VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
TRNH VN ANH
Vận dụng phơng pháp phát triển cộng đồng
trong hỗ trợ ngời nghèo từ thực tiễn xã xuân phú
huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa
LUN VN THC S CễNG TC X HI
H NI - 2015
1
VIN HN LM
KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
TRNH VN ANH
Vận dụng phơng pháp phát triển cộng đồng
trong hỗ trợ ngời nghèo từ thực tiễnxã xuân
phúhuyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa
Chuyờn ngnh : Cụng tỏc xó hi
Mó s : 60 90 01 01
LUN VN THC S CễNG TC X HI
NGI HNG DN KHOA HC
PGS.TS. PHM HU NGH
H NI - 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
27/12/2008 của Chính phủ), hiện nay là 62 huyện do chia tách
địa giới hành chính
CT NTM Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới
giai đoạn 2010-2020 (theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ)
DTTS Dân tộc Thiểu số
ĐBKK Đặc biệt khó khăn
FFS Lớp học hiện trường
HTSX Hỗ trợ sản xuất
KT-XH Kinh tế - Xã hội
LĐ-TBXH Bộ lao động – Thương binh và xã hội
LKH Lập kế hoạch
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
PRA Đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng
PSARD Chương trình Cải thiện Dịch vụ Công trong Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn
PRPP Dự án “Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướng
giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu
quốc gia về giảm nghèo bền vững (2012-2015)”
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1
Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo xã Xuân Phú trong 3 năm 2011 – 2013
Bảng 2 Trình độ học vấn của chủ hộ nghèo, cận nghèo tại xã Xuân Phú
Bảng 3 Cơ cấu nghề nghiệp tại các hộ nghèo xã Xuân Phú
Bảng 4 So sánh mức thu nhập và chi tiêu của hộ bình thường và hộ nghèo
Hình 1
Nguyên nhân nghèo kinh niên
Hình 2 Qui trình cho vay hộ nghèo của NHCSXH
Hộp 1
là 2%.
Giảm nghèo và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân là chủ
trương lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm góp phần thu hẹp khoảng cách
chênh lệch về mức sống giữa các nhóm dân cư, giữa nông thôn và thành thị, giữa
các vùng, các dân tộc; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Thành tựu của Việt Nam về giảm
nghèo trong hai thập kỷ qua rất lớn và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá
cao. Mức độ giảm nghèo nhanh của Việt Nam được thể hiện một cách rõ ràng kể cả
8
khi sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá và theo dõi sự tiến bộ - cho
dù là đánh giá theo chuẩn nghèo quốc gia hay sử dụng các chuẩn nghèo so sánh của
quốc tế (bình quân đầu người 1,25 USD và 2 USD/ngày). Nếu sử dụng chuẩn nghèo
chi tiêu “dựa theo nhu cầu cơ bản” do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổng cục
Thống kê (TCTK) đề xuất, tỉ lệ nghèo đã giảm từ 58% vào năm 1993 xuống 9,6%
vào năm 2012. Số lượng tuyệt đối về người nghèo sống ở Việt Nam cũng đã giảm
mạnh. Nếu sử dụng chuẩn nghèo theo thu nhập của Chính phủ giai đoạn 2011 đến
2013, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước cũng giảm rõ rệt, từ 11,76% (2011) xuống còn
9,6% (2012) và 7,8% (2013), ước thực hiện năm 2014 là 5,8-6%. Với tốc độ giảm
nghèo này, chắc chắn tỷ lệ hộ nghèo cả nước sẽ đạt mục tiêu Quốc hội đề ra là còn
dưới 5% vào cuối năm 2015.
Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo trong
hai thập kỷ qua, song đang phải đối mặt với một số thách thức lớn trong việc duy trì
tiến độ giảm nghèo trong thập niên mới, đó là: Nghèo tập trung ở nhóm đồng bào
dân tộc thiểu số và một số vùng miền núi; Khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng
gia tăng;Một số dạng rủi ro có xu hướng gia tăng như việc làm, tác động của biến
đổi khí hậu; tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, các rủi ro trong cuộc sống…
dẫn đến giảm nghèo thiếu bền vững; và tăng trưởng kinh tế đóng vai trò động lực
chính của giảm nghèo đã có xu hướng chậm lại rõ ràng.Tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội
khóa XIII, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã trình Quốc hội Báo cáo giám sát chuyên
đề về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo, giai đoạn 2005 - 2012”
vươn lên thoát nghèo bền vững.
Thực tế hiện nhiều chương trình, dự án Phát triển cộng đồng nhằm xóa đói
giảm nghèo cho người dân vẫn chưa thực sự hiệu quả và bền vững bởi thiếu đội ngũ
tác viên cộng đồng và phương pháp thực hiện phù hợp. Từ thực tiễn và lý luận nêu
trên, tác giả chọn đề tài “Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng trong hỗ
trợ người nghèo từ thực tiễn xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh
Hóa”để làm luận văn tốt nghiệp. Với mong muốn áp dụng phương pháp phát triển
cộng đồng trong việc trợ giúp các đối tượng nghèo đói giải quyết khó khăn, hướng
đến thoát nghèo bền vững.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về nghèo đói, công tác xóa đói giảm nghèo và lồng ghép phương
pháp phát triển cộng đồng đối với người nghèođã thu hút nhiều nhà nghiên cứu, các
10
tổ chức phi chính phủ, các học giả trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu
luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết,
tạp chí trong nước tiêu biểu.
- Báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng
của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức” của World Bank (2012). Báo
cáo đã đánh giá những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong công tác giảm nghèo
trong 20 năm. Tỉ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% đầu năm 1990 xuống
còn 20,7% năm 2010, ngoài ra còn đạt được những thành tựu ấn tượng trong giáo
dục và y tế, tỉ lệ học sinh ở bậc tiểu học của người nghèo đạt mức hơn 90% và bậc
trung học cơ sở là 70%. Tuy nhiên báo cáo cũng chỉ ra tăng trưởng đang suy giảm
trong những năm gần đây do các bất ổn vĩ mô và các cú sốc từ bên ngoài, bất bình
đẳng ra tăng, nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số vẫn cao và khó xóa bỏ. Người
nghèo dân tộc vẫn chiếm tỉ lệ cao gần 50% số người nghèo năm 2010, họ tiếp tục
sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa và những vùng cao nơi năng suất lao động thấp.
Đồng thời báo cáo cũng đưa ra giải pháp là phải thực hiện mô hình trăng trưởng
mang lại lợi ích cho mọi người dân, bằng cách mở rộng đầu tư vào khu vực nông
thôn, lĩnh vực sản xuất và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
khuyến nông phù hợp với đồng bào dân tộc cụ thể: Cách tiếp cận “tiểu dự án”(gồm
một tập hợp các hoạt động khuyến nông và hỗ trợ sinh kế gắn kết đồng bộ, với mục
tiêu, thời gian và nguồn lực cụ thể) đã được áp dụng khá phổ biến ở các thôn bản
DTTS trong các dự án tài trợ. Mỗi thôn bản DTTS là một thực thể xã hội riêng biệt.
Do đó, các“tiểu dự án” giúp người nghèo DTTS tiếp cận có hiệu quả hơn với
khuyến nông, do được tổ chức phù hợp với nhu cầu, điều kiện và tập quán sản xuất,
văn hóa tộc người, thúc đẩy vai trò của những người tiên phong, phát huy vai trò
tích cực của các mối liên kết xã hội và các kênh lan tỏa nông dân – nông dân trong
từng thôn bản dân tộc thiểu số; Lớp học hiện trường (FFS), nhằm chuyển từ dạy
kiến thức sang dạy kỹ năng theo nhu cầu của nông dân, có thể gắn với xây dựng mô
hình, là một phương pháp khuyến nông hiệu quả với người nghèo DTTS, như đã
được chứng minh tại tỉnh Hòa Bình và Cao Bằng. Nhiều giảng viên FFS là cán bộ
khuyến nông, cán bộ thú y xã được người dân đánh giá cao do có kinh nghiệm thực
tế, biết điều chỉnh bài giảng phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
- Nghiên cứu “Đánh giá tác động của quỹ hỗ trợ phát triển xã (CDF) trong
chương trình PSARD tại Hòa Bình” của cơ quan hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC)
12
– 2014. Quỹ hỗ trợ phát triển xã (CDF) là nguồn vốn đầu tư phân cấp trọn gói cho
cấp xã, nhằm chủ động thực hiện một số hạng mục nhỏ và đơn giản theo nhu cầu
với sự tham gia, đóng góp, thực hiện của người dân. Năm 2011-2012, quy mô CDF
tại Hòa Bình là 200 triệu/xã, năm 2013 là 250 triệu/xã và năm 2014 là 300 triệu/xã.
Riêng năm 2014, 26 xã làm tốt còn nhận được thêm nguồn thưởng từ quỹ dự phòng
với tổng số tiền thưởng năm 2014 là 6,1 tỷ. Điểm nổi bật trong thực hiện quỹ CDF
được báo cáo chỉ ra đó là vai trò của người dân và cộng đồng được đề cao trong quá
trình thực hiện kinh tế xã hội tại địa phương. Công trình CDF do xã làm chủ đầu tư
thực sự, với nguồn vốn từ CDF, các xã được làm chủ đầu tư thực sự, được hoàn
toàn chủ động từ khâu lập kế hoạch, thiết kế, lập dự toán, cho tới việc theo dõi,
giám sát tiến độ thi công, thanh quyết toán tại Kho bạc; Công trình CDF xuất phát
từ nhu cầu ưu tiên của người dân qua quá trình LKH có sự tham gia từ thôn xóm.
