Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020,kế hoạch sử dụng đất 5 năm kì đầu (20112015) huyện Thường TínThành Phố Hà Nội - Pdf 38

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài.
- Trong thời gian qua công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất luôn
nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và được triển khai rộng
khắp trên khắp phạm vi cả nước và đã đạt được một số kết quả nhất định. Quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
không chỉ cho trước mắt mà còn cho cả lâu dài, việc thực hiện đúng phương án
quy hoạch quyết định tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng
đất. Thực hiện quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội của từng địa phương, việc sử dụng đất phải thật tiết kiệm tránh lãng phí
quỹ đất, phân bổ hợp lý quỹ đất cho nhu cầu sử dụng đất khác nhau của nền kinh
tế và đặc biệt ưu tiên đất đai cho nhiệm vụ phát triển nông nghiệp.
- Tuy nhiên quá trình triển khai lập và tổ chức thực hiện quy hoạch sử
dụng đất còn gặp phải nhiều vấn đề bất cập, việc thực hiện phương án quy hoạch
sử dụng đất được phê duyệt còn thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế, kiểm tra, giám sát
dẫn đến tình trạng “quy hoạch treo”. Nhiều phương án quy hoạch chưa dự báo
được hết tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong kì quy hoạch, việc
bố trí quỹ đất cho các thành phần kinh tế không sát với nhu cầu thực tế dẫn đến
quá trình thực hiện phải bổ sung nhiều lần đặc biệt ở các địa phương thuận lợi
về giao thong, gần các trung tâm kinh tế lớn, tốc độ dịch chuyển cơ cấu kinh tế
diễn ra nhanh.
- Huyện Thường Tín được coi là một trong những huyện phát triển về khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, dịch vụ tập trung, với tính chất như vậy nên cơ

- Đáp ứng các yêu cầu bảo vệ đất, bảo vệ môi trường, tôn tạo các di tích
lịch sử của huyện
- Công tác quy hoạch phải chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính
sách của Đảng và nhà nước
- Nguồn số liệu thu thập phải có độ tin cậy và tính chính xác.

4


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1.Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất:
- Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của nhà nước về quản
lý và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý , hiệu quả thông qua việc phân bổ đất đai cho
các mục đích sử dụng và định hướng sử dụng đất cho các cấp lãnh thổ, các
ngành, tổ chức và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội ,
thực hiện đường lối kinh tế của nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh
thái bền vững
- Theo FAO: “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất
và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế-xã hội nhằm
lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất.
- Về thực chất thì quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết
định nhằm tạo điều kiện nhằm tạo điều kiện để đưa đất đai vào sử dụng bền
vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh
các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với
mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội , kết hợp với bảo vệ đất và môi
trường.Mặt khác quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước
nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đúng mục đích , hạn chế sự chồng chéo gây
lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện làm giảm quỹ đất

+ Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính
sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định
có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên
mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định
kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân
số, đất đai và môi trường sinh thái.
- Tính khả biến:
+ Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều
phương diện khác nhau, QHSDĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện
trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế
trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng
tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không
còn phù hợp. Việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp cần
6


thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch, QHSDĐ luôn là quy hoạch
động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy
hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện...’’ với chất lượng, mức độ hoàn
thiện và tính phù hợp ngày càng cao.
1.2 Công tác quy hoạch ở trong nước và ngoài nước:
1.2.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
* Thời kỳ trước khi Luật Đất đai năm 1993
Quy hoạch sử dụng đất đai chưa được coi là công tác của nghành Quản lý
đất đai mà chỉ được thực hiện như một phần của quy hoạch phát triển nghành
nông – lâm nghiệp. Các phương án phân vùng nông – lâm nghiệp đã đề cập tới
phương hướng sử dụng tài nguyên đất trong đó có tính toán đến quỹ đất nông
nghiệp, lâm nghiệp và coi đây là phần quan trọng. Tuy nhiên, do còn thiếu các
tài liệu điều tra cơ bản và chưa tính toán được khả năng đầu tư nên tính khả thi
của phương án còn thấp. Để triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đầu

