ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
LÊ THỊ HÒA
THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY,
TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa Xã hội khoa học
Nguời hưóng
S Nguyễn Thuý Vân
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
LÊ THỊ HÒA
THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY,
TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa Xã hội khoa học
Mã số: 60.22.03.08
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 8
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................... 8
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9
NỘI DUNG..................................................................................................... 10
Chƣơng 1: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI
CÁCH HÀNH CHÍNH Ở CẤP HUYỆN VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ........................................................................................ 10
1.1. Cải cách hành chính và cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam
hiện nay .......................................................................................................... 10
1.1.1.Những vấn đề chung về cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay ......... 10
1.1.2. Cấp huyện và yêu cầu cải cách hành chính ở cấp huyện của Việt Nam
hiện nay ........................................................................................................... 21
1.2. Pháp lệnh dân chủ cơ sở và sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh
dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay 22
1.2.1. Khái niệm dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa ...................................... 23
1.2.2. Hoàn cảnh ra đời và một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ cơ
sở ..................................................................................................................... 25
1.2.3. Sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành
chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay ............................................................. 32
1.2.4. Một số nội dung cơ bản của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở
trong cải cách hành chính ở cấp huyện Việt Nam hiện nay.............................. 39
Tiểu kết chƣơng 1:......................................................................................... 42
Chƣơng 2: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI
CÁCH HÀNH CHÍNH Ở HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP......................................... 44
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dân chủ là giá trị của lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát
triển của đời sống con người. Lịch sử loài người đã trải qua nhiều nền dân chủ
khác nhau như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và đang tiến đến xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ XHCN. Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội và
cũng là bản chất của nhà nước Việt Nam XHCN. Tiếp thu quan điểm của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai
đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng
rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt
Nam. Với nhận thức đúng đắn trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều
văn bản pháp lý quan trọng , đánh dấu những bướ c phát triển trong việc thể
chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' (mà ở đại
hô ̣i Đảng toàn quốc khóa VI năm 1986 đã nêu) nhằm phát huy quyền làm chủ
trực tiếp của nhân dân. Trong đó văn bản quan trọng nhất khẳ ng đinh
̣ vai trò
và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ cơ sở đố i với hê ̣ thố ng chính tri ̣
- xã hội nước ta , đó là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện
dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11
(2007) ban hành ngày 20/4/2007. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở được
gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động
"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các
hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở được nhân dân
đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả, dân chủ nói chung, dân chủ
trực tiếp của nhân dân nói riêng tiếp tục được coi trọng, tăng cường.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa, CCHC trở thành
một trào lưu, một nhu cầu thiết thực tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc gia
tôi chọn “Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính ở
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay” làm đề tài luận văn của mình
2
nhằm phân tích thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ đó đề xuất một số phương hướng, giải
pháp nâng cao chất lượng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về
dân chủ và CCHC nói chung, dân chủ và CCHC ở Việt Nam nói riêng. Trong
các công trình ấy, dân chủ, CCHC ở Việt Nam đã được nghiên cứu theo nhiều
cách tiếp cận khác nhau có thể khai thác và kế thừa như:
Nhóm các công trình nghiên cứu về CCHC nhà nước.
Bàn về CCHC nhà nước có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học như:
Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị và Nguyễn Hữu Đức (1998),“Cải cách hành
chính địa phương lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. Trong
cuốn sách này, các tác giả đã nêu và phân tích tập trung vào những vấn đề lý
luận và thực tiễn về CCHC; chức năng, vị trí, vai trò của CCHC địa phương
trong CCHC nhà nước, đánh giá thực trạng chính quyền địa phương và xác
định xu hướng cải cách. Các tác giả đã đưa ra các giải pháp cụ thể CCHC đối
với bộ máy hành chính theo các góc độ, phạm vi như: mô hình tổ chức bộ
máy, thiết chế, sự phân chia theo lĩnh vực hành chính lãnh thổ…
Nguyễn Ngọc Hiến (2001), “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở
Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. Tác giả đã đề cập đến quá trình
CCHC diễn ra như thế nào, các rào cản trong CCHC, đặc điểm, nguyên tắc
CCHC từ đó đưa ra những kiến nghị các giải pháp thúc đẩy quá trình CCHC.
nước ta hiện nay” (2007). Các tác giả đã nêu rõ những thành tựu và hạn chế
trong nhận thức và cả những khuyết tật trong xây dựng và thực hiện nền dân
chủ XHCN ở nước ta trong thực tiễn.
