngành
đoàn thể của huyện nên Hồ Thầu đã có những bước phát triển tốt, đời sống
của nhân dân từng bước được cải thiện nhưng vẫn là xã nghèo, kém phát triển
của huyện, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm; sự tham gia của người
dân để cùng giải quyết những vấn đề nghèo đói của cộng đồng chưa được
- Lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp, các dự án thoát nghèo, hỗ
trợ họ tăng sự tự tin là phương pháp phổ biến mà nhân viên xã hội đã được sử
dụng trong quá khứ.
Nhấn mạnh đến vai trò của các phương pháp và hợp tác quốc tế, nhấn
mạnh đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo. Ở
cấp độ vi mô, các nhân viên xã hội làm việc để đối phó với đói nghèo, đánh
giá rủi ro, phải làm việc một cách sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và
cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi, môi trường của họ. Phát
triển cộng đồng đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hội, tổ
chức cộng đồng và hoạt động xã hội giữ một vai trò quan trọng.
Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo và chứng kiến hành
vi của họ thay đổi. Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp với
làm việc với các cá nhân, gia đình và có công việc cộng đồng, tập trung vào
nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát
4
hiện ra các nguyên nhân nghèo đói của họ. Đó là điều cần thiết cho xóa đói
giảm nghèo hiệu quả.
Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo
ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề ( The role of social
work in Philippines poverty – reducation program: ideology, policy, and the
profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và
Phát triển, tập 23, số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác
xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philipppines, nhấn mạnh
đến việc kiểm tra tập trung vào các giá trị và nguyên tắc làm cơ sở cho việc
thực hiện và mối quan hệ với quan niệm cụ thể của công tác xã hội. Có ý kiến
cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư
tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines. Tính hợp tác nhận thức
Phạm Lệ Thu “Những giải pháp thiết thực thúc đẩy mạnh xóa đói giảm
nghèo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015”. Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận
về nghèo đói; phương pháp xác định chuẩn nghèo; thực trạng nghèo đói và
giải quyết công tác đói nghèo của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 – 2015; đề ra
được một số giải pháp thiết thực trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Điện
Biên trong giai đoạn tiếp theo, trong đó có các giải pháp tổng thể (quy hoạch)
và cụ thể (các giải pháp can thiệp đối với hộ nghèo, người nghèo). Tuy nhiên,
vẫn thiếu các giải pháp hỗ trợ đối với người nghèo, hỗ trợ cộng đồng tham gia
nhận diện, lập kế hoạch các hoạt động xóa đói giảm nghèo của người dân tộc
thiểu số Điện Biên. Đối với các công trình, bài viết liên quan đến phương
pháp phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo có các bài:
Phan Huy Đường, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Phát triển cộng đồng:
Phương pháp quan trọng của công tác xã hội trong xóa đói giảm nghèo”. Tác
giả đã nêu khái quát vai trò của phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm
nghèo ở nước ta; các nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng; các phương
thức của phát triển, trong đó nhấn mạnh phương thức tăng cường năng lực
6
của cộng đồng thông qua tăng cường năng lực cho người dân tham gia nhận
diện vấn đề của người nghèo; lập kế hoạch; huy động nguồn lực cộng đồng.
Nguyễn Mạnh Đôn, có bài viết trao đổi trên diễn đàn của Liên hiệp các
Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (đăng ngày 20/02/2005) “Một số suy
nghĩ về hoạt động phát triển cộng đồng và xóa đói, giảm nghèo vùng đồng
bào dân tộc”, đã khái quát nêu 6 nguyên nhân và đề xuất các giải pháp, trong
đó có các giải pháp chủ yếu và cần được ưu tiên như: Nâng cao nhận thức và
năng lực của người dân và cộng đồng; chuyển giao công nghệ theo hướng ưu
tiên phù hợp đặc thù địa lý và dân tộc; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục
vụ đời sống, sản xuất và lưu thông. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh các hoạt động
Đường, tỉnh Lai Châu.
Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng
trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu,
huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phát
triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao xã Hồ
Thầu nói riêng và đóng góp cho sự phát triển của nghề công tác xã hội trên
địa bàn tỉnh Lai Châu nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển cộng đồng trong xóa
đói giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện
Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
4.1.2. Khách thể nghiên cứu
- Các hộ nghèo trong xã.
- Đại diện chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể có liên quan.
8
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ tháng 2/2016 đến đầu tháng
7/2016
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các
hoạt động phát triển cộng đồng trong xóa đói giảm nghèo đối với người dân
tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, bao gồm
các hoạt động: tuyên truyền nâng cao nhận thức, hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ dịch
tin chung về số lượng hộ nghèo, đặc điểm của hộ nghèo, biến động về hộ
nghèo, nguyên nhân nghèo đói, hoạt động kinh tế và vấn đề việc làm của các
hộ nghèo, thu nhập và mức độ chi tiêu của các hộ nghèo
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trong quá trình nghiên cứu phát triển
cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo tại xã Hồ
Thầu, ngoài nghiên cứu định lượng tác giả đã thực hiện 03 cuộc thảo luận
nhóm với các đối tượng: Phụ nữ nghèo, nhóm thanh niên nghèo và đại diện
lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể của xã bằng các công cụ thu thập
thông tin để hiểu biết cộng đồng, các hoạt động phát triển cộng đồng trong
xóa đói giảm nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tại địa
phương. Từ đó, xây dựng các giải pháp can thiệp góp phần nâng cao hiệu quả
phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo. Để
hiểu sâu hơn những vấn đề liên quan đến giảm nghèo, đặc biệt là các giải
pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân về công tác giảm nghèo,
các hoạt động hỗ trợ sinh kế và hoạt động hỗ trợ dịch vụ xã hội. Tác giả đã
tiến hành phỏng vấn sâu 7 người với các đối tượng: 2 trưởng bản (bản Phô và
bản Rừng Ổi), Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ xã, Bí thư đoàn thanh niên xã
Hồ Thầu, 2 hộ nghèo và 1 hộ thanh niên thoát nghèo.
- Quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát tham dự và quan sát không
tham dự để có nhìn nhận đánh giá đầy đủ về tình trạng nghèo đói của địa
10
phương; tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề phát triển công đồng tới giải
quyết đói nghèo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn “Phát triển cộng đồng trong xóa đói
giảm nghèo đối với người dân tộc Dao từ thực tiễn xã Hồ Thầu, huyện Tam
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Dao trong xóa đói giảm
nghèo tại xã Hồ Thầu, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI
VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Khái niệm và đặc điểm về người dân tộc Dao
1.1.1. Khái niệm
Người dân tộc Dao còn có các tên gọi khác là Mán, Ðông, Trại, Dìu
Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc
Mùn, Sơn Ðầu... Tên thường tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn. Dân tộc này có
các nhóm địa phương khác nhau như Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng,
Dao Dụ Lạy, Dao Ðại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo,
Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn),
Dao Tiền (Dao Ðeo Tiền, Dao Tiểu Bản), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao
Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài). Họ sử dụng nhóm ngôn
ngữ Mông-Dao.
Người dân tộc Dao cư trú dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào; một số
tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ. Họ sống tập trung ở các tỉnh Hà Giang,
Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu,
Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ... Ngoài ra, còn có một
số di chuyển vào các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk
Nông, Lâm Đồng và các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình
Phước...
Tại Việt Nam, dân tộc Dao theo điều tra dân số năm 1999 có 620.538
người. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Dao ở Việt
biến của người dân tộc Dao. Tuỳ từng nhóm dân tộc, từng vùng; hình thức
canh tác này hoặc hình thức canh tác khác nổi trội lên như: người Dao Quần
Trắng, Dao Áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước; người Dao Ðỏ
thường thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm dân tộc Dao khác làm nương rẫy,
14
du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu
quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng
chừng núi và ở vùng cao còn nuôi ngựa, dê. Nghề trồng bông, dệt vải phổ
biến ở các nhóm dân tộc Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm bản người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ.
Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang.
Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng
cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép
sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma.
Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật...
1.1.2.3. Về phong tục tập quán
Người dân tộc Dao thờ tổ tiên là Bàn Hồ. Qua tên đệm xác định dòng
họ và thứ bậc. Trong hôn nhân gia đình, sau khi cưới người con trai phải đến
ở rể nhà vợ. Thời hạn ở rể có thể một vài năm hoặc có thể vĩnh viễn. Việc ma
chay thường theo tục lệ xa xưa. Vài vùng có tập tục hoả táng cho người chết
từ 12 tuổi trở lên.
Về văn hoá, người dân tộc Dao có nền văn hoá lịch sử lâu đời và tri
thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học cổ truyền. Họ không có văn tự
riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ Nôm Dao.
Người dân tộc Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và
bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn
của người Dao cũng rất phong phú, tuỳ nhóm dân mà dựng nhà trệt hay nửa
sàn, nửa đất. Hiện nay tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, ngôi nhà nửa sàn
nửa đất được chọn để trưng bày và giới thiệu. Loại nhà nửa sàn nửa đất là loại
kiến trúc nhà cửa của riêng người Dao, gắn liền với cuộc sống du canh, du cư
trước đây. Điều đặc biệt là toàn bộ ngôi nhà của người Dao đều được làm
bằng tranh, tre, nứa, lá; không bao giờ có một chút gạch ngói. 8 cột cái trong
16
nhà được làm bằng những cây gỗ quí, có tuổi rất già từ 80 đến 90 năm. Mỗi lần
chuyển nhà, họ có thể bỏ phên, tranh, tre, nứa, lá; còn những cột cái bằng gỗ quí
có sức bền với thời gian thì họ chuyên chở đi để làm ngôi nhà nơi ở mới.
Phương tiện vận chuyển của người dân tộc Dao ở vùng cao thường
dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp thì gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi
lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Trong quan hệ xã hội, ở thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm
giềng và quan hệ dòng họ. Người dân tộc Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là
các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có
hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
1.1.2.4. Các tập tục sinh hoạt
Về sinh đẻ, phụ nữ người Dao thường đẻ ngồi, đẻ ngay tại trong buồng
ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ thường treo
cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào
nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày
thì làm lễ cúng mụ.
Về cưới xin, trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem
có hợp nhau không. Có tập tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái
trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi
nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
thơ. Họ có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ
ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, sự tích Bàn Vương rất phổ
biến của người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ
tôn giáo. Người dân tộc Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
1.2. Khái niệm và các tiêu chí đo lường nghèo đói
1.2.1. Khái niệm
Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù
chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện
đang được các quốc gia thừa nhận;
18
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham
gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ
mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt
hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín
dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ
của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành,
phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận
nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008,
được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua).
Theo Ngân hàng Thế giới (WB 2000), "Đói nghèo là sự mất đi tình
trạng ấm no", ấm no có thể được đo bằng việc sở hữu của cá nhân về thu
nhập, sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, tài sản, nhà ở và các quyền nhất định
trong xã hội như quyền tự do ngôn luận. Đói nghèo là sự thiếu các cơ hội,
thiếu quyền lực và khả năng dễ bị tổn thương; Đói nghèo thực sự là là hiện
tương do rất nhiều nguyên nhân như vậy và cần có chính sách toàn diện và
chương trình can thiệp nhằm thúc đẩy sự ấm no, và giúp họ ra khỏi đói nghèo.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm