Tìm hiểu việc thực hiện chính sách hỗ trợ và tái định cư đối với các hộ dân ven biển tại xã quảng công, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn

KHÓA LUẬN

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu việc thực hiện chính sách hỗ trợ và tái định cư đối
với nhóm hộ dân ven biển xã Quảng Công, huyện Quảng Điền,
Thừa Thiên Huế

Họ tên sinh viên: Trần Thị Cương
Lớp: Phát triển nông thôn 46B
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Văn Chung
Thời gian thực tập: Từ 28/12/2015 đến 01/05/2016
Địa điểm thực tập: Xã Quảng Công, huyện Quảng Điền,
Thừa Thiên Huế
Bộ môn: Phát triển nông thôn

HUẾ, 05/2016
1


Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình, sự
đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trớc hết, tôi xin trân trọng cảm ơn ThS. Nguyễn Văn Chung
GVHD đã tận tình hớng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài.

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

TT

5

KÝ HIỆU

DIỄN GIẢI

1 CSHT

Cơ sở hạ tầng

2 GPMB

Giải phóng mặt bằng

3 HT

Hỗ trợ

4 KT-XH

Kinh tế - xã hội

5 TĐC

Tái định cư


Ngân hàng thế giới

14 BCĐ

Ban chỉ đạo

15 QHKHSDĐ

Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất


MỤC LỤC

6


TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: Tìm hiểu việc thực hiện chính sách hỗ trợ và Tái định cư đối
với các hộ dân ven biển tại xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Sinh viên thực tập: Trần Thị Cương
- Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Văn Chung.
Tóm tắt nội dung khoá luận tốt nghiệp:
Sạt lở bờ biển là hiện tượng tự nhiên hết sức phức tạp và có diễn biến ngày
càng xấu, gây ra nhiều thiệt hại về tài sản của nhà nước và nhân dân, thậm chí là
cả tính mạng con người. Thừa Thiên - Huế là một trong nhiều địa phương chịu
ảnh hưởng của tình trạng biển xâm nhập vào đất liền, đe dọa đến đời sống người
dân và xã Quảng Công là một minh chứng rõ ràng nhất. Những năm qua, Để bảo
đảm tính mạng và tài sản cho người dân các khu tái định cư đã được xây dựng
tại xã Quảng Công.Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ và cơ sở hạ tầng đầu tư thiếu

năm 2013 tỉnh ủy đã tăng số tiền hỗ trợ là 10 triệu đồng lên đến 20 triệu đồng.
Và Bên cạnh tiền hỗ trợ từ ủy ban thì người dân còn được sự hỗ trợ từ các ban
đoàn thể là 4,5 triệu đồng. Ngoài ra mỗi hộ còn nhận được cấp 390m 2 đất ở. Khi
vào TĐC có thì người dân có những thay đổi so với trước đây như thay đổi về
việc làm, thu nhập và các nguồn lực cũng như sự thay đổi về đời sống những
chuyển biến mạnh mẽ nhất là thu nhập. Từ các họ được điều tra thì có 2 luồng
thu nhập chính là nguồn thu nhập nội địa và ngoại địa. Nội địa chủ yếu từ các
hoạt động như đánh bắt thủy sản, làm mắn, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, và
kinh doanh nhỏ hầu như sau TĐC điều giảm từ 848 triệu đồng xuống 689 triệu
đồng. Còn nguồn thu ngoại địa là nguồn thu từ nước ngoài chiếm gần 2/3 tổng
thu nhập của hộ nhưng sau TĐC nguồn thu này lại tăng từ 1548,16 tăng lên
1793,16 triệu đồng . Bên cạnh những thuận lợi nhất đinh về môi trường, khung
gian sống thoải mái thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế đòi hỏi nhà nước cần phải
có những biện pháp khắc phục hợp lý nhu thu nhập còn thấp cần có chính sách
hỡ trợ chuyển đổi hay đào tạo nghề hợp lý để người dân sớm ổn định và đi vào
làm ăn phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng đời sống. Không nên chỉ dừng
lại ở việc bố trí nơi ở mới, mà cần lưu ý các giải pháp khôi phục cuộc sống cũng
như tạo điều kiện cho người dân có nguồn thu nhập mới, đây là vấn đề cần
được quan tâm. Điều này không chỉ là trách nhiệm nhà nước mà còn là trách
nhiệm của cả chính quyền địa phương và toàn xã hội.
Giáo viên hướng dẫn

Th.s Nguyễn văn Chung

8

Sinh viên thực tập

Trần thị Cương


xây dựng 3 khu TĐC ở xã Quảng Công, gồm: Khu TĐC Hải Thành – Cương
Giáng; khu TĐC An Lộc – Tân Thành và khu TĐC Tân An, với tổng diện tích
40ha; số vốn đầu tư gần 70 tỷ đồng.[8] Tái Định Cư cho người dân ven biển bị
sạt lỡ là điều tất yếu, song việc người dân di dời ở khu TĐC còn gặp nhiều khó
khăn và chưa giải quyết được.Vì thế, để hiểu rõ hơn về những khó khăn và các
yếu tố ảnh hưởng trong việc xây dựng thực hiện chính sách hỗ trợ và tái định
9


của Thừa thiên Huế nói chung và xã Quảng Công nói riêng. Em tiến hành
nghiêm cứu đề tài: Tìm hiểu việc thực hiện chính sách hỗ trợ và Tái định cư
đối với các hộ dân ven biển tại xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình tái định cư của nhóm hộ ngư dân ven biển tại xã
Quảng Công,huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa thiên Huế.
- Tìm hiểu những sai khác trong việc thực hiện hỗ trợ và tái định cư so với
kế hoạch đề ra tại địa bàn nghiên cứu.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hỗ trợ và tái định cư
đối với nhóm hộ ngư dân ven biển tại địa bàn nghiên cứu.

10


PHẦN 2:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.

Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm

nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc
nhiệm vụ cụ thể; (3) có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện
các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) có ý thức đoàn kết tập thể.
11


Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể
dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm
khác. Cộng đồng có sự liên kết cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng
thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như là một hằng số văn hóa.[6]
Cộng đồng ven biển là cộng đồng sống trong khu vực ven biển chịu sự tác
động của tài nhiên thiên nhiên giống nhau, nghề nghiệp chủ yếu là đánh bắt thủy
sản. có mối quan hệ mật thiết với nhau có quan niệm, lối sống văn hóa mang sắc
thái gắn liền với biển hình thành nên.
2.1.2. Đặc điểm của chính sách tái định cư
Chính sách tái định cư đa phần được thực hiện khi Nhà nước thu hồi toàn
bộ đất đai và nhà cửa. Cùng với chính sách tái định cư là các chính sách hỗ trợ
để pháp triển nghề nghiệp, ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất phải đi
chuyển chỗ ở.
Đặt điểm của cộng đồng ven biển là một nhóm người sống trong khu vực
ven biển với nghề nghiệp chính là đắnh bắt thủy sản và các nghiệp liên quan tới
biển có quan niệm, lối sống văn hóa mang sắc thái riêng như lễ hội rướt ngư
ông, đua thuyền, người dân thân thiện, cởi mở.
2.1.3. Vai trò của chính sách hỗ trợ, TĐC
Chính sách hỗ trợ nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn,
điều khiển nền kinh tế hướng tới những mục tiêu nhất định, bảo đảm sự phát
triển ổn định của nền kinh tế.
Tái định cư là quá trình hỗ về đất ở, kinh phí xây nhà, ổn định và khôi phục
cuộc sống cho những hộ ven biển bị ảnh hưởng bị sạc lỡ Chính sách tái định cư
là một chính sách của nhà nước nhằm giúp người dân bị ảnh hưởng khi sạc lỡ,

chức việc thu hồi đất, tổ chức tái định cư trở thành sự nghiệp của cộng
đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức chỉ đạo, đầu tư chịu trách nhiệm thực
hiện. Bất kỳ một phương án tổ chức tái định cư nào cũng phải dựa trên một quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đạt được các yêu cầu sau đây:
Là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.
Đã được hoàn thiện sau khi có ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân có
liên quan một cách thực chất.
Tác động của QHKHSDĐ thì nội dung về điều tra, đo đạc, đánh giá, phân
hạng đất và lập bản đồ địa chính là nội dung rất quan trọng, là cơ sở để thực hiện
những nội dung sau, đồng thời nó phản ánh hiện trạng sử dụng đất của khu vực.
[5]
b) Tác động của công tác điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng
đất và lập bản đồ địa chính
Trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, thì nội dung về điều tra, đo đạc,
đánh giá, phân hạng đất và lập bản đồ địa chính là nội dung rất quan trọng, là cơ
13


sở để thực hiện những nội dung sau, đồng thời nó phản ánh hiện trạng sử dụng đất
của khu vực. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều địa phương công tác này được thực
hiện rất chậm, mới chỉ có khoảng 40-50% số đơn vị cấp xã có bản đồ địa chính.
Những hạn chế của công tác này làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý đất đai ở
các địa phương và trực tiếp là công tác xây dựng dự án đền bù thiệt hại trong công
tác giải phóng mặt bằng và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.[5]
2.1.4.3. Yếu tố tổ chức thực hiện
a) Trình độ năng lực của cán bộ làm công tác thực thi chính sách TĐC
Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác thực thi chính sach
TĐC có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, tiến độ. Đây là yếu tố có vai trò quyết định
đến kết quả của công tác thực thi chính sách. Nếu năng lực, trình độ chuyên môn
của cán bộ quản lý, từ kế hoạch phân bổ vốn đầu tư đến thanh tra, kiểm tra,kiểm

