Sáng kiến kinh nghiệm sử 7 một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn lịch sử lớp 7 tại trường thcs lạc hòa - Pdf 38

Trường THCS Lạc Hòa

Sáng Kiến kinh nghiệm

MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………… 2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ …………………….. …3
1. Kể chuyện lịch sử trong giờ dạy………………………… 3
2. Sử dụng hình ảnh minh họa ……………………………. 8
3. Cung cấp tư liệu cho HS ………………………………... 13
4. Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề …. ………………………… 21

III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……………………...

24
1. Kết quả …………………………………………………... 25
2. Bài học kinh nghiệm ……………………………………. 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Người thực hiện: Nguyễn Đức Dũng

Trang 2


Trường THCS Lạc Hòa

Sáng Kiến kinh nghiệm

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn lịch sử trong nhà trường phổ thông nói chung ở lớp 7 nói riêng có


Người thực hiện: Nguyễn Đức Dũng

Trang 3


Trường THCS Lạc Hòa

Sáng Kiến kinh nghiệm

II. GIẢI QUYÊT VẤN ĐỀ (Cách làm mới)

1. Kể chuyện lịch sử trong giờ dạy.
Có thể nói rằng, bất cứ nơi nào, ở đâu những câu chuyện kể luôn luôn
mang lại hiệu quả. Đặc biệt là tính giáo dục của các câu chuyện, môn lịch sử
cũng không là ngoại lệ. Điếu quan trọng là ta phải biết sử dụng đúng lúc, đúng
chỗ để nó phát huy giá trị và không làm mất thời gian của tiết học.
Khi sử dụng giáo viên phải biết chắt lọc, kể gọn và sau mỗi câu chuyện
phải biết đặt những câu hỏi hoặc gợi ý cho học sinh nêu lên suy nghĩ của mình, từ
đó giáo dục tư tưởng cho HS.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 9 – Nước Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền Lê, ở mục I 2

giáo viên có thể kể về thái hậu Dương Vân Nga:

Khi đề cao võ công văn trị của Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, những vị anh
hùng của công cuộc thống nhất đất nước không thể không nhắc đến công lao cua
Dương Vân Nga đối với đất nước. Cỏ thể xem Dương Vâm Nga là cái cầu nối
giữa Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, người làm cho côg cuộc thống nhất đất nứơc do
Đinh Bộ Lĩnh khởi xưởng được Lê Hoàn hoàn tất. Sự nghiệp chính trị của người
phụ nữ ấykhông được sử cũ chú ý đến mà lại cứ tập trung vào thân phận làm vợ


Sáng Kiến kinh nghiệm

Kể chuyện này giáo viên chú ý bỏ qua những đoạn đánh giá nhận xét mà
tập trung vào đoạn Dương Vân Nga lấy áo bào khoác lên người Lê Hoàn, cách
đối xử của mọi người đối với bà. Từ đó đặt câu hỏi để HS thể hiện ý kiến của
mình đối với thái hậu Dương Vân Nga, qua đó giáo dục tư tưởng cho HS.
Ví dụ 2. Khi dạy bài 14 – Ba lần kháng chiến chống quan xâm lược Mông –
Nguyên, ở mục IV – Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử, có thể kể về Trần
Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, …

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
Hơn bảy trăm năm trước, cả Á – Âu đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm
về cái hoạ Tác – ta (giặc Mông ), khi chúng lướt trên vó ngựa viễn chinh tàn phá
hết nước này sang nước khác. Từ Thái Bình Dương sang tận bên bờ Địa Trung
Hải, khắp Á – Âu chưa có một danh tướng nào ngăn cản được. Giáo hoàng La
Mã sợ hãi đến nỗi “… tuỷ khô, thân gầy, sức kiệt”. Người Đức hàng ngày cầu
nguyện: “ Xin chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ Tác – ta !”, vó ngựa
của chúng đi đến đâu cỏ không mọc được đến đó. Vậy mà ở miền Đông Nam
châu Á, lũ giặc Tác – ta phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài
nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc
Công Tiết chế, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.
Công lao to lớn của Người, ba lần tổng chỉ huy quân dân Đại Việt cả phá
quân Nguyên – Mông hung bạo, đánh cho chúng thất điên bát đảo, Trấn Nam
Vương Thoát Hoan chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.
Với tài thao lược, trí dũng song toàn, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên
hết, Trần Hưng Đạo không chỉ sống mãi trong lòng mọi người dân đất Việt mà
còn vang danh khắp năm châu bốn biển. Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) là một
anh hùng kiệt xuất của dân tộc ta đồng thời là danh nhân quân sự cổ kim của thế
giới.

