Giáo dục đạo đức công vụ đối với cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc uỷ ban nhân dân huyện tam đường, tỉnh lai châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng - Pdf 65

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ TRỌNG THI

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN
NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ TRỌNG THI

HÀ NỘI- 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐỖ TRỌNG THI

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TAM
ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ

3


CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC
ĐCSVN
CNXH
HĐND
UBND
QPPL
CV
ĐĐCV
GDĐĐ
LLCT
ĐTBD
CNH- HĐH
KT- XH
CT- XH
MTTQ

Cán bộ, công chức
Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ nghĩa xã hội
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Quy phạm pháp luật
Công vụ
Đạo đức công vụ
Giáo dục đạo đức
Lý luận chính trị

hành chính thuộc UBND cấp huyện theo tiếp cận cộng đồng trong giai đoạn hiện
nay………………………………………………………………………………….41
1.6. Kinh nghiệm giáo dục đạo đức công vụ của một số quốc gia………………..43
Chương 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC UỶ BAN NHÂN
DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU THEO TIẾP CẬN PHÁT
TRIỂN CỘNG ĐỒNG……………………………………………………………46
2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Đường, cơ cấu tổ chức bộ máy
tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường,
tỉnh Lai Châu……………………………………………………………………….46
2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Đường…………………….46
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính
thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu…………………………………..48
2.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức công tác tại các cơ quan hành chính
thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu……………………………….….49
2.2.1. Số liệu thống kê……………………………………………………………...49
2.2.2. Phân tích số liệu thống kê…………………...………………………………51
2.3. Thực trạng thi hành công vụ và giáo dục đạo đức công vụ cho cán bộ, công
chức các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu…..53
2.3.1. Tổ chức tiến hành khảo sát…………………………………………………..53
2.3.2. Kết quả khảo sát, đánh giá…………………………………………………..55
2.4. Đánh giá thực trạng……………………………………………………………70
2.4.1. Những ưu điểm…………………………………………...…………………70
2.4.2. Những tồn tại cần khắc phục………………………………………………..71
5


2.4.3. Nguyên nhân của thực trạng……………………………………………...…71
Chương 3. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC ỦY BAN NHÂN

2.1. Đối với tỉnh Lai Châu………………………………………………………..102
2.2. Đối với huyện Tam Đường…………………………………………………..103
2.3. Đối với cán bộ, công chức…………………………………………………...103
2.4. Đối với các lực lượng cộng đồng………………………………………….…103

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Đạo đức là gốc của người cách
mạng", Người ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, "Muốn việc
thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản
Việt Nam luôn quan tâm và coi trọng công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đây
chính là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng nước ta.
Trong bối cảnh hiện nay cho thấy, sự nghiệp cách mạng của nước ta vừa có
những thuận lợi, vừa có những khó khăn thách thức đan xen. Nhiều vấn đề mới nảy
sinh cần có sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong toàn xã hội. Sự khủng
hoảng về đạo đức, sự “lệch chuẩn, loạn chuẩn” đang là mối lo ngại đối với mỗi cán
bộ, công chức và nhân dân. Hơn nữa, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết chống
phá cách mạng Việt Nam bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Việc giáo dục đạo
đức cho đội ngũ CBCC ở huyện Tam Đường nói riêng và cả nước nói chung có ý
nghĩa chính trị to lớn, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới, là nhiệm vụ quan trọng,
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa.
Luật CBCC (năm 2008) ra đời và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
cán bộ, công chức và viên chức (2019) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc
phân định rõ giữa đội ngũ CBCC làm việc trong các cơ quan hành chính với đội ngũ
viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước. Qua đó, tạo
điều kiện thuận lợi để tập trung xây dựng, hoàn thiện và phát triển đội ngũ CBCC,
góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy hành chính Nhà

tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ngược lại, sẽ làm họ thất vọng, phản
ứng, không hợp tác, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của
Nhà nước. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay vẫn bộc lộ những yếu kém,
bất cập; năng lực và phẩm chất của một bộ phận CBCC còn yếu; trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của CBCC chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tính chủ
động, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn thấp; khả năng quản lý, điều
hành còn nhiều hạn chế. Một bộ phận CBCC thoái hoá, biến chất, tham ô, nhũng nhiễu
phiền hà, thiếu công tâm, khách quan khi giải quyết công việc; kỷ luật hành chính lỏng
lẻo, bản lĩnh thiếu vững vàng. Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
uy tín, hiệu quả lãnh đạo của Đảng và điều hành Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của
Nhân dân. Trước những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới đặt ra đòi hỏi bức thiết phải GDĐĐ công vụ cho đội ngũ
CBCC nói chung trong đó có đội ngũ CBCC ở các cơ quan hành chính nói riêng.
Tam Đường là huyện được chia tách từ huyện Phong Thổ và được thành lập
năm 2002; đội ngũ CBCC của huyện đa số đều trẻ, đang từng bước được chuẩn hoá
về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, năng lực thực thi công vụ, kỹ năng xử lý
các vấn đề mới... nhằm nâng cao đạo đức công vụ đối với CBCC của huyện Tam
Đường nói chung, các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện nói riêng. Điều đó đòi
hỏi cần có những biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC nói chung và CBCC ở các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam
Đường nói riêng; trong đó có việc giáo dục đạo đức công vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn hiện nay để phát triển văn hóa - xã hội, kinh tế... của địa phương,
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH đất nước (13).

8


Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức công vụ đối với
cán bộ, công chức các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam
Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triển cộng đồng” làm đề tài Luận văn

các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
theo tiếp cận phát triển cộng đồng.
5.4. Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

9


6. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về GDĐĐ công vụ cho CBCC các cơ quan
hành chính thuộc UBND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu theo tiếp cận phát triển
cộng đồng.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng GDĐĐ công vụ ở các cơ quan hành chính
thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu từ năm 2015 đến 2020.
- Không gian: Chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
7. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu và phân tích, khái quát hóa các quan điểm lý luận thể hiện trong
các chuyên khảo, bài báo, các tài liệu chuyên môn và cơ sở pháp lý liên quan đến
nội dung đề tài luận văn. Đây là cơ sở hình thành khung lý luận về GDĐĐ cho
CBCC khối cơ quan hành chính Cấp huyện theo tiếp cận phát triển cộng đồng.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát bằng phiếu hỏi đối với đội ngũ
CBCC hiện đang làm việc tại các cơ quan hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân huyện
Tam Đường (Phụ lục 1, 2).
- Phỏng vấn: phỏng vấn ông Từ Hữu Hà – Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch
UBND huyện Tam Đường về “Hiệu quả của công tác GDĐĐ công vụ cho CBCC
thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng”.
- Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: Từ việc phân tích thực trạng
GDĐĐ công vụ đối với CBCC các cơ quan hành chính thuộc UBND huyện Tam



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THEO
TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Đối với người cán bộ, công chức, đạo đức là gốc, là nền tảng để quyết định
mọi vấn đề và có liên quan đến chất lượng thực thi công vụ; sinh thời Bác Hồ có
dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc
gì cũng khó”. Việc bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ
luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trong suốt cuộc đời hoạt động cách
mạng. Người đặc biệt quan tâm đến đạo đức cách mạng của người cán bộ. Người
chỉ rõ: “Cán bộ là cái dây truyền của bộ máy” và “Cán bộ chính là những người
đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở
thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [14; Tr.24] điều đó cho thấy vai
trò và tầm quan trọng của đạo đức cách mạng đối với người đảng viên, cán bộ, công
chức có ảnh hưởng quan trọng tới uy tín, thanh danh của Đảng, có sức cảm hóa,
thuyết phục, tập hợp, phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân nhằm thực hiện
thành công sự nghiệp cách mạng. Trong hai tiêu chuẩn cơ bản “đức” và “tài” của
người cán bộ, đảng viên thì đức phải là cái gốc, đức quyết định sự thành công của
người cán bộ “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [16;
Tr.327].
Cán bộ, công chức và giáo dục đạo đức công vụ có mối quan hệ biện chứng
trong việc rèn luyện, hoàn thiện nhân cách của người cán bộ, công chức. Đó là mối
quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật với năng lực công tác của người CBCC. Tôn trọng
và thực hiện Hiến pháp, pháp luật vừa là nghĩa vụ pháp lý, vừa là nghĩa vụ đạo đức
công vụ của người CBCC, vì Hiến pháp, Pháp luật đã hàm chứa trong đó những quy
tắc đạo đức và các yếu tố văn hóa dân tộc.
Hiện nay, đạo đức, lối sống của CBCC đang chịu sự tác động, chi phối của

