TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Tài Nguyên Đất Và Môi Trường Nông Nghiệp
KHOÁ LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng đất trồng
lúa không chủ động nước trên địa bàn xã Đại Quang và xã Đại
Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Sinh viên thực hiện
: Trương Thị Thúy
Lớp
: Quản lý đất 46B
Thời gian thực hiện
: 28/12/2015 –1/ 5/2016
Địa điểm thực tập
: Phòng TN&MT huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Giáo viên hướng dẫn
: PGS.TS Huỳnh Văn Chương
định hàng đầu đến hiệu quả sản xuất của ngành. Hiện nay, cùng với sự phát triển
của hệ thống thủy lợi, nguồn nước cung cấp cho sản xuất lúa cơ bản khá chủ
động tại nhiều địa phương trên cả nước, nhất là tại những vùng đồng bằng.
Đại Lộc là một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, có địa hình khá đa
dạng nên diện tích đất lúa của huyện phân bố trên nhiều dạng địa hình khác
nhau. Mặt khác, vị trí của huyện nằm trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn nên
chịu nhiều ảnh hưởng của hệ thống thủy điện trên hệ thống sông. Nên vào mùa
mưa thường xuyên xảy ra lũ lụt còn vào mùa khô thì hay xảy ra hạn hán gây ảnh
hưởng đến việc sản xuất lúa gạo của bà con nông dân. Trong những năm qua hệ
thống thủy lợi đã được đầu tư trên địa bàn nhưng chưa đảm bảo,tuy nhiên trên
địa bàn thì vào mùa khô có nhiều địa phương đã chủ động được nước tưới
nhưng bên cạnh đó thì cũng có nhiều địa phương chưa chủ động được nước tưới,
dẫn đến hiệu quả sản xuất lúa không cao, việc khai thác đất chưa tương xứng với
tiềm năng và hiệu quả vốn có của nó. Tại những vùng đất lúa không chủ động
nước thì việc canh tác của bà con nông dân gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc
nghiên cứu thực trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa tại những vùng
không chủ động nước trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường để
làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu xã
hội và cộng đồng là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.
2
Xuất phát từ những vấn đề quan trọng như trên, em tiến hành đề tài : “ Nghiên
cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng đất trồng lúa không chủ động
nước trên địa bàn xã Đại Quang và xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng
Nam”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
1.2.1.1. Mục tiêu chung
Các giải pháp đề xuất phải khoa học và có tính khả thi.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm chung về đất đai, đất trồng lúa và đất trồng lúa không
chủ động nước
2.1.1.1. Khái niệm về đất đai
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định “ Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, đất đai là điều kiện
chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách
khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính
con người. Do vậy, để sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả đất đai thì việc hiểu
rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết.
Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai bao gồm tất cả các thuộc
tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm
năng và hiện trạng sử dụng đất. Như vậy, đất đai được hiểu như một tổng thể
của nhiều yếu tố bao gồm: khí hậu, địa mạo/địa hình, đất, thổ nhưỡng, thủy văn,
thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do hoạt động
của con người.
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu
thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt,
thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư
của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại
trí sử dụng các loại đất và phải ứng dụng kỹ thuật để tăng khả năng phục hồi và
tái tạo của đất đai.
b. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt gắn liền với hoạt động sản xuất của con
người
Đất đai trở thành tư liệu sản xuất không thể thiếu được của con người trong
quá trình sản xuất. Con người tác động vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để
phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống. Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp và làm thay đổi tính chất của đất đai có thể chuyển đất hoang thành đất sử
dụng được hoặc là chuyển mục đích sử dụng đất. Tất cả những tác động đó của
con người biến đất đai từ một sản phẩm của tựu nhiên thành sản phẩm của lao
động. Trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, những đầu tư vào ruộng đất có
liên quan đến các quan hệ kinh tế, xã hội. Trong xã hội có giai cấp, các quan hệ
kinh tế, xã hội phát triển ngày càng làm các mâu thuẫn trong xã hội phát sinh, đó
là mối quan hệ giữa chủ đất và nhà tư bản đi thuê đất, giữa nhà tư bản với nhân
công.
5
c.Đặc điểm về sự chiếm hữu và sở hữu đất đai
Chế độ chiếm hữu ruộng đất và biến quyền sở hữu đất đai thành sở hữu tư
nhân là một quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với lịch sử của từng vùng trên
trái đất hay mỗi quốc gia. Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, con người khai phá
và chiếm hữu thành tài sản chung của cộng đồng. Nhà nước ra đời, chế độ sở
hữu tư nhân về ruộng đất xuất hiện. Quyền sở hữu đất đai không chỉ đem lại lợi
ích kinh tế, quan tọng hơn nó còn đem lại địa vị xã hội và quyền lực chính trị, ai
nắm nhiều ruộng đất thì vừa giàu có, vừa có uy lực chính trị. Ngày nay, nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “ Đất đai thuộc quyền sở
hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”, người sử dụng đất phải đóng
thuế cho Nhà nước.
bàn cơ sở của xã hội loài người.
Như vậy, sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa cải
tạo, bảo vệ môi trường. ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người
ta rất chú ý đến tác động của quá trình hoạt động sản xuất đến môi trường, trong
đó sử dụng khai thác đất đai là yếu tố quan trọng.[3]
2.1.1.4. Một số khái niệm về đất trồng lúa
Đất trồng lúa là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa
kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác, được pháp luật cho phép nhưng
trồng lúa là chính.[4]
Đất trồng lúa bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn
lại, đất trồng lúa nương:
- Đất chuyên trồng lúa nước là ruộng lúa nước (gồm cả ruộng bậc
thang) hàng năm cấy trồng từ hai vụ lúa trở lên, kể cả trường hợp có luân
canh, xen canh với cây hàng năm khác hoặc có khó khăn đột xuất mà chỉ
trồng cấy được một vụ hoặc không sử dụng trong thời gian không quá một
năm.
- Đất trồng lúa nước còn lại là ruộng lúa nước (gồm cả ruộng bậc
thang) hàng năm chỉ trồng một vụ lúa, kể cả trường hợp trong năm có thuận
lợi mà trồng thêm một vụ lúa hoặc cây hàng năm khác, hoặc có khó khăn đột
xuất mà không sử dụng trong thời gian không quá một năm.
- Đất trồng lúa nương là đất nương, rẫy (đất dốc trên đồi, núi) để trồng lúa
từ một vụ trở lên, kể cả trường hợp trồng lúa không thường xuyên theo chu kỳ
và trường hợp có luân canh, xen canh với cây hàng năm khác.[5]
2.1.2. Quan điểm sử dụng đất bền vững
Là một hệ sinh thái, một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục
vụ con người, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ
chính con người. Các tác động của con người nhiều khi đã làm cho hệ sin thái
biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất. Con người đã không chỉ tác
động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ra một
lượng lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều trong khi các hoạt động cải tạo
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái.
− Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển và phù hợp với pháp luật.
Tóm lại, hoạt động sản xuất của con người diễn ra hết sức đa dạng trên
nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền thể hiện trên
nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu
cầu và mục đích sử dụng của con người. Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ
được gọi là sử dụng bền vững tren cơ sở duy trì các chức năng chính của đất đai
là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy
giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây
ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật.[8]
2.1.3.
Vai trò của nước đối với sản xuất nông nghiệp
Nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống sinh vật, đối với cây
trồng nó là yếu tố quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Trong
cây nước chiếm tới ¾ trọng lượng, trong chất nguyên sinh hàm lượng nước
chiếm 90%. Nước tham gia vào các quá trình trao đổi chất, là nguyên liệu để
thực hiện quá trình quan hợp, nước là phương tiện vận chuyển các chất trong
8
cây, đảm bảo trạng thái có lợi cho sự sinh trưởng. Nói cách khác nước vừa tham
gia cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa quyết định đến các biến đổi sinh hóa và các
hoạt động sinh lý trong cây cũng như quyết định sự sinh trưởng, phát triển của
cây. Chính vì vậy, nước được xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất đảm bảo
và quyết định năng suất cây trồng.
Nước nối liền cây với đất và khí quyển góp phần tích cực trong việc bảo
đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Trong quá
trình trao đổi giữa cây và môi trường đất có sự tham gia tích cực của ion H + và
trò quyết định đến năng suất cuối cùng. Ví dụ đối với cây lúa giai đoạn làm
đòng, trổ bông và phát triển hạt cho đến khi cây lúa chín tức là thời kì tích lũy
chất khô, nếu ở giai đoạn này thiếu nước sẽ gây nên hiện tượng lem lép hạt.
Ngoài ra chúng ta còn thấy rõ rệt tác dụng của nước đối với việc cải tạo các
loại đất mặn, đất chua, đất lầy thụt, đất bạc màu v.v… Trong công tác cải tạo
các loại đất này thì thủy lợi luôn đi trước một bước, tạo nên các loại đất thích
hợp cho cây trồng, góp phần giữ vững và ổn định sản xuất.
2.1.4. Sản xuất lúa gạo và vấn đề an ninh lương thực
Lúa gạo có vai trò rất quan trọng, hiện đang nuôi sống hơn một nửa dân số
thế giới và càng quan trọng hơn đối với các nước Châu Á - nơi sản xuất và tiêu
dùng lúa gạo chủ yếu của thế giới, nơi chiếm trên 60% số người thiếu đói hiện
nay. Hiện nay, sản lượng lúa ở Việt Nam chiếm trên 90% sản lượng cây lương
thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân.
Lúa gạo cung cấp khoảng 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân
Việt Nam. Vì vậy cây lúa luôn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm an
ninh lương thực quốc gia của Việt Nam.
Trong hơn 20 năm qua, năng suất và sản lượng lúa đã tăng gấp khoảng 2
lần, hiện nay năng suất bình quân đạt 5,3 tấn/ha một vụ, riêng vụ đông xuân,
nhiều nơi ở ĐBSCL và ĐB sông Hồng đã đạt 7 tấn/ha. Sản xuất lúa gạo phát
triển, đã đưa Việt Nam từ một nước nhiều năm thiếu lương thực trở thành một
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai của thế giới. Trong 22 năm qua, Việt Nam đã
xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, trị giá 23 tỉ USD. Thu nhập của người trồng lúa
ngày càng được nâng lên.
Tuy nhiên, sản xuất lương thực của Việt Nam, trong đó có lúa gạo, vẫn
đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức, nhất là trong bối cảnh dân số
tăng nhanh, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm, nguồn nước hạn chế, thiên tai,
dịch bệnh xảy ra với tần suất ngày càng cao và khốc liệt hơn. Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng đã khẳng định: “Chính phủ Việt Nam xác định bảo đảm an ninh
với tốc độ tăng chậm với tốc đọ tăng trưởng bình quân 630.000ha/năm. Từ năm
2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm
dần, đến năm 2005 còn ở mức 155,1 triệu ha. Từ năm 2005 đến nay diện tích lúa
gia tăng liên tục nhờ vào sự quan tâm của nhà nước. Bên cạnh diện tích trồng
lúa, năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăng khoảng 1,4 tấn/ha trong
vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế
giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn
ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8. Đến những năm
1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật
Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990).
Sản lượng lúa gạo tại châu Á chiếm tới 90,4% toàn thế giới, tức là 677,7
triệu tấn. Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực
này. Theo thống kê, sản lượng lúa gạo cao chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam. Trong đó, sản lượng lúa
gạo của Việt Nam năm 2015 đạt tới 44,7 triệu tấn.
Theo thống kê của Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế, đến nay lúa vẫn là cây
lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất. Vì vậy, tổng sản
lượng lúa trong vòng 45 năm qua đã tăng lên gấp hơn 2,6 lần, từ 257 triệu tấn
năm 1965 lên tới 675 triệu tấn năm 2009. Cùng với đó, diện tích trồng lúa cũng
tăng lên nhưng không đáng kể, được thể hiện qua biểu đồ 2.1:
11
Biểu đồ 2.1: Tình hình sản xuất lúa của thế giới từ năm 2000 đến 2009
(Nguồn: FAOSTAT, 2011)
Sản lượng lúa gạo tại Châu Phi đạt 28,7 triệu tấn, tăng 0,8% so với sản
lượng năm 2014. Sản lượng tăng tại các nước Tây Phi đã bù đắp những thiếu hụt
do sự suy giảm tại một nước ở Đông và Nam Phi.
Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lượng lúa gạo duy trì ở mức ổn định 3
vực Đông Nam Á nhờ thuỷ lợi được cải thiện đáng kể và áp dụng nhanh các tiến
bộ kỹ thuật về giống, phân bón, và bảo vệ thực vật. Việt Nam có tổng sản lượng
lúa hàng năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ
2 (5,2 triệu tấn) sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu gạo
thế giới, 22,4% sản lượng xuất khẩu gạo của châu Á, mang lại lợi nhuận 1275,9 tỷ
USD năm 2006. Hiện nay, với những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông
nghiệp, người dân đã được tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến nên
họ đã mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới,
các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều
kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu,…
kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý.[12]
Năng suất lúa của Việt Nam liên tục tăng trong những năm vừa qua. Năm
1995 năng suất lúa chỉ mới đạt 36,9 tạ/ha/năm. Năm 2005 năng suất trung bình
của Việt Nam đạt 48,9 tạ/ha/năm. , tăng 1,32 lần so với năng suất trung bình
năm 1995, và đến năm 2014 thì năng suất lúa trung bình đạt 57,6 tạ/ha/năm.
Hiện nay Việt Nam là nước có năng suất lúa cao nhất trong khu vực Đông Nam
Á. Tuy nhiên, so với năng suất trung bình của các nước tiên tiến trên thế giới thì
năng suất của Việt Nam chỉ bằng 60%.
Về sản lượng: cùng với chính sách đảm bảo an ninh lương thực, sản xuất
lúa gạo của Việt Nam đã đạt được nhièu thành công. Sản lượng lúa liên tục tăng,
đặc biệt ở giai đoạn năm 2007-2014 thì sản lượng tăng liên tục qua các năm.
Trước đây Việt Nam là nước phải nhập khẩu gạo, thì nay Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới. ĐBSH và ĐBSCL là 2 vựa lúa lớn nhất
nước ta. Chỉ tính riêng 2 vùng này, sản lượng lúa đã chiếm khoảng hơn 70%
tổng sản lượng lúa cả nước.
2.1.1.3. Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ, nền sản xuất nông
nghiệp của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thường
13
mùa
1. Diện 43095 44809 87904 43565 43831 87396 -508 -0,58
tích
trồng
lúa(ha)
2. Năng 55,27 45,1
50,09 56,86 50,01 53,42 +3,3 +6,6
suất
3
5
(tạ/ha)
3. Sản 23819 20211 44030 24770 21920 46690 2660 +6,0
lượng 0
0
0
0
0
0
0
4
(tấn)
( Nguồn niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2014)
2.1.1.4. Tình hình sản xuất lúa tại huyện Đại Lộc
Tình hình sản xuất lúa của huyện Đại Lộc được thể hiện qua bảng 2.2
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Đại Lộc
Chỉ tiêu
Năm 2013
Cả
Năm 2014
Cả
Từ bảng 2.2cho ta thấy rằng diện tích, năng suất và sản lượng qua các
năm , các vụ có sự biến động rõ rệt
Về diện tích gieo trồng cả 2 năm thì vụ Hè thu đều có diện tích gieo
trồng giảm so với vụ Đông xuân. Năm 2013, diện tích vụ đông xuân 4.096ha, vụ
hè thu giảm còn 3.820 ha. Đây là đường lối chủ trương của huyện. Bởi vì vụ Hè
thu là mùa hạn hán, không có đủ nguồn nước tưới nên không thuận tiện cho việc
sản xuất lúa dẫn đến mất mùa. Do đó diện tích này sẽ chuyển sang trồng màu có
hiệu quả kinh tế hơn và có một ít diệnt ích phải bỏ hoang. Tuy nhiên việc giảm
diện tích này là một phần làm giảm sản lượng lúa. Do đó huyện cần phải xem
xét thật kỹ , xây dựng thủy lợi để phục vụ tưới tiêu, đặc biệt trong vụ hè thu để
hạn chế việc giảm diện tích sản xuất lúa không cần thiết. Đối với cả năm thì diện
tích gieo trồng lúa năm 2014 giảm so với năm 2013 là 212 ha tương ứng 2,7%.
Điều này do nguyên nhân :trước hết là do huyện chủ trương chuyển một số diện
tích trồng lúa kém hiệu quả, những vùng đất cao ít bị ngập úng sang trồng hoa
màu, các loại có hiệu quả kinh tế hơn. Hai là do xây dựng công trình thủy lợi,
đắp đê, mở thêm đường xá giao thông phục vụ cho tưới tiêu, cho đi lại và vận
chuyển cho mùa màng thu hoạch. Ba là do xây dựng các công trình phát triển
công nghiệp, xây dựng khu quy hoạch ở vùng trung tâm của huyện
Đối với năng suất lúa, thì vụ Hè thu cả 2 năm đều giảm. Năm 2013, vụ Đông
xuân đạt 53,6tạ/ha, vụ Hè thu giảm xuống còn 46tạ/ha. Năm 2014, vụ Đông
xuân đạt 56tạ /ha, vụ Hè thu giảm còn 50,4 tạ/ha. Điều này đúng như quy
luật của tự nhiên, sản xuất lúa vụ Hè thu thường gặp nắng hạn, khóa khăn
trong việc tưới tiêu, đặc biệt lúc lúa trổ gặp nhiệt độ quá cao lại thiếu nước
thì sẽ có nhiều hạt lép dẫn đến năng suất không cao. Hơn nữa vụ Hè thu là
vụ kế tiếp của vụ Đông xuân. Theo kinh nghiệm của bà con nông dân, trong
vụ Đông xuân cây trông đã hút chất dinh dưỡng làm cho đất bạc màu đi, mà
trong vụ Hè thu đất không được ngấm lâu, dinh dưỡng của đất chưa được bổ
sung kịp thời, kết quả là cây trồng sinh trưởng không tốt và năng suất thấp.
còn rất nhiều hạn chế. Các giống lúa cạn hiện nay chủ yếu là các giống địa
phương (99%) cao cây, năng suất thấp, bấp bênh (trên dưới 10 tạ/ha) và có xu
hướng giảm dần. Dự kiến diện tích lúa cạn sẽ duy trì ở mức 200.000 ha. Sản
xuất lúa cạn phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, không phá rừng nhất
là rừng đầu nguồn để làm nương rẫy.
Sản xuất lúa cạn ở nước ta còn một số hạn chế đó là:
+ Nó hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên; lượng mưa và tần suất mưa là
các yếu tố quyết định năng suất của lúa cạn.
+ Giống lúa dài ngày lẫn tạp nhiều.
+ Đầu tư kém và kỹ thuật canh tác rất đơn sơ.
+ Rất ít dùng thuốc bảo vệ thực vật.
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến năng suất lúa cạn ở nước ta còn rất
thấp chưa thoát khỏi cảnh đói nghèo.Đây là một trong những nguyên nhân dẫn
đến chặt phá rừng làm nương rẫy, làm xói mòn đất và mất cân bằng sinh thái.
[13]
Theo Nguyễn Bá Quang (2013), lúa cạn đã được trồng trên các vùng đất dốc
từ lâu đời và trở thành tập quán của đồng bào dân tộc ít người. Những tỉnh miền
núi, diệc tích trồng lúa cạn chiếm tỷ lệ rất lớn như Lai Châu có 52,83%, Sơn La
có 48,35%, Gia Lai có 38,6%, Kon Tum có 21,2%, Lào Cai có 27,08%, Điện
Biên có 27%, Đắc Lắc có 17,5%... Các giống lúa cạn hiện trồng chủ yếu là giống
16
lúa truyền thống, lâu đời như Tẻ vàng, Tẻ đỏ, Tẻ trắng, Tẻ nương Mộc Châu, Tẻ
mèo, Mộ, Nếp nương, Nếp khẩu nhoi, Mố… Các giống này mặc dù vẫn được ưa
chuộng như một thứ đặc sản, nhưng đã nhiều năm gieo trồng không qua tuyển
chọn nên năng suất hiện đã rất thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do lúa cạn được
trồng bằng những giống không qua tuyển chọn, phương thức gieo trồng quảng
canh, đất bị khai thác cạn kiệt, không được bón phân bổ sung. Phần lớn đất trồng
lúa cạn là đất dốc, hàng năm bị rửa trôi mạnh, độ phì đất bị giảm nhanh chóng
Bình Định
Phú Yên
Khánh Hòa
Tây Nguyên
Kon Tum
Gia Lai
Đăk Lăk
Đăk Nông
Lâm Đồng
Tổng cộng
Vụ Đông Xuân
(1000ha)
Tổng
Không
Có tưới
DT
tưới
177100 169669
7431
3500
3450
50
42900
40000
2900
370000
36730 333270
47800
47100
Có tưới
170839
3000
44100
32390
42400
24307
18500
0
0
0
0
0
6142
170839
153838
3000
35000
29124
40000
23587
16985
0
0
0
0
0
24000
7000
8600
138040
15900
46500
50500
7947
17193
181140
41100
0
0
3500
22000
7000
8600
131350
15400
43500
47500
7800
17150
172450
Không
tưới
2000
0
lúa dựa vào nước trời thường gặp rất nhiều khó khăn, năng suất thấp và bấp
bênh, tỉnh đã chủ trương chuyển đổi nhiều diện tích đất lúa nước trời sang canh
tác các loại cây trồng cạn khác có hiệu quả cao hơn.[17]
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam, năm 2013 nông dân toàn tỉnh đã
chuyển 2.326 ha đất lúa sang canh tác cây trồng cạn. Ở vùng đất lúa gieo không
có nước tưới chủ yếu áp dụng phương thức luân canh là lúa Đông Xuân - sắn
(hoặc đậu phụng, mè) Hè Thu. Còn tại những nơi có đất lúa chủ động nước tưới
và đủ nguồn lao động thì luân canh theo cách đậu phụng (hoặc bắp) Đông Xuân
- lúa (hoặc bắp) hè thu, lúa đông xuân - dưa hấu xuân hè - lúa hè thu, dưa hấu
đông xuân - dưa hấu Xuân Hè - lúa Hè Thu, lúa Đông Xuân - bắp (hoặc đậu
phụng) Hè Thu. Qua khảo sát cho thấy, mỗi năm 1ha đất sản xuất theo phương
thức trên mang lại cho nông dân 120 - 130 triệu đồng, tăng 60 - 70 triệu đồng so
với làm 2 vụ lúa/năm.
Theo Phòng NN&PTNT huyện Đại Lộc, thời gian qua, nhiều địa phương
trên địa bàn Đại Lộc đã mạnh dạn chuyển đổi diện tích đất sản xuất lúa kém
hiệu quả, không chủ động nguồn nước tưới sang canh tác rau màu nhằm nâng
cao năng suất, sản lượng trên cùng đơn vị diện tích. Mô hình trồng giống đậu
phụng LDH.01 trên đất lúa chuyển đổi do Trạm Khuyến nông - Khuyến lâm
huyện Đại Lộc phối hợp với UBND xã Đại Cường triển khai được xem là hướng
đi mới ở một địa phương có thế mạnh nông nghiệp với đối tượng chính là cây
lúa. Qua thực nghiệm, 100% diện tích đất trồng đậu phụng của các hộ trên đều
phát triển tốt, năng suất đạt bình quân 120kg/sào, tương đương 2,4 tấn/ha. Với
giá bán đậu phụng thương phẩm trên địa bàn dao động 20 - 25 nghìn đồng/kg thì
19
sau khi trừ chi phí đầu vào, người dân sẽ thu lãi 25 - 30 triệu đồng/ha, cao hơn
nhiều so với với trồng lúa trên cùng chân đất.[18]
Theo kế hoạch, Đại Lộc sẽ tiến hành chuyển đổi khoảng 100 ha đất lúa
nước tưới như: Bình Định Bắc, Bình Định Nam, Bình Trị, Bình Sa, Bình Quý,
Bình An, Bình Đào, thị trấn Hà Lam hầu hết diện tích chuyển đổi cho hiệu quả
cao hơn trồng lúa. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, thời tiết nắng nóng, thiếu
nước tiếp tục diễn ra nên các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng con vật nuôi
20
phù hợp cần tiếp tục được nhân rộng nhằm tạo điều kiện cho nông dân mạnh dạn
chuyển đổi, đầu tư thâm canh, mở rộng sản xuất góp phần nâng cao thu nhập.
