Trang 1
Mã số: 46
MỐI QUAN HỆ GIỮA BIẾN ĐỘNG TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ KIM NGẠCH
XUẤT KHẨU VIỆT NAM BẰNG
CÁCH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
ARDL
Trang 1
TÓM TẮT BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu của tôi nhằm mục đích kiểm tra thực nghiệm tác động của sự
biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam, bằng cách sử dụng
phương pháp kiểm định giới hạn ARDL, được đề xuất đầu tiên bởi Pesaran và các
cộng sự năm 2001. Sử dụng chuỗi dữ liệu hàng quý, các phân tích thực nghiệm
được tiến hành trong khoảng thời gian từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2013. Các
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm và có ý nghĩa thống kê lên kim ngạch xuất khẩu. Điều này hàm
ý rằng một sự gia tăng trong biến động tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm kim ngạch xuất
khẩu tại Việt Nam. Tuy nhiên mối quan hệ này trong ngắn hạn lại không có ý nghĩa
thống kê. Bên cạnh đó, các kết quả cũng cho thấy GDP Việt Nam cũng như GDP
thế giới có tác động tương quan dương lên kim ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn
và dài hạn. Ngoài ra tỷ giá hối đoái thực có tác động tương quan âm và có ý nghĩa
thống kê lên kim ngạch xuất khẩu.
Trang 1
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI.................................................................................... 1
CHƯƠNG 4 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 22
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NGHIỆM TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI DỮ LIỆU ................................ 22
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH ĐỒNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC BIẾN....................................... 27
KẾT QUẢ UỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH DÀI HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL ........... 30
KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH NGẮN HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL ....... 33
MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC HỆ SỐ ƯỚC LƯỢNG ........................................................ 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN- HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU ................................. 37
PHỤ LỤC BẢNG ............................................................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................. 50
Trang 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LEP .................................... 23
Hình 2 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LG...................................... 24
Hình 3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LRER ................................. 25
Hình 4 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LV...................................... 26
Hình 5 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LWG .................................. 27
Hình 6 Kết quả ước lượng phương trình (1) bằng phương pháp OLS ..................... 28
Hình 7 Kết quả kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến ..................................... 29
Hình 8 Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho các biến theo tiêu chuẩn AIC ................ 30
Hình 9 Kết quả ước lượng các hệ số dài hạn bằng cách sử dụng phương pháp ARDL
(3, 1, 2, 1, 2).............................................................................................................. 31
kích thích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu.
Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn gắn liền
với tự do hóa thương mại. Chính vì điều đó đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
diễn ra mạnh mẽ và góp phần ngày càng lớn vào cán cân thương mại mỗi nước, đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình
hội nhập cũng mang lại nhiều thách thức, trong đó có một yếu tố cực kỳ đáng quan
tâm là sự biến động tỷ giá hối đoái ngày càng phức tạp và khó lường trước được.
Hơn nữa đối với Việt Nam, khi xuất khẩu hàng hóa chúng ta sẽ thu về đồng ngoại
tệ, không giống như nhiều quốc gia phát triển, đồng tiền mà họ nhận được khi xuất
khẩu chính là đồng nội tệ. Dẫn đến rủi ro mà chúng ta phải gánh chịu do sự biến
động tỷ giá là lớn hơn so với các nước này. Nên việc tìm hiểu tác động của rủi ro tỷ
giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu một lần nữa lại đóng một vai trò quan trọng
đối với một nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng và mở cửa như Việt Nam.
Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy trong những năm vừa qua, chính sách tỷ giá
hối đoái luôn là một vấn đề thời sự và hết sức nhạy cảm. Muốn xây dựng thành
công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề rất khó khăn, phức
tạp. Do đó cần phải hiểu rõ những tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái như thế
nào, để từ đó chính phủ có thể tìm kiếm các giải pháp hạn chế ảnh hưởng của sự
biến động tỷ giá hối đoái và đưa nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tốt nhất,
Trang 2
thông qua việc sử dụng hiệu quả các công cụ điều hành tỷ giá và các chính sách tỷ
giá hối đoái thích hợp.
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu nói về tác động của sự biến động tỷ giá hối
đoái lên xuất khẩu tại nhiều quốc gia khác nhau, tuy nhiên các kết quả trong những
bài nghiên cứu này vẫn chưa có sự thống nhất. Do đó đây vẫn là một vấn đề gây
tranh cãi trong những năm qua. Xuất phát từ thực tế trên đã thôi thúc tôi thực hiện
bài nghiên cứu này để kiểm định về việc kim ngạch xuất khẩu phản ứng với những
biến động tỷ giá hối đoái như thế nào cả trong ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra, tôi
Bố cục bài nghiên cứu
Trang 3
Bài nghiên cứu của tôi được tổ chức làm 5 chương:
Chương 1 giới thiệu khái quát về đề tài, trong chương này tôi sẽ trình bày về
lý do chọn đề tài, các vấn đề cần làm rõ trong bài nghiên cứu. Bên cạnh đó tôi cũng
giới thiệu sơ lược về các phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài. Phần ý nghĩa
của đề tài được nêu ở cuối chương này.
Chương 2 sẽ giới thiệu tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ
giữa biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu, phần này tôi sẽ trình bày sơ
lược nội dung, phương pháp và kết quả nghiên cứu của các tác giả.
Chương 3 là chương thể hiện một cách chi tiết về phương pháp nghiên cứu,
phương pháp đo lường các biến, cách thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu đầu vào.
Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5 là chương kết luận, hạn chế của bài nghiên cứu.
1.5
Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt lý luận:
Bài nghiên cứu này kiểm tra thực nghiệm tác động của sự biến động tỷ
giá hối đoái, cũng như tỷ giá hối đoái thực, GDP trong nước và GDP
thế giới lên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cả trong ngắn hạn và
dài hạn.
- Về mặt thực tiễn:
Các kết quả của bài nghiên cứu là tiền đề quan trọng giúp cho các nhà
hoạch định chính sách trong việc đưa ra chính sách tỷ giá cho phù hợp
dụng phương pháp hồi quy phi tuyến tính và hồi quy tuyến tính. Đây là một phương
pháp được sử dụng phổ biến và khá đơn giản. Các kết quả kiểm định thực nghiệm
đã cho thấy kỹ thuật ước lượng bằng phương pháp hồi quy phi tuyến tính quá đơn
giản để cho ra các kết quả có ý nghĩa cao, từ đó bắt buộc nhóm tác giả tập trung vào
phương trình hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có
tác động tương quan âm lên giá cả thị trường, trong trường hợp nhà nhập khẩu có
thể đối mặt với nhiều rủi ro. Đó là vì khi rủi ro gia tăng, nhu cầu nhập khẩu giảm
xuống và làm cho giá cả thị trường giảm. Còn đối với nhà xuất khẩu, thì sự biến
động tỷ giá hối đoái có tác động tương quan dương lên giá cả thị trường trong
trường hợp xuất khẩu có thể gánh chịu nhiều rủi ro, vì chi phí giao dịch cao. Tuy
nhiên, bài nghiên cứu lại không tìm thấy bất kỳ tác động nào của rủi ro tỷ giá hối
đoái lên khối lượng mậu dịch, mặc dù đã cố gắng thử nghiệm và đưa ra phương
trình khối lượng thay thế.
Trang 5
Tiếp theo vào năm 1993 với bài nghiên cứu của Chowdhurry: “Does
exchange rate volatility depress trade flows? Evidence from error correction
models”. Bài nghiên cứu kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên
dòng chảy thương mại của các nước G-7. Dữ liệu được lấy trong giai đoạn từ quý 1
năm 1973 đến quý 4 năm 1990. Đây là khoảng thời gian tương ứng với sự sụp đổ
của chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Như vậy về kích thước mẫu trong bài nghiên cứu
này đã gia tăng so với bài nghiên cứu trước đây, làm cho các kết quả thống kê có ý
nghĩa hơn. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Do đó chuỗi dữ
liệu của từng biến được nghiên cứu đều được kiểm định tính dừng bằng phương
pháp ADF. Sau đó là kiểm định tính đồng liên kết và ước lượng mối quan hệ trong
ngắn hạn giữa biến động tỷ giá hối đoái và dòng chảy thương mại của các nước G7. Như vậy ta có thể nhận thấy bài nghiên cứu này đã khắc phục được nhiều nhược
điểm mà các bài nghiên cứu trước đây đã thực hiện về mặt kỹ thuật. Cụ thể là nó đã
góp phần tránh hiện tượng “ Hồi quy giả mạo”, bởi vì trước khi đi vào kiểm định
mối quan hệ, bài nghiên cứu đã sử dụng kiểm định tính dừng của từng chuỗi dữ
một cách đồng thời. Vì theo quan điểm của hai ông việc mô hình hóa khối lượng
xuất khẩu trong khi lờ đi giá xuất khẩu sẽ làm cho việc xem xét không rõ ràng. Các
kết quả nghiên cứu cho thấy đối với Úc, Canada và Nhật, đã tìm thấy một mối quan
hệ tương quan âm giữa sự biến động tỷ giá hối đoái và khối lượng xuất khẩu. Tuy
nhiên, chỉ có Canada và Nhật Bản tác động được tìm thấy là có ý nghĩa thống kê.
Còn đối với 3 quốc gia Thụy Điển, Hà Lan và Anh thì sự biến động tỷ giá hối đoái
có mối quan hệ tương quan âm, nhưng chỉ có Thụy Điển, và Anh là tác động này có
ý nghĩa thống kê.
Sau đó vào năm 1997 với bài nghiên cứu của Stilianos Fountas và Donal
Bredin: “Exchange rate volatility and exports: The case of Ireland”. Bài nghiên
cứu được thực hiện để kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim
ngạch xuất khẩu từ Ireland đến Anh, thị trường quan trọng nhất cho hoạt động xuất
khẩu ở Iredland, từ khi mở rộng hệ thống tiền tệ châu Âu ( Vào tháng 3-1979) cả
trong ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu mối quan hệ giữa
sự thay đổi giá cả tương đối và thu nhập đối với kim ngạch xuất khẩu từ Ireland
sang Anh. Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy theo quý, từ quý 2 năm 1979 đến
quý 3 năm 1993. Bài nghiên cứu này sử dụng một kỹ thuật kinh tế hiện đại của
chuỗi thời gian để ước lượng hàm nhu cầu xuất khẩu trong cả dài hạn và ngắn hạn ở
Ireland. Đó là kỹ thuật đồng liên kết để kiểm định liệu có sự tồn tại mối quan hệ
Trang 7
trong dài hạn giữa các biến và mô hình ECM để ước lượng các hệ số trong ngắn
hạn. Bài nghiên cứu này cải thiện so với các bài nghiên cứu trước ở chỗ nó đã ước
tính hàm nhu cầu xuất khẩu ở Ireland theo một vài cách. Đó là nhóm tác giả đã có
một phương pháp đo lường biến động tỷ giá hối đoái để điều tra tác động lên kim
ngạch xuất khẩu. Lựa chọn này là hợp lý bởi vì một sự gia tăng trong biến động của
tỷ giá hối đối của đồng bảng Anh theo sau sự sụp đổ trong sự liên kết tương ứng
giữa 2 đồng tiền vào lúc bắt đầu của hệ thống tiền tệ châu Âu. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng khối lượng xuất khẩu khá nhạy cảm với sự thay đổi trong thu
tháng 1-1990 đến tháng 12-2000. Nguyên nhân mà tác giả lại sử dụng giai đoạn này
để nghiên cứu là để giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sự thay đổi trong chính
sách tỷ giá hối đoái ở Thổ Nhĩ Kỳ. Vì mặc dù ở Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng nhiều chính
sách tự do hóa nền kinh tế kể từ sau năm 1981, nhưng đã không hoàn toàn tự do hóa
về chính sách tỷ giá mãi cho đến năm 1988. Đây cũng là một cách lựa chọn mẫu dữ
liệu tốt hơn so với các bài nghiên cứu trước. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu
chỉnh sai số và kỹ thuật đồng liên kết để ước lượng mối quan hệ đồng liên kết và
các biến động trong ngắn hạn tương ứng. Khác với phương pháp thống kê sử dụng
để đo lường sự biến động tỷ giá hối đoái trong các bài nghiên cứu trước, trong bài
nghiên cứu này tác giả đã ước tính biến động tỷ giá hối đoái bằng 2 cách. Đầu tiên
là sự biến động tỷ giá hối đoái xoay quanh xu hướng được dự báo của nó và cách
thứ hai là đo lường bằng độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi trong tỷ giá hối đoái
thực. Từ đó cho thấy một phương pháp đo lường đầy đủ sự biến động của tỷ giá hối
đoái thực, như là một sự đại diện cho rủi ro tỷ giá. Các kết quả nghiên cứu cho thấy
sự biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu thực tại Thổ Nhĩ Kỳ có mối
quan hệ tương quan âm và có ý nghĩa thống kê trong dài hạn đối với Đức, Pháp và
Mỹ. Ngoài ra, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động tương quan âm trong ngắn
hạn lên xuất khẩu với Đức. Đối các quốc gia còn lại, tác động trong ngắn hạn đều
không có ý nghĩa thống kê. Theo quan điểm của tác giả việc tận dụng tỷ giá kỳ hạn
của thị trường phòng ngừa rủi ro tỷ giá, có thể làm cho sự biến động là một nhân tố
ít tác động lên xuất khẩu thực đối với các quốc gia này trong ngắn hạn. Cuối cùng,
những nhà hoạch định chính sách nên xem xét sự tồn tại cũng như mức độ tác động
của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu thực, để từ đó đưa ra các
chính sách cho phù hợp.
Bài nghiên cứu cũng vào năm 2002 của Baak, Al- Mahmood và Vixathep với
tựa đề: “Exchange Rate Volatility and Exports from East Asian Countries to
Trang 9
Japan and U.S”. Nội dung bài nghiên cứu nhằm điều tra tác động của sự biến động
Trang 10
cứu trong bài này khắc phục được rất nhiều nhược điểm so với các bài nghiên cứu
trước. Cụ thể như khắc phục được kích thước mẫu nhỏ, có thể ước lượng các hệ số
cả trong ngắn hạn và dài hạn,… Điều này tôi sẽ thể hiện rõ hơn trong phần phương
pháp nghiên cứu mà tôi sẽ đề cập đến trong phần 3. Kết quả của bài nghiên cứu cho
thấy kim ngạch xuất khẩu của Anh đến 14 nước trong EU, cả theo ngành và tổng
hợp các ngành nhìn chung đều không bị ảnh hưởng bởi sự biến động tỷ giá hối đoái
trong ngắn hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn thì sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm và có ý nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu từ Anh sang các nước
EU.
Thông qua các bài nghiên cứu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự
biến động tỷ giá hối đoái luôn là vấn đề được xem xét và đáng quan tâm ở các quốc
gia phát triển. Mặc dù đối với các quốc gia này, sự tác động có thể có ý nghĩa thấp
hơn so với các quốc gia đang phát triển. Nguyên nhân là vì ở các nước phát triển,
hầu hết khi xuất khẩu hàng hóa, đồng tiền mà họ nhận về chính là đồng nội tệ, ví dụ
như USD, GBP,... Do đó một khi sự biến động tỷ giá hối đoái xảy ra, rủi ro mà nhà
xuất khẩu nhận lấy thấp hơn nhà nhập khẩu- là đối tác của họ. Nhà nhập khẩu lúc
này là người nhận hàng hóa, và chịu trách nhiệm về toàn bộ khối lượng hàng cho
đến khi phân phối nó đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, khi hàng hóa nhập khẩu là những mặc hàng tiêu dùng thiết yếu thì rủi
ro của nhà nhập khẩu do sự biến động tỷ giá sẽ giảm xuống. Bên cạnh đó, cũng có
trường hợp khi đồng tiền thanh toán cho nhà xuất khẩu không phải là đồng nội tệ thì
nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu đều phải đối mặt với rủi ro biến động tỷ giá hối
đoái.
2.2
Các bài nghiên cứu về tác động của sự biến động tỷ giá
hối đoái lên hoạt động xuất khẩu ở các nước đang phát triển
dụng mô hình ECM và mô hình ARCH để đo lường biến động trong cả ngắn hạn và
dài hạn. Để phân tích điều tác động này, tác giả đã xây dựng 4 phương pháp đo
lường sự biến động, đó là độ lệch chuẩn trung bình di động và độ lệch chuẩn theo
thời gian, cho cả tỷ giá hối đoái thực và danh nghĩa. Đây cũng là một ưu điểm so
với bài nghiên cứu của Mustafa và Nishat năm 2004. Các kết quả dựa trên kiểm
định đồng liên kết chỉ ra rằng kim ngạch xuất khẩu thực đồng liên kết với giá cả
tương đối, GDP của châu Âu và sự biến động tỷ giá hối đoái. Bên cạnh đó, trong
dài hạn khối lượng xuất khẩu có tương quan âm với biến động tỷ giá hối đoái đối
với Algeria, Ai Cập, Tunisia và Turkey, trong khi lại tương quan dương với
Trang 12
Morocco và Israel. Bài nghiên cứu còn cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có ý
nghĩa trong hầu hết các trường hợp, nhưng các hệ số tương quan âm hay dương lại
phụ thuộc vào sự biến động đó là thực hay danh nghĩa và ở quốc gia nào. Do đó, tác
giả đã chỉ ra rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động lên kim ngạch xuất khẩu
thực của các nước MENA cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Bài nghiên cứu của Aliyu vào năm 2008, với tựa đề: “Exchange Rate
Volatility and Export Trade in Nigeria: An Empirical Investigation”. Bài nghiên
cứu tìm kiếm sự đánh giá về tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên dòng xuất
khẩu phi dầu mỏ tại Nigeria. Trong đó dòng xuất khẩu phi dầu mỏ của nền kinh tế
Nigeria giả định là được xác định trên các biến cơ bản: Sự biến động tỷ giá hối đoái,
sự biến động của đồng USD, điều kiện thương mại của Nigeria (TOT) và chỉ số mở
cửa (OPN). Bài nghiên cứu sử dụng các quan sát theo quý trong khoảng thời gian
20 năm, từ quý 1 năm 1986 đến quý 4 năm 2006. Như vậy so với các bài nghiên
cứu trước, mẫu được thu thập trong bài nghiên cứu này đã góp phần giảm thiểu các
vấn đề liên quan đến sự thay đổi trong chính sách tỷ giá hối đoái ở Nigeria. Từ đó
đem lại kết quả ước lượng tốt hơn và phản ánh đúng hơn. Bài nghiên cứu này sử
dụng phân tích cơ bản gồm kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết của
Johansen và sử dụng mô hình VECM để ước lượng mối quan hệ trong dài hạn. So
rằng các quốc gia nên tập trung vào sự ổn định hóa tỷ giá hối đoái của mình đối với
các đối tác thương mại chủ yếu, thay vì chỉ theo đuổi quá trình hợp tác tiền tệ và
chính sách tỷ giá hối đoái khu vực.
Bài nghiên cứu của Musonda năm 2008: “Exchange rate volatility and NonTraditional exports performance: Zambia, 1965- 1999”. Bài nghiên cứu nhằm
kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái thực lên thành quả xuất khẩu phi
truyền thống của Zambia, từ năm 1965-1999. Bằng cách sử dụng mô hình GARCH
để đo lường biến động tỷ giá hối đoái tương tự như cách tiếp cận của nhiều bài
nghiên cứu khác. Các kết quả chỉ ra rằng sự biến động tỷ giá hối đoái làm giảm kim
ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn. Bên cạnh đó cũng cho thấy các nhân
tố kinh tế vĩ mô tích cực cũng góp phần quan trọng trong việc tăng cường kim
ngạch xuất khẩu của quốc gia.
Tiếp đến vào năm 2010 với bài nghiên cứu của Tahir Mukhtar và Saquib Jalil
Malik: “Exchange rate volatility and export growth: evidence from selected south
asian countries”. Nội dung bài nghiên cứu nhằm kiểm tra tác động của sự biến
động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu của 3 nước Nam Á gồm Ấn Độ,
Pakistan và Sri Lanka. Dữ liệu được thu thập theo năm, trong khoảng thời gian từ
Trang 14
năm 1960-2007. Đây là bài nghiên cứu có kích thước mẫu khá lớn so với các bài
nghiên cứu trước. Bằng cách sử dụng kiểm định đồng liên kết và mô hình VECM để
đo lường mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến. Đây cũng là một phương pháp
thường thấy trong các bài nghiên cứu trong giai đoạn này. Các kết quả thực nghiệm
của chúng tôi chỉ ra rằng sự tồn tại của các véc tơ đồng liên kết với kim ngạch xuất
khẩu thực, giá cả tương đối, hoạt động kinh tế đối ngoại và sự biến động tỷ giá hối
đoái trong dài hạn. Sự biến động tỷ giá hối đoái tác động tương quan âm và có ý
nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn đối với ba nước Nam
Á. Các kết quả cũng tiết lộ rằng sự cải thiện trong điều kiện thương mại và thu nhập
nước ngoài thực có tác động tương quan dương lên hoạt động xuất khẩu. Ngoài ra
nhóm tác giả còn cho thấy rằng hoạt động xuất khẩu của các nước Nam Á có thể
Pesaran và Shin năm 1999, sau đó tiếp tục được mở rộng thêm bởi Pesaran và các
cộng sự vào năm 2001. Mô hình này được phát triển dựa trên cơ sở ước lượng của
mô hình hiệu chỉnh sai số không giới hạn (UECM), nên nó tận dụng được một số lợi
thế của mô hình này cũng như có một vài đặc điểm khiến cho cho nhiều người
nghiên cứu cảm thấy nó ưu việt hơn so với các mô hình kiểm định khác. Cụ thể, nó
có thể áp dụng trong nghiên cứu với kích thước mẫu nhỏ và điều này rất phù hợp
cho bài nghiên cứu của tôi, bởi vì mẫu mà tôi tìm được bị hạn chế và khá nhỏ. Thứ
2, mô hình có thể ước lượng các nhân tố cả trong ngắn hạn và dài hạn một cách
đồng thời, mà vẫn có thể loại bỏ các vấn đề liên quan đến biến bị bỏ sót và tự tương
quan. Thứ 3, tiêu chuẩn Wald hay thống kê F được sử dụng trong các kiểm định
biên có phân phối không chuẩn, dưới giả thuyết phủ định là không có đồng liên kết
giữa các biến được kiểm định, trong đó các biến này có thể dừng ở I(1), I(0) hay
thậm chí tích hợp ở bậc nhỏ hơn. Thứ 4, phương pháp này thường cung cấp các ước
lượng không chệch của mô hình dài hạn và giá trị t có ý nghĩa ngay cả khi một vài
biến độc lập là nội sinh ( Theo Harris và Sollis, năm 2003)1. Nguyên nhân này là do
các biến động có thể điều chỉnh những sai lệch nội sinh ( Theo Inder (1993) và
Pesaran (1997))2. Thứ 5, các hệ số ngắn hạn và dài hạn của mô hình có thể được
ước tính một cách đồng thời, bằng một phương trình đơn giản và dễ thực hiện.
Ngoài ra, các biến khác nhau chúng ta có thể chọn độ trễ khác nhau khi sử dụng mô
hình này. Cũng chính vì những ưu điểm trên không những đã khắc phục được
những hạn chế do mẫu dữ liệu mà tôi thu thập được, mà còn cho tôi một kỹ thuật
ước lượng khá tốt và dễ thực hiện. Nên điều đó khiến tôi chọn mô hình ARDL để
thực hiện bài nghiên cứu này.
Dựa trên bài nghiên cứu của Srinivasan và Kalaivani năm 2012 với tựa đề: “Exchange rate
volatility and export growth in india: an empirical investigation”
12
Trang 16
-
GDP của thế giới (WG). Đây là GDP của gồm 179 quốc gia được IMF thống
kê (Bảng 1- Phụ lục). Đơn vị: Triệu USD. Trong bài nghiên cứu này, tôi
tính GDP của thế giới bằng cách thu thập dữ liệu tốc độ % thay đổi giữa các
quý từ nguồn dữ liệu của IMF, rồi sau đó lấy dữ liệu GDP vào quý 1 năm
2005 để tính toán cho các quý còn lại. Nguyên nhân là do nguồn số liệu GDP
thực của thế giới không thống kê trực tiếp giá trị theo từng quý.
3.2.3 Dữ liệu
Nguồn dữ liệu trong bài nghiên cứu tôi lấy chủ yếu từ phần dữ liệu tài chính
quốc tế của IMF, để có thể lấy được nguồn dữ liệu này, tôi đã đăng ký tài khoản