Dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần từ thực tiễn thành phố đà nẵng - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI ĐỨC VŨ

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ BỊ BỆNH TÂM THẦN
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆNHÀN
HÀNLÂM
LÂM
VIỆN
KHOAHỌC
HỌCXÃ
XÃHỘI
HỘIVIỆT
VIỆTNAM
NAM
KHOA
HỌCVIỆN
VIỆNKHOA
KHOAHỌC
HỌCXÃ
XÃHỘI

PHỐĐÀ
ĐÀNẴNG
NẴNG
TỪ

Chuyên
ngành
: CÔNG
TÁC
HỘI
Chuyên
ngành
: CÔNG
TÁC
XÃXÃ
HỘI
: 60.90.01.01
MãMã
số số
: 60.90.01.01

LUẬNVĂN
VĂNTHẠC
THẠCSĨSĨCÔNG
CÔNGTÁC
TÁCXÃ
XÃHỘI
HỘI
LUẬN



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... ..... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ BỊ BỆNH TÂM THẦN .................... 14
1.1. Bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần: khái niệm và đặc điểm
14
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm
thần ................................................................................................................. 18
1.3. Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị
bệnh tâm thần ...............................................................................................................30
1.4. Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh
tâm thần.........................................................................................................................33
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ BỊ BỆNH TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................................. 36
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
36
2.2. Thực trạng bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng ..............................................................................................................................41
2.3.Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
48
2.4. Thực trạng các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội
xuất ngũ bị bệnh tâm thần
58
Chương 3: BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ BỊ BỆNH TÂM THẦN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ....................................................... 66
3.1. Biện pháp về chính sách ............................................................................ 66

: Mobility International USA

Hội đồng Quốc tế về Người khuyết tật.
ILO

: International Labour Organization

Tổ chức Lao động Quốc tế
LĐTBXH

: Lao động – Thương binh và Xã hội.


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng BĐXN bị BTT chia theo địa bàn dân cư ........................ 42
Bảng 2.2. Số BĐXN bị BTT chia theo độ tuổi ............................................... 43
Bảng 2.3. Tình trạng trình độ chuyên môn của BĐXN bị BTT trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 44
Bảng 2.4. Tình trạng việc làm của BĐXN bị BTT ......................................... 45
Bảng 2.5. Hỗ trợ về tiếp dịch y tế đã được nhận ............................................ 49
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ nhận được các hỗ trợ về mặt tâm lý ................... 52
Bảng 2.7. Đánh giá về nhân viên xã hội thực hiện dịch vụ quản lý trường hợp
......................................................................................................................... 56
Bảng 2.8. Đánh giá kết quả dịch vụ hỗ trợ sinh kế ......................................... 57
Bảng 2.9. Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với
BĐXN bị BTT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ............................................ 59
Bảng 2.10. Các đặc điểm của cơ chế, chính sách ảnh hưởng đến dịch vụ
CTXH đối với BĐXN bị BTT ........................................................................ 60
Bảng 2.11. Các đặc điểm của gia đình ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với
BĐXN bị bệnh tâm thần .................................................................................. 61

còn có các chính sách dành cho các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội. Tuy
nhiên, hoạt động công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần vẫn
chưa có điều kiện quan tâm, đầu tư đúng mức, nhiều chương trình, hoạt động
còn mang tính hình thức, đời sống gia đình bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần
chưa phải đã ổn định vững chắc, việc hỗ trợ cho họ trên địa bàn cả nước vẫn
chưa có chính sách dành riêng cho nhóm đối tượng đặc biệt này.
Hiện nay trên địa bàn cả nước vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh
giá về số lượng cũng như đời sống, nhu cầu của nhóm đối tượng bộ đội xuất
ngũ bị bệnh tâm thần. Tuy nhiên, từ năm 2008, thành phố Đà Nẵng đã ban
hành một chính sách riêng có đối với nhóm đối tượng đặc thù này. Theo báo
cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng, trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng hiện có 174 bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần đang
được hưởng chính sách của thành phố. Mặc dầu đã có chính sách riêng có của
1


thành phố cho nhóm đối tượng này, tuy nhiên phần đông đời sống kinh tế - xã
hội của họ và gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, từ năm 2014, triển khai mô hình cơ sở phòng và trị liệu rối
nhiễu tâm trí, hỗ trợ người tâm thần hòa nhập cộng đồng giai đoạn 2014 –
2020 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hỗ trợ tại Đà Nẵng, Trung
tâm Cung cấp dịch vụ công tác xã hội thành phố Đà Nẵng đã bắt đầu hoạt
động quản lý trường hợp và tổ chức cung cấp một số dịch vụ công tác xã hội
dành riêng cho nhóm đối tượng này như cung cấp kỹ năng, kiến thức liên
quan đến chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần cho gia đình và người chăm
sóc, hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm cho một số đối tượng đã ổn định, hỗ trợ
sinh kế cho đối tượng và gia đình nhằm cải thiện đời sống kinh tế. Tuy vậy,
những hoạt động trên vẫn còn mang nặng tính hình thức, chưa được nghiên
cứu một cách khoa học.
Xuất phát từ những lý do trên, gắn với thực tế công tác của bản thân, tôi

nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với người khuyết tật cả ở
phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện.
Tác giả Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu
về những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc
biệt là những quy định của Công ước về quyền của Người khuyết tật trong
việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của người
khuyết tật, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện
trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên
chính thức của Công ước.
Ngoài ra, còn có các đề tài luận văn, luận án ngành luật học nghiên cứu
về vấn đề lý luận và thực tiễn để đảm bảo cho quyền của người khuyết tật
được thực hiện như : “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở
Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Báo năm 2008; “Bảo vệ quyền
3


nhân thân của người lao động dưới góc độ pháp luật lao động” của Đỗ Minh
Nghĩa năm 2012; …
* Các nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo công tác xã hội đối với người
khuyết tật, người tâm thần
Về vấn đề nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo công tác xã hội đối với
người khuyết tật, người tâm thần, chúng ta có thể kể đến một số chương trình
tiêu biểu sau:
Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách
tổng quát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ,
các phương pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với
người khuyết tật, vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết
tật, các kỹ năng làm việc với người khuyết tật. Đây là giáo trình đào tạo Công
tác xã hội ở hệ trung cấp nghề [38].
Hay, tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cũng đã nghiên cứu và

Các nghiên cứu đã dần mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trong vấn đề
thực hành công tác xã hội đối với người khuyết tật, góp phần hoàn thiện hệ
thống lý luận về công tác xã hội đối với người khuyết tật.
* Các hội thảo, dự án liên quan đến việc hỗ trợ cho người khuyết tật,
người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí
Trong những năm qua có nhiều hội thảo, dự án nghiên cứu các hoạt
động hỗ trợ cho người tâm thần được tổ chức. Tiêu biểu một số hội thảo, dự
án như sau:
“Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của
các Hội người khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì vào ngày 10/12/2013. Đây
là hoạt động trong khuôn khổ Dự án về “Tăng cường năng lực đảm bảo các
quyền con người của Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP) tài trợ. Qua quá trình trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm từ thực tiễn của
5


các Hiệp hội người khuyết tật trong toàn quốc đã cho thấy Công ước về quyền
người khuyết tật đã mở ra một cách nhìn nhận, tiếp cận mới của thế giới nói
chung và của Việt Nam nói riêng đối với người khuyết tật. Công ước thúc đẩy
việc bảo đảm người khuyết tật được thụ hưởng các quyền và tự do cơ bản như
tất cả mọi người.
Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật”
được diễn ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội. Hội thảo nhằm giới thiệu dự án
Rights Now!, đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật sau khi
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được phê chuẩn tại Việt
Nam, đồng thời cũng là cơ hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ, kinh nghiệm và
tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì người
khuyết tật Việt Nam trong tương lai. Chương trình do MIUSA (Hội đồng
Quốc tế về người khuyết tật) và Trung tâm ACDC đồng tổ chức.
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết

thực hiện đề tài, tác giả đã có điều kiện tiếp cận các công trình như sau:
- Nguyễn Đình Liêu (1996), Luận án Phó tiến sĩ khoa học luật học:
“Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam - Lý
luận và thực tiễn” [22].
Bên cạnh đó có những nghiên cứu, bài viết có nội dung liên quan đến
đề tài luận văn này, như:
- Nguyễn Văn Thành (1994), Luận án tiến sĩ kinh tế: “Đổi mới chính
sách kinh tế - xã hội đối với người có công ở Việt Nam”[34].
- Đỗ Thị Dung (2010), “Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến
nghị”, Tạp chí Luật học [8, tr.10-17].
- Hoàng Công Thái (2005), “Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối
với người có công”, Tạp chí Quản lý nhà nước, [32, tr 28-31].
- Nguyễn Hiền Phương (2008), “Quan niệm về an sinh xã hội trên thế
giới và ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, [27, tr 45-54].
7


- Lê Thị Hoài Thu (2006), Đề cương bài giảng Pháp luật an sinh xã
hội Việt Nam - chương trình đào tạo sau đại học [35].
* Riêng đối với nhóm đối tượng đặc thù là bộ đội xuất ngũ bị bệnh
tâm thần, như đã trình bày ở trên, hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào
về nhóm đối tượng này, do đó tác giả cũng gặp nhiều khó khăn trong việc
nghiên cứu của mình.
Đối với thành phố Đà Nẵng, qua tìm hiểu đến nay chưa có những
chương trình cũng như đề tài nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với bộ
đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần nhằm đưa ra những khuyến nghị hợp lý và xác
thực để có hướng giúp đỡ nhóm đối tượng này. Vì vậy đề tài mà tôi lựa chọn
là hoàn toàn không bị trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

bệnh tâm thần.
- Phạm vi về địa bàn: nghiên cứu trên 7/7 quận/huyện thuộc thành phố
Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực
trạng về đời sống của bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần, thực trạng của dịch
vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, rút ra được những lý luận và đưa và được những biện pháp để
nâng cao hiệu quả các dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh
tâm thần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử: Đối tượng được nghiên cứu, đánh
giá theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét. Như vậy
những vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu theo
lịch sử, đảm bảo tính sát thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu.
9


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ đối với bộ đội xuất
ngũ bị bệnh tâm thần tại thành phố Đà Nẵng như thế nào, đã tương xứng với
nhu cầu thực tế hay chưa? Thực trạng đời sống kinh tế, xã hội của nhóm đối
tượng bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Nhu
cầu của bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần và gia đình họ gồm những gì? Dùng
các phương pháp sau đây:
* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu là phương pháp sử dụng các
kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài
liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần
thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

điều tra bằng bảng hỏi, các thông tin thu thập được trong quá trình quan sát sẽ
làm cõ sở bổ sung cho các thông tin liên quan ðến vấn ðề cần nghiên cứu. Cụ
thể nhý:
- Quan sát về môi trường sống của bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần,
sinh hoạt hằng ngày của họ;
- Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp của họ với người xung quanh…
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là một phương pháp thu thâp thông tin xã
hội học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi
phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu.
Tác giả đề tài sử dụng phương pháp này để tìm hiểu, thu thập thông tin
chuyên sâu về đánh giá của đối tượng đối với các dịch vụ công tác xã hội
đang được triển khai, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các dịch vụ và
và nhu cầu của họ. Ngoài ra, đề tài còn tiến hành phỏng vấn sâu một số cán
bộ, nhân viên của các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bộ đội xuất
ngũ bị bệnh tâm thần trên địa bàn thành phố.

11


* Phương pháp thống kê toán học
Dùng các phương pháp toán thống kê để tính toán xử lý số liệu thu
được qua nghiên cứu định tính.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể bổ sung cho những kiến thức
chuyên ngành về Dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng đặc thù là
bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần, góp phần tích cực vào công tác chăm sóc bộ
đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần. Đồng thời, những kiến thức thu được từ thực
tiễn được bổ sung sẽ làm phong phú thêm nguồn tham khảo cho việc tìm hiểu


13


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI BỘ ĐỘI XUẤT NGŨ BỊ BỆNH TÂM THẦN
1.1. Bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần: khái niệm và đặc điểm
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm bộ đội
Theo Từ điển tiếng Việt, bộ đội là người làm trong quân đội, là thành
viên thuộc lực lượng vũ trang của Nhà nước, dùng làm công cụ để bảo vệ
Tổ quốc [41].
* Khái niệm bộ đội xuất ngũ
- Theo Pháp lệnh Cựu chiến binh năm 2005, Cựu chiến binh là công
dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ
trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc
tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên,
xuất ngũ, bao gồm [40]:
+ Cán bộ, chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản
Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng Tám năm 1945;
+ Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ đội chủ lực, bộ
đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống
ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế;
+ Cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ
trang trong vùng địch tạm chiếm đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo
vệ Tổ quốc;
+ Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến
đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc;
+ Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam , dân quân, tự vệ đã

giác, tri giác, tư duy, ý thức... bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có
những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với
môi trường xung quanh [19].
15


Trong nghiên cứu này, chỉ đề cập đến một nhóm đối tượng, đó là người
bị tâm thần phân liệt. Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là rối loạn cơ
bản và đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn,
ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được tư duy. Bệnh nhân thường
cảm thấy ý nghĩ của mình hình như bị người khác biết hay lấy bớt, hay ý nghĩ
của mình vang thành tiếng hay bị phát thanh. Cảm thấy có sức mạnh tự nhiên
hay siêu nhiên đang hoạt động làm ảnh hưởng đến ý nghĩ, cảm xúc hay hành
vi của mình. Tri giác thường bị rối loạn theo những cách khác nhau, thường
có những ảo thanh bình luận về bệnh nhân. Nét đặc trưng của cảm xúc là
nông cạn, thất thường hay không thích hợp. Trong một số trường hợp tư duy
trở nên gián đoạn hay thêm từ khi nói hoặc lời nói không thích hợp. Tác
phong có thể trở nên rối loạn trầm trọng, kích động hay sững sờ giữ nguyên tư
thế, tập tính cá nhân có thể biến đổi, trở nên mất thích thú, thiếu mục đích,
lười nhác và cách ly xã hội [26].
Như vậy, có thể hiểu bệnh nhân tâm thần phân liệt là người rối loạn cơ
bản và đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn.
* Khái niệm bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần
Từ các định nghĩa về bộ đội xuất ngũ và người bị bệnh tâm thần, có thể
hiểu BĐXN bị BTT là những người đã từng công tác trong quân đội, có thể là
cựu chiến binh hoặc cựu quân nhân sau khi hoàn thành nghĩa vụ, về với cuộc
sống thường dân thì bị rối loạn cơ bản và đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm
xúc không thích hợp hay cùn mòn.

1.1.2. Biểu hiện tâm lý và nhu cầu của bộ đội xuất ngũ bị bệnh

1.1.2.2. Nhu cầu của bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần
Cũng như mọi người, và đặc biệt là BĐXN - những người có công với
đất nước, rất cần có cuộc sống vật chất, tinh thần đầy đủ và hạnh phúc bên gia
đình, mặt khác họ đã có nhiều cống hiến hy sinh cho đất nước, chịu nhiều
thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ
17


quốc, do đó họ rất cần được mọi người tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ
và động viên để họ vơi đi nỗi đau mất mát người thân và quên đi bệnh tật. Tất
cả bản thân BĐXN đều mong muốn được các cấp chính quyền cũng như các
ban ngành đoàn thể quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần, như: thăm
hỏi, tặng quà, tham quan, nghỉ dưỡng; cải thiện nhà ở, công ăn việc làm, được
tiếp cận các nguồn vốn, được giáo dục truyền thống cho thế hệ sau; chi trả trợ
cấp phụ cấp kịp thời, đầy đủ, … Vì đây là đối tượng đặc biệt, họ hy sinh cả
tuổi xuân, tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và
xây dựng đất nước. Do vậy, nhà nước và cộng đồng xã hội phải có trách
nhiệm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với họ để thể hiện đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam.
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị
bệnh tâm thần
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm dịch vụ xã hội
Dịch vụ xã hội là một lĩnh vực rộng lớn, nhiều khía cạnh, điều này làm
nên sự phong phú về nội hàm của nó.
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng: dịch vụ xã hội là
dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có
vai trò đảm bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người;
là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã
hội dân sự cung ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status