công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cho Giám đốc Sở Địa chính tất cả
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước. Sau hội nghị, công tác
lập quy hoạch sử dụng đất được triển khai ở 4 cấp là: cả nước, tỉnh, huyện, xã.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tính thống
nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Thông qua QHSDĐ, Nhà nước
thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại, bảo
đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sủ dụng đất, gắn
chuyển mục đích sử dụng đất với mục tiêu phát triển KT-XH, có cơ sở để điều
chỉnh chính sách đất đai tại mỗi địa phương, chủ động giành quỹ đất hợp lý cho
phát triển các nghành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, vừa đảm bảo ổn định các mục tiêu xã hội vừa đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại đất nước. Từng bước chủ động dành quỹ đất hợp lý cho xây
dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp, dịch vụ,
đô thị.
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được quy định trong Luật
Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/NĐ – CP ngày
01/01/2001 quy định nội dung cụ thể về lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sủ
dụng đât của các cấp địa phương. Từ năm 1994, Chính phủ đã cho triển khai xây
dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010. Tuy vậy,
cũng phải đến năm 2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI, Quốc hội mới ra
Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến
năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ
8


Công an tiến hành công tác rà soát quy hoạch sử dụng đất an ninh, quốc phòng
và đã được Chính phủ phê duyệt.
“Quy hoạch sử dụng đất đã góp phần tăng cường hiệu lực và ngày càng có
hiệu quả cao trong quản lý và sử dụng đất, đã phục vụ cho phát triển kinh tế - xã
hội, an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển của đất nước theo hướng công

quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, Nghị định đã dành hẳn chương III, từ Điều 12
đến Điều 29 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các
cấp. Để hướng dẫn các địa phương thi hành tốt Luật Đất đai 2003 và Nghị định
181/2004/ NĐ - CP của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành
Thông tư số 30/2004/ TT - BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập,
điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quyết định số
04/2005/QĐ - BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 ban hành quy trình lập và
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất các cấp.
Có thể nói, đến giai đoạn này hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến
công tác quy hoach và kế hoạch sử dụng đất của nước ta là tương đối đầy đủ,
đồng bộ và toàn diện nhất từ trước tới nay tạo điều kiện rất thuận lợi cho cho
công tác quy hoạch, kế hoạch sử dung đất các cấp. Điều đó khẳng định sự quan
tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý Nhà nước về đất
đai nói chung cũng như công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất các cấp nói
riêng.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Chính phủ đã trình báo cáo quy hoạch
sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đén năm 2005 của cả nước.
Năm 2006 Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 57/2006/QHH11 về kế
hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) của cả nước.
Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta được pháp luật quy định là một trong
những nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai; việc tổ chức triển
khai quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn 1994 đến nay đã cơ bản
hoàn thành QHSDĐ ở cả 4 cấp (Quốc gia, tỉnh, huyện, xã); QHSDĐ đã góp
phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước
Tồn tại chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất ở nước ta là mới thực hiện chủ
yếu ở mức độ khái quát, mang tính định hướng, còn thiếu chiến lược lâu dài,
thiếu quy hoạch chi tiết; về phương pháp và quy trình thực hiện còn nhiều bất
cập chưa có quy trình QHSDĐ mang tính đặc thù đối với đô thị; sự phối hợp

đến trước năm 2000 vẫn chưa được quan tâm nhiều.
=> Nhìn chung hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở các nước phát triển
tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất
được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả 3 mặt: kinh tế, xã hội, môi trường
còn ở các nước kém phát triển do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên
môn tốt nên hệ thống luật đất đai chưa đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất
đạt hiệu quả chưa cao.

11


CHƯƠNG II: NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Việc thực hiện các tiêu chí trong
phương án quy hoạch sử dụng đất huyện thường tín-thành phố hà nội giai đoạn
2011-2015
- Đề tài được nghiên cứu thực hiện trong phạm vi đơn vị hành chính huyện
thường tín-thành phố hà nội
2.2 Nội dung nghiên cứu:
- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện
thường tín giai đoạn 2011-2015 so sánh đối chiếu với từng chỉ tiêu sử dụng đất ,
các hạng mục công trình đã được thực hiện với phương án quy hoạch từ đó đưa
ra những nhận định, đánh giá sát thực về nội dung hoàn thành các chỉ tiêu quy
hoạch , kế hoạch sử dụng đất, các hạng mục công trình , mức độ hợp lý hay bất
hợp lý trong các chỉ tiêu quy hoạch và đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện
có hiệu quả các nội dung của phương án quy hoạch do vậy nội dung của đề tài sẽ
tập trung phân tích các vấn đề sau:
2.2.1 Điều tra đánh giá về điều kiện tự nhiên-kinh tế và xã hội huyện