Nó là sức mạnh tự bảo vệ để con người công chức và thể chế nhà nước không tự đánh
mất mình, không rơi vào tình trạng tự huỷ hoại… Đạo đức công chức còn là động lực
tinh thần, giá trị văn hoá thúc đẩy xã hội phát triển, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước” [39;Tr.56,139]. Nguyễn Minh Phương (2004) trong nghiên cứu kinh
nghiệm tăng cường đạo đức công vụ của một số nước trên thế giới, cho thấy vấn đề
đạo đức công chức khu vực công được nhiều nước hết sức quan tâm, coi trọng. Việc
giáo dục đạo đức công vụ ở một số nước được thực hiện ngay khi công chức mới
được tuyển dụng và trong suốt thời gian công tác. Nguyễn Thị Vân Hương (2014) thì
cho rằng năng lực thực thi công vụ của CBCC thể hiện thông qua kết quả công việc
và phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống. Thái độ và hành vi ứng xử của CBCC đối
với công dân trong hoạt động công vụ là cầu nối quan trọng không chỉ thể hiện trong
mối quan hệ giao tiếp mà còn thể hiện hình ảnh của cơ quan công quyền, hình ảnh
nhà nước với công dân. Đào Thị Ái Thi (2008) trong nghiên cứu đã cho ta thấy trong
thực thi công vụ nếu CBCC chỉ biết làm theo nguyên tắc hành chính đơn thuần mà
không biết thuyết phục quần chúng hoặc ngược lại, đều không mang lại hiệu quả
trong công việc. Vì thế, bên cạnh những đặc trưng cơ bản của người CBCC phải tuân
thủ như: Tính chính xác, minh bạch, khách quan, nghiêm túc, tính khuôn mẫu và quy
phạm thì người CBCC cần tu dưỡng đạo đức cách mạng; khiêm tốn, tích cực học tập,
nâng cao kiến thức chuyên môn, rèn luyện tư thế tác phong trong giao tiếp thực thi
13


công vụ (35). Lê Đình Mùi (2015) đã tập trung đánh giá làm rõ những ưu điểm,
những hạn chế, tính khả thi của các quy định pháp luật về đạo đức công vụ, công
chức từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về đạo đức công vụ, công
chức (23).
Trên thế giới, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CBCC rất đa dạng và khác nhau
ở mỗi nước nhưng đều nhằm mục đích nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức
nguồn nhân lực, góp phần xây dựng một nền hành chính công minh bạch, hiện đại.
Ở Việt Nam, việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC vừa có nét chung của các nước, lại vừa



Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài ở Việt Nam tồn
tại một tập hợp khái niệm "cán bộ, công nhân, viên chức" cho tất cả những người
làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ, công chức, viên
chức. Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000,
2003) đề cập tới ba đối tượng cán bộ, công chức, viên chức tuy nhiên, Pháp lệnh
vẫn chưa phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”
mà quy định chung các đối tượng "cán bộ, công chức" là công dân Việt Nam, trong
biên chế. Có thể nói, thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng như là một ước lệ, chưa thể
hiện tính chất hành chính, chưa rõ nội hàm của khái niệm.
Cụ thể hóa Pháp lệnh CBCC, Chính phủ đã ban hành các Nghị định bàn về
CBCC xã, phường, thị trấn; về chế độ công chức dự bị; về tuyển dụng, sử dụng và
quản lý CBCC trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội; về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCC trong các cơ quan nhà
nước. Trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghị định chúng ta có
thể hiểu cán bộ là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ
trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, ở cấp tỉnh và cấp huyện.
Ngày nay, khái niệm cán bộ dùng để chỉ những người được biên chế vào làm
việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, doanh nghiệp nhà nước và sĩ quan
trong lực lượng vũ trang. Ngoài ra, cán bộ được coi là những người có chức vụ, vai
trò nòng cốt trong một cơ quan, tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của
cơ quan, tổ chức và liên quan đến vị trí lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp
phần quyết định xu hướng phát triển của cơ quan, tổ chức.
Luật CBCC (2008) đã quy định cụ thể: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được
bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [Điều 4].

Ở Pháp, khái niệm công chức rất rộng, người công chức được phân thành hai
loại. Loại thứ nhất là những nhân viên công chức làm việc thường xuyên trong bộ
máy nhà nước, bị chi phối bởi Luật công chức; loại thứ hai là những nhân viên công
chức bị chi phối bởi Luật lao động, bởi bản hợp đồng và luật tư. Họ được nhà nước
hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong các công
sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện.
Ở Trung Quốc, khái niệm công chức nhà nước dùng để chỉ những người
công tác trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, từ nhân viên phục vụ.
Gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính
nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến
pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức chính quyền các cấp; và công chức nghiệp
vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ
nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chức
nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật.
Ở Mỹ, công chức bao gồm tất cả những nhân viên hành chính của Chính phủ,
kể cả những người được bổ nhiệm về Chính trị như Bộ trưởng, Thứ trưởng, trợ lý Bộ
trưởng, người đứng đầu các cơ quan Chính phủ. Tuy nhiên, khái niệm công chức trong
diện điều chỉnh của Luật Công chức lại không bao gồm những công chức được bổ
nhiệm về chính trị, họ được gọi là công chức chức nghiệp. Đặc điểm của công chức
16


Mỹ là không mang tính thường xuyên liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại; việc tuyển
chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng thực tế, công chức chỉ được tuyển
dụng vào một công việc cụ thể mà không có con đường chức nghiệp.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành gắn liền với sự phát triển
của nền hành chính nhà nước. Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về công
chức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều 1
quy định “công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân
tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay

hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp
và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật. Được hưởng tiền làm thêm giờ,
tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
1.2.1.3. Khái niệm cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính thuộc
UBND huyện
Qua nghiên cứu thực tế chúng tôi nhận thấy hiện nay chưa có một văn bản
riêng biệt nào trình bày về khái niệm công chức trong các cơ quan hành chính thuộc
Uỷ ban nhân dân huyện, tuy nhiên với đặc thù của mô hình nhà nước xã hội chủ
18


nghĩa ở Việt Nam thì vai trò lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng. Mặt khác do
đồng nhất hoạt động công vụ với hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng cho nên
khái niệm công chức không chỉ bao gồm các đối tượng làm việc trong cơ quan nhà
nước (cả lập pháp, hành pháp và tư pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng và đều
được gọi chung là cán bộ, công chức nhà nước. Đội ngũ CBCC này đều được điều
chỉnh chung bởi luật cán bộ, công chức và các văn bản khác của Đảng và Nhà nước.
Ngoài những đặc điểm chung của công chức nhà nước, công chức công tác ở
các cơ quan hành chính thuộc UBND có những đặc điểm riêng đó là: Là lực lượng
làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND có chức năng tham mưu, giúp
việc cho UBND lãnh đạo triển khai các chủ trương của cấp trên và ban hành các
chủ chương để thực hiện vai trò chức năng lãnh đạo của cấp mình. Về chế độ, công
chức công tác trong cơ quan hành chính thuộc UBND cũng được hưởng một số chế
độ khác theo quy định của Đảng và Nhà nước. Từ các Văn bản QPPL quy định về
CB, CC, theo chúng tôi:
Cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính thuộc UBND là công dân Việt
Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế,
hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc ở các cơ quan ở Trung ương,
Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

đơn vị thuộc
Quân đội nhân
dân, Công an
nhân dân.