Trong kháng chiến ông luôn hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt .dư luận xì
xào sợ ông giết vua. Ong liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm
nghi, làm yêu lòng dân quân.
Ba lần chống giặc Nguyên – Mông , các vua Trần đều giao cho ông chức Tiết
chế(tổng tư lệnh quân đội ), vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính vì
vậy tướng sĩ hết lòng thương yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đạo quân
bách chiến bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là vị tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ
binh thư :Binh thư yếu lược và Vạn Khiếp tổng bí truỵền thư để răn dạy các
tướng cầm quân đánh giặc.khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, ông viết “ Hịch
tướng sĩ”, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui. Hịch
tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc đại bút .
Trần Quốc Tuấn là một bậc đại tướng gồm đủ đức và tài. Là tướng nhân
oâng thương dân như quân, chỉ cho họ con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi
việc phải hơn điều nghĩa. Là tướng trí, ông xông pha vào nơi nguy hiểm để đánh
giặc, tạo nên những trận Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời. Là tướng tín, ông bày tỏ
trước quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông sẽ gặp hoạ. Cho nên cả ba lần
đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọg trách điều sát binh mã và đều la[65
được công lớn.
Hai tháng trước khi mất, vua Anh tông đến thăm và hỏi :
- Nếu chẳng may khanh mất đi, giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế
sách làm sao ?
Ông đã trăng trối những lới tâm huyết ,sâu sắc, đúng cho mọi thời đại :
- Thời bình phải khoan thứ sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng
sách giữ nước.
Mùa thu tháng tám, ngày 20 năm Canh tý (1300) “Bình Bắc đại nguyên
soái” Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn qua đời. Theo lới ông dặn, thi hài
ông được hoả tảng thu vào bình đồngvà chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng
An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng , trồng cây như cũ. Vua gia phong
cho ông chức Hưng Đạo đại vương. Triều đình lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí

Mới ngoài 20 tuổi, Nhật Duật đã được triều đình nhà Trầngiao d9ặc cách
những công việc về các dân tộc có liên quan. Vua Nhân Tông thán phục, thường
nói đùa: “Chiêu Văn vương có lẽ không phải người nước Việt mà là hậu thân
của giống Phiên, Man”. Tiếp xúc với các sứ thần triều Nguyên, có lần Nhật Duật
đã vui vẻ, tự nhiên trò chuyện suốt cả một ngày, khiến cho sứ nhà Nguyên khăng
khăng cho rằng Nhật Duật là người Hán ở chân Định ( gần Bắc Kinh)sang làm
quan bên Đại Việt. Hiển nhiên, Nhật Duật phải khổ học công phu và phải hết sức
kiên trì mới đạt đựơc kết quả như vậy. Câu chuyện sau đây chứng tỏ Nhật Duật
chẳng những giỏi các thứ tiếng mà còn là nhà dân tộc học lỗi lạc.
Ngày ấy, vua quan triều Trần được tin chúa đạo Đà Giang (thuộc miền Tây
Bắc ngày nay)Trịnh Giác Mật tụ họp phe đảng nổi lên cự lại triều đình. Tin dữ
trong nước đến cùng lúc nhà Nguyên đang sửa soạn đại binh đánh Đại Việt. Cần
dẹp ngay mỗi bất hoà trong nước. Người đảm đang trọng trách này kông ai khác
hơn Nhật Duật. Thế là vị tướng trẻ 27 tuổi dưới cờ hiệu “ Trấn thủ Đà Giang”
làm lễ ra quân lên đường .
Hay tin, chúa Đà Giang họp đám đầu mục bàn kế cự chiến. Trịnh Giác Mật
định ám hại vị tướng trẻ triều Trần nên đưa thư dụ Nhật Duật: “ Giác Mật không
giám chống lại triều đình. Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin ra
hàng ngay”. Muốn thu phục được Giác Mật, Nhật Duật mặc các tướng can ngăn,
một mình một ngựa đến trại Giác Mật, chỉ mang theo mấy tiểu đồng đi theo hầu.
Thản nhiên giữa lớp lớp gươm giáo và đám lính an mặc kì dị cố ý phô trương để
uy hiếp của Giác Mật. Nhật Duật nói với chúa đạo bằng chính ngôn ngữ và theo
đúng phong tụccủa dân tộc Đà Giang.
- Lũ tiểu đồng của ta khi đi đường thì nóng tai trái, vào đây thì nóng tai
phải.
Người thực hiện: Nguyễn Đức Dũng

Trang 7



400 km, đã tỏ ra ông là một nhà quân sự kiệt xuất. Hồ Nguyên Trừng cũng sáng
tạo ra cách đánh độc đáo: ông cho đúc nhiều cây xích lớn chăng qua những khúc
sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phụctrang bị hoả lực mạnh, từng khiến cho
thuỷ quân giặc nhiều phen khiếp đảm. Tuy vậy nói đến Hồ Nguyên Trừng người
ta thuờng nhắc đến công sáng chế súng thần cơ của ông.
Thời ấy, do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, muốn có nhiều súng trang bị
cho các thành trì và các hạm đội, Hồ Nguyên Trừng đã phải gấp tổ chức những
xưởng đúc súng lớn. Nhờ thông minh tuyệt vời cùng khả năng suy nghĩ phi
thường, ông đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền trên cơ sở đó, phát minh,
chế tạo ra những loại súng có sức công phá khủng khiếp. Từ việc cải tiến súng,
chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của đạn, Nguyên trừng phát minh ra phương pháp
đúc súng mới gọi là súng “thần cơ”. Súng thần cơ của ông có đầy đủ các bộ phận
của loại súng thần công sau này. Nòng súng là một ống được đúc bằng sắt hoặc
đồng. Phía đuôi súng được đúc kín có bộ hận ngòi cháy nổ ở chỗ nhồi thuốc nổ.
Đạn pháo là mũi tên bằng sắt lớn. Khi bắn, người ta nhồi thuốc súng phía đáy rồi
đặt mũi tên vào giữa và nhồi loại đạn bằng sắt và chì. Súng thần cơ có nhiều loại:
loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa áng chừng 700 mét. Hồ Nguyên Trừng đặc biệt
cho đúc nhiều súng thần cơ cỡ lớn, gọi là “thần cơ pháo”. Thần cơ pháo thực
Người thực hiện: Nguyễn Đức Dũng

Trang 8


Trường THCS Lạc Hòa

Sáng Kiến kinh nghiệm

chất là thấn cơ cỡ lớn được đặt trên thành hoặc trên xe kéo cơ động. Quân minh
bao phen kinh hoàng về loại sùng này mà không hiểu nổi. Nhưng cuộc kháng
chiến của nhà Hồ thất bại vì không được nhân dân ủng hộ, trong lúc quân giặc

HS suy nghĩ tìm ra các vấn đề liên quan đến hình ảnh chứ không để cho HS nhìn
hình chỉ vì nó lạ, đẹp.
Đối với các nhân vật lịch sử có thể đặt dạng câu hỏi như: Ông là ai? Sống
dưới triều đại nào? Ông có công lao gì? Ta có thể học được gì nơi ông? … Đối
với các hình là những chùa chiền có thể hỏi: tên của chùa là gì? Nó liên quan đến
triều đại nào, sự kiện lịch sử nào? Qua hình đó thể hiện điều gì (liên quan đến bài
học)?… và giáo dục tư tưởng cho HS.

Người thực hiện: Nguyễn Đức Dũng

Trang 9




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status