Theo quy định của Sổ tay CDF, các hoạt động sử dụng nguồn quỹ CDF phải có
công tác giảm nghèo chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, người dân được
hưởng nhiều chương trình hỗ trợ giảm nghèo, thoát nghèo nhưng thực tế không
được cải thiện.
Như vậy thông qua các nghiên cứu đánh giá về công tác xóa đói giảm nghèo ta
thấy được những thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà Đảng và nhà
nước đã đạt được trong suốt thời gian qua. Đời sống của người dân nhất là người
nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện theo hướng tốt lên. Song vẫn tồn
tại những bất hợp lý từ chính những chính sách hỗ trợ đang thực hiện, những bất
lợi, rào cản khiến người nghèo khó vươn lên. Qua các nghiên cứu đã khái quát về
hiện trạng nghèo của nước ta, những cơ hội và thách thức trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nghèo, nguyên nhân cản trở việc thoát
nghèo của các hộ nghèo tại xã Xuân phú.Những điểm nổi bật trong việc áp dụng
phương pháp phát triển cộng đồng trong hỗ trợ đối với người nghèo tại địa bàn
nhằm giúp cộng đồng giải quyết khó khăn vươn lên thoát nghèo và hướng đến sự
phát triển bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu
14
-Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến phát triển cộng đồng
-Xác định phương pháp phát triển cộng đồng sử dụng trong nghiên cứu
-Thu thập các thông tin liên quan đến địa bàn nghiên cứu, thực trạng nghèo của
xã
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng vai trò của tác viên cũng như việc áp dụng
phương pháp phát triển cộng đồng trong hỗ trợ giảm nghèo tại xã Xuân Phú.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng trong hỗ trợ người nghèo từ thực
tiễn xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Khách thể nghiên cứu
thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng
khác.Phương pháp duy vật lịch sử đòi hỏi khi nghiên cứu vấn đề nghèo, phải đặt
chúng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể và trên những địa bàn, vùng lãnh thổ cụ
thể. Nghèo chỉ được xem xét một cách toàn diện, đầy đủ khi chúng được đặt trong
một hoàn cảnh lịch sử cụ thể với những địa phương nhất định. Đối với Việt Nam
chính sách, chương trình hỗ trợ giảm nghèo được đặt trong bối cảnh đất nước đang
quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với nhiều cơ hội và thách thức. Trong khuôn khổ
nghiên cứu tiếp cận đánh giá về vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng cần
đứng trên góc độ thực hiện để thấy được đặc điểm cũng như vai trò của phát triển
cộng đồng.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có liên quan như các báo cáoxóa đói giảm
nghèo của Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh Thanh Hóa, báo cáo về tình hình
phát triển kinh tế xã hội qua các năm của xã Xuân Phú, báo cáo về kết quả các chương
trình hỗ trợ giảm nghèo của xã Xuân Phú. Các văn bản pháp lý, tài liệu từ các nguồn
sách báo, báo điện tử, công trình nghiên khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh
vực nghiên cứu.v.v.
16
n =
n =
= 141 mẫu
Phương pháp bằng trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, với những tiêu chí và
khoảng cách phù hợp với nội dung nghiên cứu.
- Đối tượng: Những hộ gia đình thuộc diện nghèo tại xã Xuân Phú, huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Dung lượng mẫu:
Áp dụng công thức lấy mẫu sau:
N x t
thông tin chuyên sâu về tình hình nghèo đói, khả năng tiếp cận các nguồn lực của
hộ nghèo, cũng như hiệu quả từ các chương trình hỗ trợ giảm nghèo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
17
Luận văn nghiên cứu và đánh giá vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng
đối với người nghèo tại xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, đồng thời
bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá của mọi người về tầm
quan trọng của công tácgiảm nghèo nói chung và áp dụng phương pháp phát triển
cộng đồng nói riêng trong các hoạt động hỗ trợ người nghèo.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp cho chính quyền địa phương tỉnh, các nhà nghiên cứu
quan tâm thông tin đầy đủ về thực trạng nghèo, nguyên nhân nghèo tại xã Xuân
phú. Hiệu quả của các hỗ trợ đối với người nghèo thông qua các công cụ phát
triển cộng đồng.Trên cơ sở đó giúp chính quyền địa phương và người dân hiểu
được tầm quan trọng của công tácgiảm nghèo; đưa ra những giải pháp, chính
sách điều chỉnh phù hợp nhằm giúp người nghèo tại địa phương thoát nghèo, tiến
tới cuộc sống tốt đẹp.