Thông thường việc phân loại công chức ở nước ta hiện nay theo hệ thống
chức nghiệp được thực hiện theo các tiêu chí như: Vai trò vị trí, chuyên môn nghiệp
vụ và trình độ đào tạo. Trong từng loại, lại có thể phân thành nhóm hay loại nhỏ
hơn. Chẳng hạn công chức ở các cơ quan hành chính thuộc UBND phân theo các
lĩnh vực: công chức làm việc, công tác văn phòng HDND, UBND, các phòng
chuyên môn thuộc UBND…(9)
Việc phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân
lực. Phân loại công chức ở cơ quan hành chính thuộc UBND không những giúp cho
việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung,
công tác mà còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá đạo đức công vụ cho cán bộ, công
chức trong thực hiện công việc.
1.2.2. Giáo dục đạo đức công vụ
1.2.2.1. Khái niệm công vụ
Hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước chủ yếu được vận hành thông
qua nền công vụ và đội ngũ CBCC. CBCC Việt Nam nói chung, CBCC của các cơ
quan hành chính thuộc UBND cấp huyện nói riêng, được hình thành và phát triển gắn
liền với quá trình cách mạng nước ta qua các thời kỳ khác nhau, là những người được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nhân danh nhà nước thực hiện các công việc
trong nền công vụ, do vậy khái niệm công vụ và công chức luôn song hành cùng nhau.
Thuật ngữ “công vụ” được sử dụng tương đối phổ biến trong khu vực công
của nhiều quốc gia hiện đại trên thế giới. Tuy nhiên, các quan niệm về công vụ ở
các quốc gia lại không giống nhau. Và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ,
đặc biệt trong các thể chế và văn bản QPPL về công vụ, công chức cũng chưa có
một định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ công vụ.

tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Như vậy, thuật ngữ công vụ cũng chỉ có tính
tương đối, không mang tính tuyệt đối.
Khái niệm công vụ dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều có các đặc điểm sau:
+ Đối tượng công vụ là công việc hay nhiệm vụ thuộc khu vực công;
+ Chủ thể công vụ là CBCC trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội khác thực hiện;
+ Hoạt động công vụ được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước hay một phần
từ ngân sách nhà nước, hoạt động phục vụ lợi ích công.
Như vậy, công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý,
được thực thi bởi đội ngũ CBCC nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã
hội hoặc những người khác khi được trao quyền nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình quản lý toàn diện
các mặt hoạt động của đời sống xã hội. Công vụ là phục vụ Đảng, Nhà nước và
phục vụ Nhân dân.
1.2.2.2. Khái niệm đạo đức, đạo đức công vụ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng" [14;Tr.431]. Trong
xã hội hiện nay có nhiều quy tắc xã hội: chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, quy
tắc của các tổ chức xã hội, cộng đồng.... Những quy tắc này có quan hệ mật thiết,
tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và có vai trò điều
chỉnh hành vi, cách xử sự của con người.
21


Đạo đức được hiểu là "Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá
nhân với tập thể, với xã hội" [16;Tr.595], "phẩm chất tốt đẹp của con người: sống có
đạo đức". Như vậy, đạo đức được hiểu ở một số phương diện sau: thứ nhất, đạo đức
là những chuẩn mực, những quy tắc trong hành vi, cách xử sự giữa con người với

người đó ngoài công vụ, mỗi mặt có những đặc trưng riêng, tạo thành một thể thống
nhất đạo đức của người CBCC.