đất đai của Việt Nam. Trung Quốc cũng như Việt Nam đất đai thuộc chế độ
công hữu. Tuy nhiên, đất đai được chia làm hai hình thức sở hữu: sở hữu toàn
dân và sở hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu
của nhà nước. Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể
nông dân lao động.
Về TĐC, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp
thời, đa dạng, phong phú về chủng loại, hình thức, đáp ứng nhu cầu sử dụng
khác nhau. Các hộ bị thiệt hại phải di chuyển chổ ở đều được chính quyền quan
tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng gia đình chính sách được
Nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng. Đối với các trường hợp chống
đối, không chấp hành việc Nhà nước thu hồi đất sẽ được đưa đi giáo dục, thuyết
phục, học tập chủ trương chính sách của Nhà nước, nếu không chấp hành sẽ bị
cưỡng chế thu hồi đất.[6]
Công tác di dân, TĐC được thí điểm từ năm 1985 và năm 1993 chính thức
thực hiện. Chính sách di dân, TĐC là đảm bảo theo mục tiêu: đảm bảo ổn định
cư trú, nâng cao dần sự giàu có. Xác định trách nhiệm lãnh
đạo của các cấp Chính phủ, tăng cường công tác đảng trong di dân. Nhận
thức từ công tác tư tưởng trong di dân, khích lệ trong công tác di dân giải phóng
mặt bằng. Do nhiệm vụ di dân phức tạp và quan trọng nên Quốc vụ viện đề ra
những nguyên tắc nhất quán trong quá trình triển khai thực hiện là:
Di dân, TĐC phải bền vững và phát triển, khai thác tốt tiềm năng và lao
động và tài nguyên vùng di dân đến;
Dân chuyển đến nơi định cư mới phải có cuộc sống ổn định lâu dài, có
mức sống bằng hoặc hơn nơi ở cũ;
Thực hiện nguyên tắc công bằng, công khai cả nơi dân phải di dời và cả nơi
dân dự kiến sẽ đến TĐC và công khai cả mức đền bù để mọi người dân biết.
Từ đó Bài học thành công di dân, tái định cư của Trung Quốc được rút ra là:
Chính sách và thủ tục rất chi tiết, các kế hoạch tái định cư chi tiết cùng
các dàn xếp cho từng làng, từng hộ gia đình bị ảnh hưởng được chuẩn bị trước
khi thông qua dự án.

sống và mức sống của mình hoặc ít nhất là khôi phục được mức sống cũ.[7]
a) Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Tháng 2/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng
bản Hướng dẫn Hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995, Ngân hàng này
ñã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc.
Nhìn chung, về phương châm ADB cũng gần giống với WB đều có xu
hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động xấu của thiên tai đến những
người bị ảnh hưởng, đặc biệt là những người bị sạt lỡ phải di chuyển chỗ ở. Để
thực hiện được phương châm đó, thì theo ADB là phải chấp nhận và thực hiện
chính sách phát triển mà con người là trung tâm.[7]
2.2.2. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt nam
16


Kinh nghiệm áp dụng các chính sách hỗ trợ, tái định cư ở các nước đã giúp
cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực
thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự thiếu quan
tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách tái định cư có thể rất lớn,
những người bị bần cùng hoá, đến một thời điểm nhất định sẽ là những nguyên
nhân làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân. Do vậy, tránh hay giảm đến mức tối đa
tỷ lệ di dân tái định cư, cộng với việc khôi phục thoả đáng cho những người bị
thu hồi đất; ngoài việc nhà nước và cộng đồng đạt được lợi ích về mặt kinh tế
còn phải đảm bảo tính công bằng xã hội đối với người bị ảnh hưởng được coi là
mục tiêu và chính sách tái định cư của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng
phát triển Châu Á (ADB). Để làm được điều đó thì chính sách hỗ trợ phải thực
sự tương thích bằng giá thay thế nhà cửa và các kết cấu khác. Giao đất tái định
cư với thời hạn ngắn nhất, các phương tiện cải tạo cũng được cung cấp không
quá một tháng trước ngày dự định khởi công công trình tại từng dự án tương
đương, kế hoạch giải toả thu hồi đất được thực hiện sau khi đã hội ý với người
bị ảnh hưởng. Mức độ dịch vụ cộng đồng và các nguồn tài nguyên được cải

hữu nhà và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Nội dung cơ bản của chính sách hỗ trợ, TĐC hiện hành:
Điều 17. Hỗ trợ cộng đồng dân cư sở tại
Các xã tự nguyện tiếp nhận dân tái định cư đến ở xen ghép vào cộng đồng
dân cư của mình được hỗ trợ kinh phí để cải tạo, mở rộng, nâng cấp công trình
công cộng, cơ sở hạ tầng của xã do ảnh hưởng của việc tăng dân cư trên địa bàn.
Mức kinh phí hỗ trợ là 10 triệu đồng/khẩu tái định cư hợp pháp.
Hỗ trợ tái định cư:
Giao thông khu dân cư:
Phạm vi: điểm tái định cư được xây dựng đường nội bộ và đường nối từ
điểm tái định cư với đường vào trung tâm xã. Hệ thống đường giao thông khu
tái định cư được xây dựng phù hợp với quy hoạch giao thông chung của địa
phương, cụ thể:
Đường nội bộ trong điểm tái định cư được xây dựng theo tiêu chuẩn đường
loại B giao thông nông thôn.
Đường nối các điểm tái định cư, khu tái định cư với đường vào trung tâm
xã, được xây dựng theo tiêu chuẩn loại A giao thông nông thôn.
Đường nối điểm tái định cư, khu tái định cư với đường vào trung tâm xã
đồng thời là đường nối các xã được xây dựng theo tiêu chuẩn TCVN-4054.
d) Cấp, thoát nước sinh hoạt:
Nước sinh hoạt được cấp theo quy định của tiêu chuẩn thiết kế cấp nước
TCXD 33-1985 và các chỉ tiêu chất lượng đối với nước sinh hoạt.

18


Nếu là hệ thống nước tự chảy, tùy theo lượng nước nguồn và địa hình có
thể chọn phương án cấp nước bằng đường ống tới từng hộ hoặc tới các điểm cấp
nước công cộng cho 5-10 hộ.
Nếu khu tái định cư không có điểm cấp nước tập trung bằng đường ống thì

sách điều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp
hơn với sự phát triển của đất nước. Trên thực tế các chính sách đó đã có tác
dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến
khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề hỗ trợ và tái định cư và công tác quy hoạch xây
dựng khu tái định cư diễn ra rất chậm, chưa hiệu quả, còn nhiều vướng mắc
gây khiếu kiện trong nhân dân làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư, triển khai.[3]

20


PHẦN 3:
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách tái định cư và nhóm hộ ngư dân ven biển thuộc
diện tái định cư
3.1.2. Phạm vị nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là địa bàn xã Quảng công, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập các thông tin liên quan đến vấn đề
nghiên cứu trong 5 năm (2010-2015)
Lý do chọn địa bàn nghiên cứu:
Quảng Công là một xã vùng biển, chịu ảnh hưởng nặng nề của xâm thực
mặn nghiên trọng. Tái định cư là vấn đề đang nổi trội và được UBND xã đặt biệt
quan tâm đầu tư và phát triển. Vì vậy việc nghiên cứu ở địa bàn Quảng Công là
cơ hội để tìm ra những khó khăn hiện tại trong việc thực hiện chinh sách hỗ trợ
và Tái Định Cư cho các hộ dân ven biển, từ đó tìm ra giải pháp phát triển.
3.2. Nội dung nghiên cứu

Kinh phí chi trả
3.2.4.2. Kết quả đạt được khi thực hiện
3.2.4.3. Những sai khác và hạn chế
3.2.4.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách tái định cư
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập thông tin qua báo cáo kinh tế xã hội của xã qua các năm từ 20142015, các tạp chí ấn phẩm trên internet và các báo cáo nghiên cứu, các báo cáo
khoa học liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phỏng vấn người am hiểu: Phỏng vấn chủ tịch hội mặt trận về chính sách
hỗ trợ TĐC của hội. Phỏng vấn chủ tịch xã để biết một số thông tin về chính
sách, nguồn lực và các bên liên quan.
Phỏng vấn sâu: cán bộ địa chính về kế hoạch tái định cư cũng như chính
sách hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân.
23


24


Phỏng vấn hộ:
Nghiên cứu về thực trạng thu nhập của hộ TĐC tôi đã tiến hành khảo sát 30
hộ trên địa bàn hai thôn Tân Thành-Tân Lộc Tổng hợp một số nét đặc trưng cơ
bản của hộ điều tra về tình hình chung của chủ hộ, nhân khẩu, lao động, đất đai
và tình hình sử dụng đất của hộ.Số liệu điều tra hộ về thu nhập của hộ và số
nhân khẩu của hộ đã tính toán được thu nhập bình quân trên người của hộ.
Cách thức tiến hành chọn mẫu: với phương pháp chọn ngẫu nhiên có định
hướng, dựa trên danh sách các hộ tái định cư, sau đó chọn ngẫu nhiên các hộ.
Mục đích so sánh tình hình về thu nhập lẫn cơ sở hạ tầng của các hộ trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status