chỉ tiêu thống kê đất đai năm 2010 , bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện
Thường Tín năm 2014 ; số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010; số liệu các chỉ
tiêu trong phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Việt Yên đến năm
2015;
- Điều tra, thu thập thông tin tại các ban ngành trong huyện; số liệu điều tra
về việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất của các ngành, số liệu dân số, lao động,
số liệu thực trạng phát triển kinh tế – xã hội, thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
của huyện.
- Khảo sát thực địa, điều tra bổ sung thông tin tài liệu, số liệu, bản đồ;
chỉnh lý bổ sung thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ tại thực địa
2.3.2 Phương pháp thu thập, kế thừa và chọn lọc kết hợp xử lý thống kê
- Dựa vào những số liệu, tài liệu đã có sẵn ở các phòng ban phân tích, chọn
lọc các tài liệu, số liệu phù hợp; sau đó được tổng hợp, xử lý thông qua việc sử
dụng phần mềm hỗ trợ Excel. Thống kê, so sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất cụ
13


thể trong cơ cấu sử dụng đất qua các giai đoạn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
2.3.3 Phương pháp bản đồ
- Dùng để xử lý các số liệu điều tra, thu thập bằng các chương trình máy
tính như Word, Excel, Microstation, Mapinfo, GIS... trong xử lý số liệu và thể
hiện kết quả để mô tả tính chất không gian và phân bổ các loại đất trong phương
án quy hoạch.
2.3.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
- Tổng hợp, phân tích các thông tin, số liệu đã điều tra thu thập được, phục
vụ cho việc nghiên cứu của đề tài và rút ra các kết luận.
2.3.5 Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp này tranh thủ ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực
chuyên môn để đưa ra các giải pháp tối ưu, phù hợp với tình hình thực tế tại địa
phương.

huyện còn có lợi thế từ việc ít chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu. Đó là
lợi thế lớn trong trong sử dụng đất và phát triển kinh tế.
3.1.1.2 Địa hình
- Thường Tín là huyện đồng bằng sông Hồng, địa hình tương đối bằng
15


phẳng, độ chênh lệch cao thấp giữa các vùng không đáng kể. Địa hình có hướng
thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây. Địa hình có độ cao so với
mực nước biển từ 5 - 8m. Sự thiếu hụt bồi tích của hệ thống sông đã làm cho bề
mặt địa hình của phần lớn diện tích trong đồng thấp hơn bề mặt của bãi bồi
ngoài đê và thường bị úng lụt vào mùa mưa. Tại các khu đồng thấp, do tập quán
giữ nước trồng lúa đã làm cho đất bị gley. Vùng đất ngoài bãi nằm dọc theo triền
sông lớn có hiện tượng xói lở, chia cắt làm bề mặt thay đổi về hình dạng vùng
cũng như diện tích khu đất này.
3.1.1.3 Khí hậu
- Thường Tín nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng:
mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông khô lạnh, mưa ít.
Nhiệt độ bình quân hàng năm 23,5 0C, tổng nhiệt lượng cả năm khoảng
8.000 - 8.5000C.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.600-1.700mm, chủ yếu tập trung vào
các tháng 6,7,8 và 9.
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 92% và
độ ẩm thấp nhất là 60%.
Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.741 giờ, thuộc mức tương đối cao,
có điều kiện thích hợp để canh tác nhiều vụ trong năm.
Thường Tín chịu ảnh hưởng của 2 loại gió rõ rệt, gió đông bắc xuất hiện
vào mùa đông và gió đông nam xuất hiện vào mùa hè. Ngoài ra, vào các tháng
chuyển tiếp giữa 2 mùa thỉnh thoảng xuất hiện gió tây nam và đông nam.
3.1.1.4 Thủy văn

13,40% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện. Đây là loại đất phân bố trong đê,
trên địa bàn các xã Ninh Sở, Duyên Thái, Nhị Khê, Hiền Giang, Hòa Bình, Văn
Bình, Văn Phú, Tân Minh, Dũng Tiến, Duyên Thái, Nguyễn Trãi, Nghiêm
Xuyên, Thắng Lợi, Tô Hiệu, Quất Động, Liên Phương, Minh Cường, Văn Tự.
- Đất phù sa gley chua: có diện tích khoảng 386,92 ha chiếm 3,03% tổng
diện tích đất tự nhiên của huyện. Đây là loại đất phân bố trong đê, có trên địa
bàn các xã Dũng Tiến, Thắng Lợi, Tân Minh, Tiền Phong, Khánh Hà.
Nhìn chung, nền thổ nhưỡng huyện Thường Tín thích hợp cho các loại cây
hàng năm như lúa, rau màu và có thể tiến hành thâm canh tăng vụ phục vụ phát
triển nông nghiệp.

17


*Tài nguyên nước:
- Bao gồm nguồn nước mặt và nước ngầm. Trữ lượng nước khá dồi dào
nhưng phân bố không đều.
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt đang sử dụng chủ yếu lấy từ sông
Hồng qua trạm tưới Hồng Vân. Nước sông Hồng có hàm lượng phù sa cao, chất
lượng nước tốt, rất thích hợp cho việc cải tạo đồng ruộng. Sông Nhuệ vừa là
nguồn cung cấp nước tưới quan trọng cũng vừa là nguồn tiêu thoát nước chủ yếu
của huyện. Trên địa bàn huyện còn có một số sông nhỏ như sông Tô Lịch, sông
Hòa Bình. Ngoài nguồn nước mặt của các sông, Thường Tín còn có các ao, hồ,
đầm với trữ lượng nước khá lớn phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy sản và
nhu cầu cung cấp nước tại chỗ.
- Nguồn nước ngầm: Theo khảo sát sơ bộ, nước ngầm có trữ lượng lớn,
phân bố ở độ sâu 15 - 25m, có thể khai thác vào mục đích sản xuất và sinh hoạt.
*Tài nguyên khoáng sản:
- Huyện Thường Tín có tiềm năng đất khai thác khoáng sản và vật liệu xây
dựng tương đối lớn. Hiện nay, trên địa bàn huyện có khoảng 15ha đang cho khai

khai thác triệt để, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, nâng cấp các di tích
lịch sử và cảnh quan, khôi phục và xây dựng truyền thống văn hóa dân gian.
*Cảnh quan môi trường:
- UBND huyện thường xuyên chỉ đạo công tác vệ sinh môi trường, thực
hiện tốt việc tuyên truyền, hưởng ứng các hoạt động về bảo vệ môi trường, tổ
chức thực hiện có hiệu quả “tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường”,
“chiến dịch giờ trái đất”, “ngày môi trường thế giới”, “làm cho thế giới sạch
hơn”... Đến nay, 100% thôn, cụm dân cư được hỗ trợ xe chở rác thải, làm tốt
công tác thu gom, xử lý rác thải.
Tuy nhiên với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp
- dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, ưu tiên phát triển nông nghiệp theo
hướng hàng hóa... môi trường của huyện trong những năm gần đây đã bị tác
động mạnh mẽ, đã có dấu hiệu ô nhiễm mà các nguyên nhân chủ yếu là do: Các
hoạt động công nghiệp; sản xuất nông nghiệp; quá trình đô thị hóa.
Để phát triển bền vững và đảm bảo sức khoẻ cho người dân, trong thời
gian tới cần triển khai quy hoạch bảo vệ môi trường đến năm 2020, tiếp tục đẩy
mạnh các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra
xử lý vi phạm Luật Bảo vệ môi trường tại các cụm, điểm công nghiệp, làng
nghề, giải tỏa các bãi rác trái phép tại các xã, thị trấn. Chú trọng phát triển hệ
thực vật xanh, có chính sách khuyến khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt,
giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn, xóm và cộng đồng.
19


3.1.2 Hiện trạng kinh tế-xã hội
3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
- Phát huy lợi thế trong phát triển kinh tế-xã hội trong những năm qua
huyện thường tín đã thực hiện những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế để hòa nhịp với sự phát triển chung của thành
phố.Kết quả tăng trưởng kinh tế thể hiện qua chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất và

905,60
390,50
206,90
183,60
220,30
294,80
474,50
164,20
102,30
61,90
119,10
191,20

1822,40
955,70
522,2
433,50
463,20
403,50
845,60
356,80
225,90
130,90
241,00
247,80

3682,60
2249,60
1378,20
871,40

18,75
16,02
6,48
12,25
16,79
17,17
16,16
15,14
5,32

Tốcđộ
tăng
bình
quân
20162020 (%)
18,67
22,68
27,43
15,77
20,62
2,23
13,40
17,85
18,34
16,98
15,49
2,44

- Xét về tốc độ tăng trưởng kinh tế, toàn huyện luôn duy trì tăng trưởng
kinh tế với tốc độ cao. Giai đoạn 2011-2015 giá trị sản xuất toàn huyện tăng

Bảng 2: GTSX và GRDP các ngành kinh tế của huyện
(Tính theo giá hiện hành)
ĐVT: TỶ ĐỒNG
Tiêu thức
I.GTSX

2011

2012

2013

4652.9

6060.
8

8942.5 11974.5 15876.0

21

2014

2015


1.CN-XD

2633.1



2905.9

3797.9

2.TM-DV

1283.1

1768.
0

2601.5

3524.8

4762.5

3.NN-TS

736.7

897.4

1129.5

1348.5

1616.0


674.5

953.1

1263.1

1715.9

b.XD

277.2

372.3

523.9

686.0

896.6

2.TM-DV

532.2

690.6

972.4

1317.5



2015

I.GTSX

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00

1.CN-XD

54.76

56.97

58.64

61.09

61.92

a.CN-TCN

56.71


27.57

3.NN-TS

18.94

16.71

14.34

12.20

10.50

22


II.GRDP

100.00

100.00

100.00

100.00

100.00


36.72

36.28

35.36

2.TM-DV

29.01

29.41

31.01

31.70

31.22

3.NN-TS

26.72

24.09

20.74

19.22

17.63



Con
23

2011
260

2015
182


2

Đàn bò

Con

3713

4103

3

Đàn lợn

Con

108662

102672

- Hiện nay huyện có 2 khu công nghiệp, 6 cụm công nghiệp và 26 điểm
công nghiệp làng nghề
- Khu công nghiệp bắc thường tín và khu công nghiệp phụng hiệp đã công
khai quy hoạch chi tiết đang tiến hành thủ tục thu hồi đất
- 6 Cụm công nghiệp gồm: Liên Phương, Hà-Bình-Phương, Quất Động,
Lưu Xá-Quất Động, Duyên Thái, Hà Hồi-Quất Động. Các cụm, điểm công
nghiệp này đang thu hút khá nhiều lao động, các sản phẩm công nghiệp chủ yếu
của huyện là thiết bị điện, bao bì và các mặt hàng tiêu dùng phổ thông
- Thường Tín là 1 trong các huyện của thành phố Hà Nội có số lượng làng
24


nghề tương đối nhiều , 120/126 làng có nghề (chiếm 95,24%), 45 làng nghề
được công nhận với các loại mặt hàng có tính hàng hóa và mang lại giá trị cao.
Trong đó có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm nổi tiếng như: Tiện gỗ
ở Nhị Khê, sơn mài ở Duyên Thái, thêu ở Quất Động, Thắng Lợi, bánh giày ở
Quán Gánh, mây tre đan ở Ninh Sở,...
- Trong những năm qua ,UBND huyện thường xuyên quan tâm chỉ đạo
công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Các dự án
trên địa bàn huyện đã chấp hành theo đúng trình tự thủ tục đầu tư xây dựng đảm
bảo chất lượng và phát huy tác dụng.
3.1.3.3 Khu vực kinh tế-dịch vụ
- Hiện nay huyện có 21 chợ trong đó có 01 chợ loại 1 (chợ Vồi), 01 chợ
loại 2( chợ Tía), 01 chợ đầu mối gia súc-gia cầm( chợ Hà Vĩ) và các chợ loại 3
- Về hoạt động dịch vu nông nghiệp: 2 hoạt động dịch vụ chủ yếu là làm
đất và tưới tiêu, ngoài ra còn 1 số dịch vụ khác như: sửa chữa nhỏ, dịch vụ thú
ý,...
- Dịch vụ xăng dầu, kinh doanh bán lẻ gas, rượu, thuốc lá: Số cửa hàng
xăng dầu đã được quy hoạch là 24 điểm, đã xây dựng 13 điểm. Tổng số hộ đăng
kí kinh doanh gas, rượu, thuốc lá là 105 hộ trong đó có 85 hộ đã có giấy phép

220200

11,2

13,3



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status