PGS.TS Dương Xuân Ngọc: “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
PGS.TS Nguyễn Cúc: “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình
4
hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002; Lương Gia Ban: “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; TS. Nguyễn Văn Sáu - GS. Hồ
Văn Thông: “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Các công trình này,
các tác giả đã tập trung làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn, cùng với thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
trong tình hình hiện nay của nước ta.
Phạm Văn Bính: “Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2008. Cuốn sách này đã góp phần xác định và làm rõ hơn
những vấn đề cơ bản trong phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh, đề xuất
áp dụng phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh đối với việc hoàn thiện
phương pháp lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Hoàng Chí Bảo (2007), cuốn sách “ Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông
thôn trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Tác giả
đã nghiên cứu, luận giải sâu sắc về lý luận và thực tiễn một vấn đề xã hội
phức tạp hiện nay là tâm lý làng xã, ảnh hưởng và tác động của nó đối với
việc thực hiện và phát huy dân chủ hiện nay.
PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh- ThS. Tào Thị Quyên: “Dân chủ trực tiếp ở
Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Trong
trong việc mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta.
Nhìn chung, các công trình khoa học, bài báo, luận án nêu trên với
những cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đều đã nêu lên
và làm rõ tầm quan trọng của dân chủ, dân chủ cơ sở cũng như những tiền đề
lý luận và thực tiễn của vấn đề dân chủ và dân chủ cơ sở. Do vậy những tài
liệu trên sẽ là những nguồn tư liệu tham khảo bổ ích đối với tác giả. Tuy
nhiên do Pháp lệnh số 344/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới được ban hành ngày
20/04/2007 nên các công trình nghiên cứu trước thời điểm ban hành Pháp
6
lệnh chưa thể đề cập đến các nội dung Pháp lệnh này của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Từ sau thời điểm công bố pháp lệnh cũng chưa có một công trình
nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể tình hình thực hiện pháp lệnh đó trong lĩnh
vực CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Vì vậy trong khuôn
khổ luận văn này tác giả muốn chú trọng làm rõ việc thực hiện Pháp lệnh dân
chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng và đề xuất những
phương hướng, giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả của việc vận
dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái
Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+ Phân tích làm rõ những cơ sở lý luận của việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh
dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện
nay
+ Đánh giá thực trạng việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở
UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến nay, chỉ ra nguyên
chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu chung như: phương
pháp lôgíc- lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh và chứng minh; phương pháp
liên ngành như: điều tra xã hội học... để nghiên cứu đề tài này.
6. Đóng góp của luận văn
Pháp lệnh dân chủ cơ sở có phạm vi điều chỉnh ở cấp xã, phường, thị
trấn nhưng luận văn đã vận dụng mở rộng nghiên cứu việc thực hiện Pháp
lệnh dân chủ cơ sở ở cấp huyện và nghiên cứu trong lĩnh vực CCHC cấp
huyện. Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn việc vận dụng thực
hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái thụy, tỉnh
Thái Bình. Việc vận dụng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở
cấp huyện (qua thực tiễn ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) cũng chính là
đóng góp mới của luận văn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ là cứ liệu khoa học góp phần để các cơ quan hành chính cả
nước nói chung, các cơ quan hành chính nhà nước ở Thái Thụy, tỉnh Thái
8
Bình nói riêng đề ra những phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện tốt
hơn nữa Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC
Luận văn có thể làm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy
những vấn đề lý luận liên quan đến dân chủ, dân chủ cơ sở, dân chủ trong lĩnh
vực CCHC và là tư liệu trong các khoa học lý luận chính trị,...
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn
có 2 chương 5 tiết
9
10
chủ thể quản lý thực hiện đối với khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể,
bảo đảm cho nó vận động tới một mục tiêu đã định. Hành chính chính là hoạt
động quản lý của con người để tạo ra sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội.
Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì
CCHC chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý
hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản
lý các hệ thống, cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả các
hệ thống trong xã hội. Song do hành chính gắn chủ yếu với hoạt động của các
cơ quan nhà nước, các thể chế chính trị nên khái niệm CCHC thường được
coi là đồng nhất với khái niệm CCHC nhà nước. Nhìn nhận một cách tổng
quát, CCHC được xác định là hành vi có tính hướng đích của con người
nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn.
CCHC nhà nước là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền
hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu
lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn.