22


Đạo đức công vụ của CBCC gồm: đạo đức cách mạng, đạo đức cá nhân và
đạo đức nghề nghiệp; trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh
của người CBCC. Đạo đức cách mạng thể hiện ở tinh thần yêu nước nồng nàn, tận
tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn
đấu thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đạo đức cá nhân của CBCC trước hết thể
hiện ở ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; tôn trọng, giữ gìn
kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không
tham ô, lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha,
ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội, có tinh thần hướng
thiện, hiếu học. Đạo đức nghề nghiệp của CBCC thể hiện trước hết ở lòng say mê,
cần mẫn, tinh thần trách nhiệm và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ.
Từ những vấn đề trên theo chúng tôi có thể hiểu:
Đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi, xử sự
trong công vụ, nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự, chức trách, bổn phận,
nghĩa vụ của CBCC trong hoạt động công vụ và những người khác khi được ủy
quyền thực thi công vụ.
Như vây, đạo đức công vụ của người CBCC gắn liền với đạo đức xã hội,
những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị, nhưng đồng thời đạo đức công vụ còn
là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt - thực thi công vụ của CBCC. Trong thi hành công
vụ, CBCC cần phải biến những quy định pháp luật thành những chuẩn mực đạo đức
công vụ, từ đó nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân dân, và ngược lại
phải thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức thành những quy phạm

và trách nhiệm khi thực thi công vụ.
Đạo đức công vụ là một bộ phận cơ bản trong nhân cách của mỗi người
CBCC, nó không phải tự nhiên mà có, quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện
phải chịu sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan. Kết quả của
GDĐĐ công vụ phải đánh giá bằng hoạt động tự giác thực hiện nghĩa vụ, trách
nhiệm của CBCC. Để thực hiện tốt GDĐĐ công vụ, các chuẩn mực đạo đức phải
hướng con người đến những giá trị đích thực của cuộc sống, nghĩa là nó phải gắn
với hoạt động thực tiễn sinh động của mỗi CBCC, đồng thời xã hội phải tạo nên
môi trường và phương thức GDĐĐ công vụ phù hợp với nghề nghiệp, lứa tuổi để
mỗi người tự rèn luyện mình trong thực tiễn; phải được tổ chức bằng nhiều hình
thức khác nhau (ở trong nhà trường, ở tập thể đơn vị công tác, ở trải nghiệm thực
tiễn công vụ); phải tác động đến đạo đức cá nhân, đạo đức xã hội của mỗi CBCC.
Đạo đức công vụ được xem xét từ hai góc độ:
Thứ nhất là góc độ của tồn tại người- đó chính là đạo đức của bản thân người
CB, CC. Nói cách khác chủ thể đạo đức công vụ là người công chức. Với tư cách là
công dân, người công chức phải mang trong mình những nguyên tắc, chuẩn mực,
giá trị đạo đức xã hội mà trong đó họ sống, hoạt động.
Thứ hai là góc độ đạo đức nghề nghiệp- có nghĩa với tư cách là công chức,
họ phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực quy định cách ứng xử của người
công chức trong hoạt động thực thi công vụ mà không bao giờ được vi phạm đạo
đức của nghề công chức. Ph.Ăngghen từng viết rằng: “Trong thực tế, mỗi giai cấp
và ngay cả mỗi nghề nghiệp đều có đạo đức riêng của mình” [10;Tr.425]. Do đó,

24


việc giáo dục đạo đức công vụ không chỉ dừng lại ở sự nhận thức mà cần phải được
pháp điển hóa trong nền công vụ.
Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng:
Giáo dục đạo đức công vụ cho CBCC là những hoạt động, tác động có tổ

có cùng mối quan tâm cơ bản. Ở đây, cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư sinh
sống trong một thực thể xã hội, trong một địa vực nhất định, có cơ cấu tổ chức chặt

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status