[19]
21
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng đất trồng lúa của vùng không chủ động nước và các kiểu sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp chính trên địa bàn nghiên cứu.
- Hiệu quả sử dụng đất của vùng không chủ động nước.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: đề tài được nghiên cứu trên 2 xã Đại Quang và Đại
Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi thời gian: số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ năm 2011-2015
về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đất đai của huyện. Số liệu điều tra
nghiên cứu.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Điều tra bằng phiếu phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi điều tra thực địa
nhằm thu thập thông tin từ những người được phỏng vấn. Những câu hỏi
chú trọng đến vấn đề thực trạng và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa vùng
không chủ động nước trên địa bàn.
- Quan sát thực trạng đất trồng lúa không chủ động nước tại địa bàn nghiên
cứu.
3.4.3. Phương pháp chọn hộ và địa điểm nghiên cứu
- Đề tài tiến hành lựa chọn 2 xã: Đại Quang và Đại Đồng.
- Đối với mỗi xã chọn ngẫu nhiên 40 hộ có sử dụng đất lúa tại những vùng
không chủ động nước để tiến hành phỏng vấn theo mẫu phiếu có sẵn.
3.4.4. Phương pháp phân tích , tổng hợp và đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả
sử dụng đất
3.4.4.1. Hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác.
Giá trị sản xuất(GO)/ đơn vị diện tích= năng suất * đơn giá (triệu đồng/ha)
Giá trị gia tăng(VA)/ đơn vị diện tích = thu nhập- chi phí (triệu đồng/ha)
- Hiệu quả kinh phí trên một đơn vị chi phí.
Giá trị sản xuất/ đơn vị chi phí= (sản lượng* đơn giá)/ tổng chi phí
Giá trị gia tăng/đơn vị chi phí = (sản lượng- chi phí)/ tổng chi phí
.
- Hiệu quả kinh tế trên một đơn vị công lao động.
Giá trị sản xuất/ công lao động = ( sản lượng* đơn giá)/tổng số công lao động
cách trung tâm hành chính huyện khoảng 10km về phía Tây. Tổng diện tích tự
nhiên là 8052,18 ha. Có tọa độ địa lý như sau:
-15000’44’’ đến 15056’04″ vĩ độ Bắc.
-107056’05’’ đến 108005’04″ kinh độ Đông.
- Phía đông giáp : Xã Đại Nghĩa
- Phía tây giáp : Xã Đại Lãnh
- Phía nam giáp : Xã Đại Phong, Đại Minh, Đại Hồng
- Phía bắc giáp :Thành phố Đà Nẵng
Hình 4.1.Bản đồ hành chính huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
Hệ thống giao thông khá thuận lợi, có quốc lộ 14B, tỉnh lộ ĐT 609, có
sông Vu Gia chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển
kinh tế, văn hoá - xã hội các khu vực lân cận.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Đại Quang và Đại Đồng là hai xã có dạng địa hình khá phức tạp, bị chia cắt
thành nhiều cấp khác nhau do các khe suối tạo thành. Địa hình thấp dần từ Tây
Bắc xuống Đông Nam, có diện tích đất lâm nghiệp lớn. Chia làm hai dạng địa
hình: địa hình đồi núi và địa hình đồng bằng. Dạng địa hình đồi núi thường xen
25