Trên cơ sở nêu trên, các khái niệm CCHC thống nhất tại các điểm sau:
- CCHC là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu xác định nhưng không
làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính nhà nước mà để
hệ thống hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả hơn;
- CCHC hướng tới điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và cơ chế
quản lý của bộ máy hành chính nhà nước;
- CCHC tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà
thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống
dưới;
- CCHC không phải là cải cách chế độ chính trị - kinh tế - xã hội mà là quá
trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền
hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến
theo nhiều con đường khác nhau đã tác động đến Việt Nam làm thay đổi nhận
thức của nhiều nhà lãnh đạo đất nước. Nhiều người ở Việt Nam dần dần đã
nhận ra rằng, cải cách nền hành chính nhà nước là một đòi hỏi có tính quy
luật. Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó.
12
Trong bối cảnh thế giới đó, ở Việt Nam công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước diễn ra bắt đầu từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
cộng sản Việt Nam (năm 1986) đến nay đã qua 30 năm tạo ra bước chuyển
biến có ý nghĩa hết sức quan trọng từ nền kinh tế kế hoạch hóa vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Trong
tiến trình đó, CCHC được đặt ra như một đòi hỏi khách quan của thực tiễn để
tạo tiền đề thúc đẩy cải cách kinh tế. CCHC được xác định là trọng tâm của
việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta.
Việc CCHC ở Việt Nam trong những năm qua được tiến hành rộng
khắp trên tất cả mọi lĩnh vực của CCHC và trong tương lai đi theo hướng làm
cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân
dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển
nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các
dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính,
là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ
máy hành chính. Việc ban hành Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm
2007- một văn bản về những quy chế dân chủ cơ sở đã được luật hóa mang
tính pháp lý quan trọng- có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết để
thực hiện thành công CCHC ở nước ta hiện nay.
1.1.1.3. Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay
điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước. Bảo đảm
thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người,
gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước. Xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình
độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.
Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng
cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công
14
chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất
lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
Chương trình được triển khai thực hiện thông qua hai giai đoạn, giai
đoạn 1 từ năm 2011 – 2015; giai đoạn 2 từ năm 2016 – 2020. Nếu chương
trình CCHC giai đoạn 2001 – 2010 tập trung vào 4 nội dung (cải cách thể chế;
cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức và cải cách tài chính công) thì chương trình mới giai đoạn
2011 - 2020 xác định rõ nhiệm vụ CCHC trên 6 lĩnh vực cụ thể là: Cải cách
thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức,
cải cách tài chính công, hiện đại hóa hành chính.
- Thứ nhất, về cải cách thể chế: một vấn đề rất quan trọng được đặt ra
đó là việc hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định sự tồn tại khách
quan, lâu dài của các hình thức sở hữu trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu
tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở
hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm
quyền của người sử dụng đất. Qua những vụ việc về đất đai mới xảy ra gần
ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh, thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị
trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám
đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống. Ngoài ra chương trình cũng
tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo
hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ,
công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán
bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội.
- Thứ năm, về cải cách tài chính công có một điểm đáng chú ý là việc
đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới
xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp
ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu
ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính
16
nhà nước. Bên cạnh đó đối với cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch
vụ công sẽ từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp
công phù hợp, chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục, đào
tạo, y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch. Đổi mới và hoàn
thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh, có lộ trình thực
hiện bảo hiểm y tế toàn dân.
- Thứ sáu, về hiện đại hóa hành chính đã cụ thể hóa mục tiêu đến năm
2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành
chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; hầu hết các giao dịch của
các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi
lúc, mọi nơi; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng
thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu
thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều
phương tiện khác nhau; Ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông trong
lý của người dân Việt Nam. CCHC nước ta đang được tiến hành trong xã hội
có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, do ảnh hưởng tâm lý phong kiến nặng nề,
ý thức dân chủ và năng lực dân chủ không tương xứng, trọng tình cảm, nhẹ
lý, tách rời quyền với nghĩa vụ cùng với những tệ nạn phát sinh từ mặt trái
của cơ chế thị trường.
Từ những đặc trưng này rút ra những vấn đề sau:
- CCHC không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng
Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống một
đảng duy nhất cầm quyền. Đặc trưng này chi phối nhiều vấn đề, trong đó có
vấn đề CCHC. CCHC muốn tiến hành được, muốn duy trì và đẩy mạnh, trước
hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải cách, càng không thể có
những kết quả tích cực. Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương CCHC đã
được xác định trong một loạt các nghị quyết của Đảng tại các hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội VII cho đến Đại hội XI.
Năm 2007 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng, chính là vì lần đầu tiên
18