Xây dựng mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại Thị Trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo – Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Khoa môi trường
Hội đồng chấm đồ án tốt nghiệp
Tên em là: Vũ Thị Hằng - Sinh viên nghành quản lý tài nguyên và môi trường
Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm đồ án một cách khoa học,
chính xác và trung thực.
Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn đều có thật, thu được trong quá trình ng
hiên cứu và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào.
Bắc Ninh , ngày 27 tháng 05 năm 2016
Sinh viên

Vũ Thị Hằng

1


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại Trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và
bạn bè xung quanh.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô ở Khoa Môi trường –
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã cùng với tri thức và tâm huyết
của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại
đây. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho
quá trình nghiên cứu đồ án tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu giúp ích cho công
việc của em sau này để em thành công hơn trong cuộc sống
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh người đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt quá trình viết
và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.


3

: Chỉ thị
: Thông tư
: Chính phủ
: Nghị quyết
: Nghị định
: Trung ương
: Ban chấp hành
: Thông tư liên tịch
: Ủy ban nhân dân
: Bảo vệ thực vật
: Bảo vệ môi trường


MỤC LỤC

4


DANH MỤC BẢNG

5


DANH MỤC HÌNH

6


định những hành động và quy định nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường. Đặc điểm
7


quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự tham gia của cộng đồng và lồng ghép
các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả các giai đoạn
của Hương ước, quy ước, gồm những quy định cụ thể về vệ sinh nơi ở và những khu
vực chung, quản lý rác thải, sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón và chất kích thích cây
trồng một cách hợp lý, đồng thời quy định về việc bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh
học.
Vì vậy trong báo cáo đồ án tốt nghiệp em đã chọn đề tài “Xây dựng mô hình
hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại Thị
Trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng đồng
nhằm thực hiện công tác xã hội hóa từ cấp trung ương đến địa phương tại Thị trấn
Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng môi trường tại thị trấn Thứa, Lương Tài, Bắc Ninh.
- Hiện trạng về công tác quản lý môi trường tại thị trấn Thứa.
- Bản hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn
Thứa.

8


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Thị Trấn Thứa
1.1.1. Điều kiện tự nhiên

thất thường, mùa hè nhiệt độ lên cao tới 34 oC - 36 oC. Ngược lại mùa đông có ngày
nhiệt độ hạ thấp xuống dưới 10 oC. Có những năm hết hạn hán kéo dài lại đến bão
lụt xảy ra đã ảnh hưởng xấu đến trồng trọt và chăn nuôi.
Nhìn chung Thị trấn Thứa có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa đông lạnh khô làm cho vụ đông trở thành vụ chính
có thể trồng nhiều loại rau màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Hạn chế lớn nhất đối
với sử dụng đất là mưa lớn tập trung, gây ra ngập úng các khu vực trũng và thấp, uy
hiếp hệ thống đê điều thuỷ lợi gây khó khăn cho việc canh tác thâm canh tăng vụ mở
rộng diện tích.

-

Thuỷ văn
Thị trấn có sông chính là sông Thứa, sông Bùi, sông Đồng Khởi ngoài ra còn có
hệ thống kênh mương nội đồng. Đây là nguồn nước tốt để cung cấp cho sản xuất nông
nghiệp. Diện tích được tưới tiêu chủ động là 90% diện tích đất canh tác. Nhưng điều
này cũng gây trở ngại lớn cho việc canh tác vào mùa mưa.

10


 Các nguồn tài nguyên[10]
• Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn Thị trấn là 714,57 ha trong đó đất nông nghiệp là
484,17 ha, đất sản xuất nông nghiệp là 404,14 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản là 80,03 ha.
Đất đai Thị trấn Thứa có nguồn gốc là loại đất Phù sa cổ glây của hệ thống sông Thái
Bình không được bồi đắp hàng năm, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến thịt trung
bình. Độ dày tầng canh tác từ 30 - 50cm.
Các yếu tố dinh dưỡng:
+ Mùn: hàm lượng từ trung bình đến giàu nhưng đất thành phần cơ giới nặng

màu xanh hoặc màu xám đen. Phản ứng dung dịch đất chua pH KCL< 4,5; Hàm lượng
mùn giàu (>3,0%), đạm tổng số giàu (0,17%); lân tổng số nghèo, lân dễ tiêu nghèo;
kali tổng số nghèo (< 0,5%); Kali dễ tiêu trung bình (10 - 15 mg/100g đất/); lượng các
cation kiềm trao đổi thấp, tổng lượng canxi và magiee khoảng 9 meq/ 100g đất ở tầng
mặt.
Đất thích hợp với việc trồng 2 vụ lúa/năm. Để đảm bảo vừa nâng cao năng suất
cây trồng, đồng thời nâng cao độ phì cho đất cần tăng cường bón vôi để cải tạo độ
chua của đất.
• Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Thị trấn Thứa sử dụng nguồn nước mặt từ sông Lai, thông
qua hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất và sinh hoạt, lượng nước khá dồi dào.
Qua thực tế sử dụng cho thấy chất lượng nước mặt ở đây khá tốt, ít bị ô nhiễm.
- Nguồn nước ngầm: Thị trấn Thứa nằm trong vùng trầm tích Châu thổ sông
Hồng nên về mặt địa chất thủy văn mang rõ nét tính chất của vùng Châu thổ sông
Hồng. Nguồn nước ngầm hiện là nguồn chủ yếu được khai thác phục vụ cho sinh hoạt
và sản xuất. Hiện chưa có những nghiên cứu chi tiết về trữ lượng nước ngầm trong
vùng, nhưng qua thăm dò một số giếng nước trong khu dân cư cho thấy mực nước
ngầm nằm khá sâu (8 - 10m), chất lượng nước tốt phục vụ cho nhu cầu sản xuất và
sinh hoạt của nhân dân.
• Tài nguyên nhân văn
Nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc nói chung và huyện Lương Tài nói riêng,
đây là miền quê có lịch sử lâu đời người dân Thị trấn Thứa vẫn giữ gìn phát huy giá trị
văn hóa vốn có của mình. Hệ thống đình chùa thường ngày vẫn hoạt động và nhất là
12


những dịp lễ hội của Làng được tổ chức hàng năm nhằm nâng cao và phát huy hơn
nữa nét đẹp sinh hoạt văn hóa của nhân dân. Các dòng họ trong Làng thường xuyên
động viên, khuyến khích con em mình học tập tốt để phát huy truyền thống hiếu học
và khoa bảng của các bậc cha ông.

Cây trồng
1. Lúa cả năm
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
2. Lúa xuân
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
3. Lúa mùa
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng

ĐVT

Năm
2005

Năm 2008 Năm 2010 Năm 2012 Năm 2015

Ha
Tấn/Ha
Tấn

790
55,5
4.385

763


394
67,3
2.650

388
67,2
2.608

Ha
Tấn/Ha
Tấn

405
380
380
390
369
52,3
52,7
55,2
54,1
57,5
2.120
2.002
2.096
2.111
2.123
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê huyện Lương Tài)


2015

185
13
10
11
8
294
251
252
170
133
60
64
61
61
65
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê huyện Lương Tài)

Thủy sản
Thủy sản được đầu tư phát triển, đã có nhiều mô hình VAC kết hợp theo hướng
trang trại, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích nuôi trồng được mở rộng, riêng
diện tích nuôi thả cá đã tăng từ 60 ha năm 2005 lên 65 ha năm 2015.
Khu vực kinh tế công nghiệp
Công nghiệp và xây dựng của thị trấn có bước phát triển nhưng còn chậm, quy
mô sản xuất nhỏ. Năm 2015 trên địa bàn thị trấn có 9 doanh nghiệp lớn, thu hút gần
500 lao động, hang chục cơ sở sản xuất nhỏ.
14




Lao động bình quân
(người)
Tổng số Tr.đó: Nữ
42

9

48

16

Dân Dụng
SX Thức Ăn Chăn Nuôi
Bán Lẻ Hoá Mỹ Phẩm
Bán Buôn Vật Liệu Xây

29

11

183
16

36
7

Dựng
C.ty Xây Dựng Việt Thành
Bán Vật Liệu Xây Dựng

(người)
Tổng số Tr.đó: Nữ

chính

C.ty Công Nghệ Thanh Thanh Kinh Doanh Vật Liệu
Tùng

Xây Dựng

9

1

1.1.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Theo số liệu niên giám thống kê, năm 2015, thị trấn Thứa có 8.955 người, mật
độ bình quân dân số là 1.253 người/km. Trong giai đoạn 2005-2010, thị trấn có tốc độ
phát triển dân số thấp, năm 2010 - 2011 là 0,81%, cao nhất là năm 2013 là 1,23%, năm
2012 là 1,05% đến năm 2015 là 1,12%. Cấu trúc dân số thuộc loại trẻ, nên tiềm năng
lao động và khả năng sinh đẻ còn rất lớn.
Năm

Năm

Năm

Năm

Năm


8.95

6

5

%

1,14

0,81

0,99

0,89

1,23

1,05

1,12

Hộ

2.163

2.567

2.608


4.526

4.601

1
5.05

3
5.12

Chỉ tiêu
1. Tổng nhân khẩu
2. Tỷ lệ tăng tự
nhiên
3. Tổng số hộ
4. Mật độ dân số

ĐVT

Người/Km
2

5. Tổng số lao
động

16

Người

9

- Đường tỉnh lộ 284 đoạn qua Thị trấn dài 0.5 km
* Giao thông đối nội:
- Các con đường liên xã liên thôn, đường ngõ xóm. Phần lớn đã được dải bê
tông và cấp khối.

17


- Ngoài ra còn có các tuyến giao thông nội đồng, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại
phục vụ sản xuất.
Nhìn chung, hệ thống giao thông của thị trấn Thứa còn chưa hoàn chỉnh. Thiếu
các tuyến giao thông theo hướng Bắc Nam để có thể phát triển không gian theo chiều
sâu.
Thủy lợi
Thị trấn Thứa đang sử dụng hệ thống thoát nước chung tuy nhiên hệ thống thoát
nước còn chưa đồng bộ. Tuyến cống thoát nước chính bằng BTCT nằm trên tuyến
đường trung tâm thu nước mặt rồi thoát về khu vực sông Thứa. Ngoài ra trong các
xóm, làng nước mặt tự chảy vào hệ thống mương tưới tiêu thủy lợi.
Hàng năm chuẩn bị tốt vật tư, phương tiện và các phương án phòng chống lụt
bão, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ được giao.
Giáo dục và Đào tạo
Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục được giữ vững và có bước phát triển, chất
lượng và hiệu quả giáo dục nhìn chung ổn định và có bước phát triển theo tinh thần đổi
mới giáo dục, các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Các trường học của Thị trấn Thứa gồm 3 cum mầm non, 1 trường tiểu học, 1
trường trung học cơ sở. Các trường này đều đạt danh hiệu trường xuất sắc tiên tiến cấp
tỉnh
Ngoài ra trên địa bàn của Thị trấn còn có các trường học của huyện đóng trên
địa bàn: trường mầm non Hoa Sen, trường Trung học cơ sở Hàn Thuyên, trường Phổ
thông trung học số 1 Lương Tài, trường Phổ thông Dân Lập Lương Tài, trung tâm

còn thấp, cùng với sự gia tăng nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt trong
giai đoạn tới thì mạng lưới điện trên địa bàn huyện cần được đầu tư xây dựng mới
cũng như nâng cấp, cải tạo các tuyến cũ.
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở pháp lý xây dựng hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng
đồng
1) Nghị quyết 41/ NQ-TW Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41- NQ/TW ngày 15
tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước
- Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi
trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường,
Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác bảo vệ môi
19


trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống
chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có
hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các
cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và
sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ
đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt
cho công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
- Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc
đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy
giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát
sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong
nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe
doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi
không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá,

hậu đối với sức khỏe con người, đời sống xã hội và sự phát triển bền vững của đất
nước; những bài học và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí
hậu của các nước trong khu vực và trên thế giới; công bố công khai những tổ chức,
doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và hình thức xử lý. Đưa nội dung
giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân.
Coi trọng việc phát động phong trào bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân.
Xây dựng tiêu chí về môi trường vào đánh giá hoạt động của từng doanh nghiệp, cơ
quan, đơn vị, gia đình, làng, bản, khu phố, tập thể, cá nhân, đảng viên, đoàn viên, hội
viên. Phát hiện, nhân rộng và tuyên truyền các mô hình, điển hành tiên tiến về bảo vệ
môi trường.Duy trì và phát triển giải thưởng môi trường hàng năm.
- Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường.
- Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách
khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường.Xây dựng và
phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường. Tăng cường sự giám sát của
cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với bảo vệ môi
trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Phát triển các dịch vụ thu gom, vận
chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác bảo vệ môi trường với sự tham gia
của mọi thành phần kinh tế. Hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám
định, chứng nhận về bảo vệ môi trường; thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường đủ
mạnh để giải quyết các vấn đề môi trường lớn, phức tạp của đất nước.
21


3) Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN
ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực
hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
1.2.2 Nội dung và hình thức thể hiện của hương ước
Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện

tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh;
- Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹtục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã
hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang; lễ hội, thờ phụng ở địa phương;
khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn kém;
- Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, xây dựng làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư văn hoá, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đình và
cộng đồng; khuyến khích mọi người đùm bọc, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn
nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình, xây
dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hoá;
- Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các
thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xoá đói giảm nghèo, phát
triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề ở địa phương; vận động
các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm phát triển sản
xuất. Khuyến khích phát triển các làng nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các
công trình phúc lợi công cộng: điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công
trình văn hoá thể thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp
luật và phù hợp khả năng đóng góp của nhân dân;
- Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn, góp phần phòng
chống tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và các
hành vị khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động trong
nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về tạm trú,
tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân
cư. Đề ra các biện pháp cần thiết hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi
phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật
về tổ chức tự quản ở cơ sở như tổ chức, hoạt động của Tổ hoà giải, Ban an ninh, Tổ
bảo vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
- Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước:

23


viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại các điều,
khoản cụ thể.
24


Các quy định của hương ước cần ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ thực hiện.
Tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu tự quản của từng địa bàn mà hương ước có thể
quy định bao quát toàn bộ hoặc một số điểm thuộc các nội dung được hướng dẫn tại
điểm 1 Phần a nói trên.
1.2.3 Quy trình xây dựng và triển khai hương ước, quy ước BVMT
Cũng giống như các hương ước khác, hương ước bảo vệ môi trường (gọi tắt là
hương ước môi trường) do chính người dân là “tác giả”, đồng thời là người thực hiện
và giám sát nhau thực hiện. Trước hết, họ phát hiện và xác định các vấn đề môi trường
tại địa phương mình (có sự đóng góp của các cán bộ chuyên môn), đưa ra phương
hướng giải quyết và văn bản hóa các yêu cầu đối với mỗi người dân của cộng đồng
trong công tác vệ sinh và bảo vệ môi trường.
Những người soạn thảo hương ước tại địa phương là người hiểu hơn ai hết vấn
đề của chính quê hương mình, điều kiện xã hội cụ thể của làng xã cũng như khả năng
thực hiện, một bản hương ước được xây dựng nên có tính hiện thực rất cao, rất sát với
địa phương, phù hợp với các đặc thù về cơ sở vật chất, nếp sống văn hoá, phong tục
tập quán của địa phương mình.
Trước khi trở thành một văn bản chính thức, bản dự thảo sẽ được gửi đến từng
gia đình góp ý rồi cũng nhau tổng hợp lại, bàn bạc, chỉnh sửa và thông qua. Bản hương
ước đã được đồng thuận có sự cam kết bằng chữ ký của các thành viên của cộng đồng
(đơn vị thường là gia đình) và các tổ chức xã hội (chi bộ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ,
hội phụ lão, hội cựu chiến binh, các trường học ở địa phương) có giá trị như các “lệ
làng” thời hiện đại.
Để có sự ràng buộc về mặt pháp lý, các bản hương ước có sự xác nhận của
Chính quyền địa phương (UBND xã, huyện…). Hương ước chỉ bổ sung hoặc thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status