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với nhà khoa học,
nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực công tác xã hội nói chung và
công tác xã hội với người nghèo nói riêng.
7. Nội dung và Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 2
chương sau đây:
Chương 1: Lý luận về phát triển cộng đồng và vận dụng phương pháp phát
triển cộng đồng trong hỗ trợ người nghèo.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng
đối với người nghèo tại xã Xuân Phú, huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hóa.
18
Chương 1
nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung
bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn
hoặc bằng chuẩn nghèo.
- Hộ cận nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ
trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo.
- Người nghèo: là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản
lý hộ nghèo.
- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, được xác định theo chuẩn
nghèo hiện hành.
Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo ở Việt Nam
Tiêu chí xác định hộ nghèo và cận nghèo được xác định theo từng giai đoạn
khác nhau. Chuẩn nghèo mới nhất được áp dụng theo Quyết định số 09/2011/QĐ-
TTg về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến
520.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến
650.000 đồng/người/tháng.
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an
sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Hiện nay, tỉnh Bình Định và thành
phố Quy Nhơn đều áp dụng chuẩn nghèo theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 nêu trên.
Cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam
Các khái niệm về nghèo cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà
chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo
cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của
các dịch vụ xã hội cơ bản;Đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo
đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, đã được xây dựng và xem xét vào cuối
21
năm 2014.
Nguyên nhân nghèo đói ở Việt nam
Một số nguyên nhân đói nghèo ở nước ta được chỉ ra, có những nguyên nhân độc
lập, nhưng cũng có những đan xen, quan hệ nhân quả với nhau cụ thể:
Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
Việt Nam ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp biển Đông, thường
xuyên chịu những ảnh hưởng của thiên tai như mưa bão, đặc biệt là hiện tượng biến
đổi khí hậu làm cho hiện tượng hạn hán, thủy lụt lội thường xuyên xảy ra ảnh
hưởng xấu đến đời sống người dân.
Trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội phát
triển, tỷ lệ tăng dân số còn cao; Do sự cách biệt, cô lập với tình hình phát triển
chung như đường giao thông, phương tiện thông tin tiến bộ, khoa học kỹ thuật,
phúc lợi xã hội, không nói được ngôn ngữ chung của đất nước.v.v.
Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách
Trải qua thời gian dài trong cơ chế bao cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế; vì
vậy, việc xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là đúng đắn, kịp
thời. Song cơ chế mới, nhiều chính sách về kinh tế xã hội còn thiếu, chưa đồng bộ,
trong đó chính sách đầu tư phát triển đặc biệt là đầu tư phát triển nông nghiệp –
nông thôn; Các chính sách ưu đãi, khuyến khích, sản xuất, tạo việc làm, y tế, văn
hoá, giáo dục; Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng chưa thỏa đáng, nhất là ở các vùng
núi, vùng cao, vùng sâu…
Do bản thân người nghèo:
Ngoài những tác động trên vấn đề nghèo đói còn do yếu tố chủ quan của người
nghèo như:Thiếu vốn, thiếu kiến thức, thiếu thông tin về thị trường, thiếu đất, đông
con, thiếu lao động, thất nghiệp, rủi ro, ốm đau, tai nạn, vướng vào tệ nạn xã hội;
Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ
vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo.Các nguyên nhân
chức năng một cách hiệu quả;
- Tạo ra những thay đổi cụ thể trong việc thực hiện chức năng của gia đình nhằm duy
trì hoạt động để đảm bảo tốt cuộc sống hàng ngày của mọi thành viên trong gia
đình.
1.1.3. Phát triển cộng đồng
23
a. Cộng đồng
“Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm
tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau” (Korten,1987)
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì “cộng đồng là một thực thể xã hội có
cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và
chịu ràng buộc bởi các đặc điển và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương
tác và trao đổi giữa các thành viên”.
b. Phát triển
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng,
không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên
liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp.
Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật
“Phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, đó là sự tăng trưởng. Còn về mặt
phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ”.
(Phát triển cộng đồng cho sự phát triển kinh tế-Xã hội nông thôn, TS Trần Thị
Thanh Hà, Khoa tài nguyên đất và môi trường nông nghiệp, Đại học nông lâm
Huế).
c. Phát triển cộng đồng
Khái niệm phát triển cộng đồng được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên,
1940.Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân
trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của
nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng.
Phát triển cộng đồng là một diễn tiến qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc