Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bệnh trĩ tại một số bệnh viện tỉnh miền núi phía Bắc - Pdf 38

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trĩ là những cấu trúc bình thường ở ống hậu môn. Bệnh trĩ là tập hợp
những bệnh lý có liên quan đến biến đổi cấu trúc của mạng mạch trĩ và các tổ
chức tiếp xúc với mạng mạch này [26],[70],[77],[89],[104],[120].
Là một trong những bệnh thường gặp ở vùng hậu môn trực tràng.
Trên thế giới, theo J.E Goligher (1984) hơn 50% số người ở độ tuổi trên 50
mắc bệnh trĩ [89], nghiên cứu của S. Riss (2012) công bố tỷ lệ mắc bệnh trĩ
chiếm 39% [114]. Ở Việt Nam, theo thống kê tại phòng khám hậu môn trực
tràng của khoa phẫu thuật tiêu hoá Bệnh viện Việt Đức (tháng 6/19933/1996), bệnh trĩ chiếm 45% tổng số bệnh nhân đến khám [68].
Bệnh trĩ tuy không đe doạ đến sự sống còn, nhưng gây khó chịu, ảnh
hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Chẩn đoán và phân độ bệnh
trĩ tương đối đơn giản dựa vào thăm trực tràng và soi trực tràng ống cứng. Mục
tiêu chính của điều trị bệnh trĩ là giảm thiểu các triệu chứng gây khó chịu và cải
thiện chất lượng sống cho người bệnh. Điều trị bệnh trĩ trên thế giới cũng như ở
Việt Nam có rất nhiều phương pháp: điều chỉnh chế độ ăn uống, chế độ làm
việc, vệ sinh tại chỗ, dùng thuốc đông tây y toàn thân hoặc tại chỗ, các thủ thuật
điều trị trĩ (tiêm xơ, thắt vòng...) cho đến các phương pháp phẫu thuật kinh điển
(Milligan- Morgan, Whitehead...) hay hiện đại (Longo, THD…). Các phương
pháp cắt trĩ kể trên đã được thực hiện nhiều thập kỷ nay nếu chỉ định đúng và
thực hiện đúng kỹ thuật nói chung cho kết quả tốt.
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh trĩ và các
phương pháp phẫu thuật trĩ. Nhưng chủ yếu tập trung tại các trung tâm,
thành phố lớn như bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Trung ương quân đội 108
[20], chỉ có một số báo cáo ngắn thực hiện tại một số bệnh viện đa khoa


2

tỉnh [16], [51], [65]. Điều này cho thấy rằng, bệnh trĩ là một vấn đề sức

2. Ứng dụng quy trình chẩn đoán và phẫu thuật bệnh trĩ tại một số
bệnh viện đa khoa tỉnh miền núi phía Bắc.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu, sinh lý ống hậu môn liên quan đến bệnh trĩ
1.1.1. Giải phẫu ống hậu môn
Ống hậu môn (OHM) hay còn gọi là đoạn trực tràng tầng sinh môn là
phần trực tràng đi ngang qua phần sau của tầng sinh môn. OHM hợp với phần
thấp của trực tràng (bóng trực tràng) một góc 90 0- 1000 chạy xuống dưới ra sau
và đổ ra da qua lỗ hậu môn ở tam giác đáy chậu sau. OHM dài 3- 4 cm, đường
kính khoảng 3 cm, đóng mở chủ động [26],[39], [41], [83].
1.1.1.1. Ống hậu môn
Thuật ngữ OHM (anal canal) được biết đến từ năm 1888 theo mô tả của
Symington [83].
Lòng OHM được phủ bởi lớp biểu mô với cấu trúc thay đổi dần từ
trong ra ngoài, thực chất đây là sự chuyển tiếp giữa niêm mạc trực tràng và
da quanh lỗ hậu môn, bắt đầu bằng lớp tế bào trụ đơn giống biểu mô tuyến
của trực tràng chuyển dần qua biểu mô vuông tầng, lát tầng và kết thúc là
biểu mô giả da ở đoạn cuối cùng của OHM. Bên cạnh sự chuyển tiếp cấu
trúc là sự thay đổi về chức năng sinh lý quan trọng trong lòng OHM [39],
[83], [89], [92].
- Đường lược: là mốc quan trọng trong phẫu thuật hậu môn- trực tràng,
cách rìa hậu môn da khoảng 1,5- 2 cm, đường lược được tạo nên bởi sự tiếp nối
các van hậu môn, xen giữa là các cột trực tràng vì vậy nhìn đường lược có hình
răng cưa. Thuật ngữ “dentate line” theo Fenger được đề cập nhiều trong y văn và
được tổ chức y tế thế giới (WHO) chấp nhận [83].

giữa hai vùng là đường trắng Hilton (1887) hay còn gọi là rãnh liên cơ thắt
có màu xanh lam [41],[63],[83].
Niêm mạc Herman có cấu trúc 3- 6 lớp tế bào, rất giàu các đầu mút thần
kinh là các thụ thể cảm giác tự do (Meissner, Golgi, Paccini, Krauss) rất nhạy
cảm với các tác nhân đau, nóng, lạnh, áp lực và nhận biết tính chất phân (rắn,
lỏng, khí). Do vậy vùng niêm mạc này rất quan trọng trong việc duy trì chức


6

năng sinh lý của OHM. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa của việc bảo tồn,
tránh lấy bỏ toàn bộ vùng niêm mạc này trong các kỹ thuật mổ trĩ [63], [83].
Thomson (1975) khi nghiên cứu lớp niêm mạc lót của OHM đã chứng
minh rằng lớp lót này không phải có bề dày đồng đều mà có những cột dày
(trùng với vị trí các búi trĩ chính), mà tác giả gọi là các đệm hậu môn (anal
cushions), lớp đệm này được tạo bởi các mạch máu giãn, nối thông nhau
trong một mạng các sợi cơ, sợi chun của lớp dưới niêm mạc, giúp cho cơ
tròn bịt chặt hậu môn [77],[83],[103],[120],[124].
Một số tác giả trong đó có Arnaud [74] phân chia các PT điều trị bệnh
trĩ ra làm hai loại dựa trên mốc giải phẫu là đường lược, đó là các PT trĩ tầng
thấp và các PT trĩ tầng cao. Các PT trĩ tầng thấp còn được gọi là PT trĩ
thường qui, đến nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi (PT Milligan Morgan, PT Ferguson,…) can thiệp trực tiếp vào các búi trĩ bao gồm cả vùng
da nhẵn OHM, do đó vấn đề thời sự vẫn là đau sau PT, dễ chảy máu, hẹp
HM…. Đã có nhiều nghiên cứu và nhiều cải biên đề xuất nhằm làm giảm đau
sau PT nhưng vẫn chưa thỏa đáng, cho đến khi các phương pháp PT trĩ trên
đường lược ra đời, điển hình là PT Longo, phẫu PT Longo cải tiến, PT THD
[14], [61], [72], [97], [119]. Sự hiện diện của tế bào biểu mô OHM trong
khoanh niêm mạc trực tràng chứng tỏ có tác động đến vùng nhạy cảm trên
đường lược, đồng thời được xem như yếu tố phản ánh vị trí đường khâu nối
của PT Longo [67].

Hình 1.1. Thiết đồ đứng ngang qua giữa hậu môn trực tràng
(Nguồn: Nguyễn Đình Hối (2002), Hậu môn trực tràng học, Nxb Y học,
Tp Hồ Chí Minh, tr. 5)
1.1.1.2. Mạch máu của hậu môn – trực tràng
Các đệm hậu môn (anal cushions) được cấp máu từ nhánh tận của động
mạch trĩ trên (động mạch trực tràng trên) và một phần của động mạch trĩ giữa.
Những nhánh động mạch này nối với nhau và nối với động mạch trĩ dưới. Các
tĩnh mạch trĩ trên, giữa, dưới nhận máu từ các mô của ống hậu môn tương ứng
với các động mạch trĩ [77].


9

Hình 1.2. Các động mạch của trực tràng và ống hậu môn
(Nguồn: Nguyễn Đình Hối (2002), Hậu môn trực tràng học, Nxb Y học,
Tp Hồ Chí Minh, tr. 15).
Cấu trúc mạch máu trong các mô dưới niêm mạc và dưới da của OHM
gọi là thể hang của trực tràng, tổ chức này ngoài khả năng co giãn còn có
thể chun lại tạo được độ tinh tế trong khả năng tự chủ của hậu môn. Giả
thuyết này có cơ sở ở một số BN sau PT trĩ rối loạn tự chủ của hậu môn, có
thể do bị cắt mất thể hang này [41],[89].
Theo Nguyễn Đình Hối, Durett cho thấy có sự thông thương giữa động –
tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc của OHM và máu ở trĩ là máu động mạch nên
tác giả đưa ra lý thuyết thông động tĩnh mạch góp phần gây bệnh trĩ [26]. Nhận
xét trên lâm sàng là máu chảy trong bệnh trĩ có màu đỏ tươi với hàm lượng
oxy cao [26].


10


Nghiên cứu của Thomson nói đến sự liên thông giữa động mạch và tĩnh
mạch ở mạng mạch trĩ, toàn bộ hệ thống động tĩnh mạch này nằm ở lớp dưới
niêm mạc trong một hệ thống tổ chức thể hang và chịu sự điều khiển của thần
kinh thực vật [120].
Các nghiên cứu khi đề cập đến vùng hậu môn đều cho rằng đây là vùng
có nhiều phản xạ, Lê Quang Nghĩa cho biết Lord khuyến cáo khi nong hậu
môn cần thực hiện một cách nhẹ nhàng và từ từ không thô bạo để có thể tránh
phản xạ gây ngừng tim [41].
1.1.2. Sinh lý ống hậu môn
1.1.2.1. Sự tự chủ hậu môn
Khả năng tự chủ của hậu môn tuỳ thuộc vào một chuỗi quá trình phức
tạp, có quan hệ chặt chẽ với nhau [41],[85].
Hiện nay với những hiểu biết về sinh bệnh học bệnh trĩ, các nhà hậu môn
học công nhận đám rối tĩnh mạch trĩ là trạng thái sinh lý bình thường, tạo nên
lớp đệm ở OHM, giúp kiểm soát sự tự chủ của đại tiện [90],[92], [104],[120],
[124].
Khi phân xuống trực tràng làm tăng áp lực trong bóng trực tràng và kích
thích các bộ phận nhận cảm áp lực để từ đó gây ra các phản xạ giúp tự chủ
hậu môn (phản xạ ức chế và phản xạ bảo vệ).


12

- Phản xạ ức chế: bắt đầu bằng việc cơ thắt trong giãn ra để phân tiếp
xúc với các tế bào nhạy cảm ở phần trên OHM, từ đó cơ thể nhận cảm được
khối lượng và tính chất phân, sự nhận biết này là vô thức.
- Phản xạ bảo vệ: trong khi cơ tròn trong giãn ra thì cơ tròn ngoài vẫn co
thắt không cho phân ra ngoài, khi cơ thể nhận biết được khối lượng, tính chất
phân thì cơ thắt ngoài co thắt mạnh hơn không cho phân ra ngoài, đồng thời
trực tràng giãn ra để thích nghi với khối lượng phân lớn hơn, khi đó áp lực

đến chảy máu, máu đỏ tươi vì đi trực tiếp từ động mạch sang tĩnh mạch.
- Thuyết cơ học: do áp lực rặn trong lúc đại tiện khó khăn (táo bón) các
bộ phận nâng đỡ các tổ chức trĩ bị giãn dần trở nên lỏng lẻo, các búi trĩ (vốn
là bình thường) bị đẩy xuống dưới và dần dần lồi hẳn ra ngoài lỗ hậu môn,
luồng máu tĩnh mạch trở về bị cản trở, trong khi luồng máu từ động mạch vẫn
đưa máu đến vì áp lực cao. Quá trình đó tạo thành vòng luẩn quẩn, lâu dài làm
mức độ sa trĩ càng nặng lên.
Như vậy trĩ là trạng thái sinh lý bình thường, các khoang mạch máu của
lớp dưới niêm mạc OHM thể hiện chức năng vị trí “ngã tư đường” [26]. Khi
một mạch máu bị tắc thì mạng mạch máu này đóng vai trò bù trừ, nhưng sự
bù trừ bị quá ngưỡng sẽ gây ra bệnh trĩ. Những hiểu biết này là nền tảng của
những nguyên tắc trong điều trị bệnh trĩ hiện nay.
1.2. Nghiên cứu về thực trạng chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bệnh trĩ
trên thế giới và Việt Nam
1.2.2. Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về bệnh trĩ. Các nghiên cứu cho
thấy bệnh trĩ là một bệnh khá phổ biến trên các nhóm người, trên các quốc gia
khác nhau, ở những nước phát triển cũng như ở nước đang phát triển.


14

Tại Pháp, J.P. Arnaud và cộng sự tổng kết nghiên cứu 140 bệnh nhân trĩ
được điều trị phẫu thuật bằng phương pháp Longo, trong đó 3 bệnh nhân trĩ
độ 2, 97 bệnh nhân trĩ độ 3 và 40 bệnh nhân trĩ độ 4 [74].
Tại Hàn Quốc nhóm tác giả của bệnh viện Ilsan, Goyang khi nghiên cứu
đánh giá mối liên quan của tổ chức cơ lấy ra từ bệnh phẩm của vòng cắt sau
phẫu thuật Longo với áp lực ống hậu môn trên các bệnh nhân được chẩn đoán
trĩ độ 2, độ 3 và độ 4 [126].
J. Goligher cho rằng có hai triệu chứng chính của trĩ nội là chảy máu và

27,04 (19,03- 46,06).
Soi đại tràng bên cạnh chẩn đoán bệnh trĩ còn góp phần phát hiện thêm
các bệnh lý đi kèm với trĩ vì cùng có dấu hiệu ỉa máu.
Trên thế giới, đã có nhiều tài liệu nói về phẫu thuật điều trị trĩ. Năm
1700 trước công nguyên trong bản giấy cói của người Ai Cập đã nói về điều
trị bệnh trĩ [72]. Hippocrate năm 460 trước công nguyên mô tả điều trị bệnh
trĩ giống như phương pháp thắt vòng cao su ngày nay. Celcus, bác sĩ La Mã
mô tả các biến chứng của thắt và cắt trĩ [72]. Galen cho rằng việc cắt đứt liên
kết của động mạch đến tĩnh mạch có thể giảm đau và tránh lây lan hoại tử
[72]… Các phương pháp PT được nhiều PTV áp dụng hiện nay trên thế giới
cũng như tại Việt Nam được kể đến gồm: PT Milligan –Morgan (1937) [39],
[89], Parks (1956) [77], Ferguson (1959) [77], Toupet (1969) [27], Longo
(1998) [78].
Năm 1937, tại BV Saint Marks ở Anh các tác giả Milligan, Morgan,
Jones và Officer [39],[89] đã mô tả PT trĩ bằng phương pháp MilliganMorgan. Vì thế PT này còn có tên là PT “Bệnh viện Saint Marks” hoặc “Kỹ
thuật người Anh”. Với nguyên tắc cắt riêng biệt từng búi trĩ, để lại cầu da và
niêm mạc, chỉ định cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ ngoại tắc mạch hoặc sa lồi búi trĩ
và tắc nghẹt gây đau đớn phải mổ cấp cứu, hiện được coi là PT cơ bản được
nhiều PTV ứng dụng nhất. Năm 1970, Giáo sư Tôn Thất Tùng quyết định chỉ


16

dùng phương pháp mới này sau khi đọc báo cáo của Arnous (Bệnh viện
Lepold Bellan – Paris) qua trên 3000 ca mổ [24], [26], [41], [52].
- Xuất phát từ nước Anh PT Whitehead do Whitehead công bố năm
1882 với nguyên tắc lấy toàn bộ búi trĩ và niêm mạc OHM bằng bốn đường
rạch dọc theo trục hậu môn, sau đó đính niêm mạc phần trực tràng lành với da
hậu môn, tuy có ưu điểm là rất triệt để nhưng hẹp hậu môn, đại tiện mất tự
chủ, hậu môn luôn tiết dịch lại là mối lo ngại cho các PTV cũng như người bệnh

hành ở Mỹ [28], [77], [89], [90]. Ở Việt Nam, do điều kiện nhiệt đới nên
Nguyễn Mạnh Nhâm chủ trương để vết thương mở hoàn toàn (như Milligan
Morgan) thời gian hậu phẫu sẽ kéo dài có khi tới 8- 10 tuần. Dultsev (Nga)
thực hiện khâu nửa kín (khâu kín nửa trong vết mổ, từ mép hậu môn trở ra thì
để hở) [39]. Wang, Đài Loan, nghiên cứu 88 BN, một nửa cắt trĩ thông
thường theo kỹ thuật Ferguson, một nửa cắt trĩ bằng Laser CO2 phối hợp
Laser Nd:YAG thấy kết quả của nhóm dùng Laser tốt hơn vì dùng thuốc giảm
đau narcotic sau mổ ít hơn (11% so với 56%), tỷ lệ bí đái cũng thấp hơn (7%
so với 39%) [41]. M. Milone (2012) tổng kết PT Ferguson điều trị cho 693
BN trĩ độ III và độ IV tại trường đại học Napoli, Italia từ tháng 9/1998 đến
tháng 7/2009 [106]. Theo tác giả kết quả của PT có thể là tiêu chuẩn để so
sánh giữa PT Ferguson với các PT đang thịnh hành như PT Longo, PT cắt trĩ
bằng dao LigaSure. Tỷ lệ BN đau sau mổ sau PT Ferguson thấp hơn so với
PT Longo, PT cắt trĩ bằng dao LigaSure (thang điểm đau VAS 2,47± 1,1 sau
1 ngày, 1,34 ± 0,7 sau 7 ngày và 0,51± 0,1 sau 2 tuần). Kết quả xa chứng
minh số lượng BN thỏa mãn với kết quả rất cao (624 BN hài lòng sau 2 tuần,
658 BN hài lòng sau 1 năm), tỷ lệ tái phát thấp (7 BN tái phát sau 1 năm, 21
BN tái phát sau 2 năm). Tác giả tin tưởng PT “cắt trĩ kín” Ferguson vẫn được
phát huy và có thể xem như tiêu chuẩn vàng để so sánh với các kỹ thuật khác.
Tháng 6/1998, Longo tác giả người Italia, đã trình bày tổng kết một


18

phương pháp PT để điều trị bệnh trĩ (cho 144 BN từ 1993- 1996), tại Hội nghị
PTNS quốc tế lần thứ 6 ở Rome. Nghiên cứu của Kanellos (2006) [100] cho
thấy điều trị PT theo phương pháp Longo ít đau sau mổ và phục hồi nhanh so
với các biện pháp điều trị PT khác. Nhóm các tác giả tại trường đại học Y
khoa trung tâm ở Hamburg (Đức) [94] nghiên cứu so sánh kết quả xa giữa PT
Milligan Morgan với PT Longo ở 130 BN trĩ vòng độ 3. Kết quả sau 5 năm tỷ

số huyện vùng đồng bằng sông Hồng và một số cụm dân cư thuộc vùng đồng
bằng song Cửu Long cho thấy: tình trạng bệnh lý hay gặp ở BN trĩ là stress
tâm thần (18,96%), táo bón (16,20%), viêm đại tràng co thắt (8,32%), lao
động nặng nhọc (2,55%). Biến chứng chảy máu của trĩ có tần suất cao ở miền
Bắc là vào tháng 9, miền Nam là tháng 5 [34].
Nguyễn Mạnh Nhâm (2004): “Điều tra bệnh trĩ ở miền Bắc Việt Nam:
các biện pháp phòng - điều trị” thực hiện ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Ninh
Bình, Hải Dương, Hà Tĩnh với sự tham gia của các bác sỹ chuyên khoa hậu
môn- trực tràng. Kết quả nghiên cứu cho biết: tỷ lệ mắc trĩ trong cộng đồng là
55%, các triệu chứng cơ năng thường gặp của bệnh trĩ: Sa búi trĩ (89,6%), Ỉa
máu (69,4%), Đau hậu môn (42,3%), Táo bón (80%); Trĩ độ 1 (10,4%), Trĩ độ
2 (51,8%), Trĩ độ 3 (31,8%), Trĩ độ 4 (6%). Nghiên cứu kết luận: Chưa có
biện pháp nào có hiệu quả điều trị trĩ trong cộng đồng do không áp dụng đúng
chỉ định điều trị [40].
Tại bệnh viện Bình Dân (TP Hồ Chí Minh), nghiên cứu của Lê Quang
Nhân điều trị 41 BN trĩ nội độ 3 và trĩ nội độ 4 bằng PT Longo cải tiến.
Nghiên cứu với hai nhóm: nhóm chứng và nhóm nghiên cứu trong thời gian
từ 12/2002 đến 9/2003, qua thăm khám tác giả không đưa và nghiên cứu các
BN đang mang thai, suy tim, xơ gan gây ra trĩ triệu chứng, BN ung thư trực
tràng, ung thư vùng chậu, BN đã có tiền sử tiêm xơ, hẹp hậu môn. Kết quả
nghiên cứu theo tác giả bước đầu là khả quan tuy nhiên cũng phải cần có thời


20

gian nghiên cứu dài hơn với số lượng BN lớn hơn mới đánh giá được đầy đủ
hiệu quả của việc cải tiến PT Longo [42].
Trần Thiện Hòa (2010) “Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ học và lâm
sàng của bệnh trĩ ở người trên 50 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên
cứu khảo sát tại 24 quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2006

chẩn đoán trĩ vòng độ 3 và độ 4 và PT theo phương pháp Longo bằng dụng cụ
KGZ- 32 (Trung Quốc) [17]. Kết quả: Thời gian PT: 15,52 phút, chảy máu
trong mổ phải khâu cầm máu (11,93%). Đau sau mổ: mức độ A (38,53%),
mức độ B (51,85%), mức độ C (9,17%) và mức độ D (2,76%). Thời gian nằm
viện trung bình 3,77± 1,2 ngày.
Các thông báo về PT Longo áp dụng tại tỉnh Sơn La và Hòa Bình của
Trịnh Hồng Sơn và cộng sự [55] cho biết: PTV đều được tập huấn về chỉ
định, kỹ thuật (các bước tiến hành), biết rõ các biến chứng của PT và thực
hiện theo một quy trình thống nhất.
- Phương pháp triệt mạch trĩ có sử dụng Doppler: phương pháp này
được gọi tắt tên tiếng Anh lúc đầu là DG - HAL (Doppler Guided
Haemorrhoid Artery Ligation); về sau do cải biên về phương tiện dụng cụ,
phương

pháp

này

được

gọi



THD

(Transanal

Haemorrhoidal


Mô hình bệnh tật ở các tỉnh miền núi cũng rất đa dạng, đã có nhiều
nghiên cứu [1], [15], [46].
Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Võ Kỳ Anh (1995) “Nghiên cứu mối
liên quan giữa một số yếu tố môi trường sống và tình hình sức khỏe, bệnh
tật ở học sinh tiểu học của một số địa phương miền núi phía Bắc Việt
Nam”. Nghiên cứu tại 4 tỉnh là Tuyên Quang, Hòa Bình, Thái Nguyên và
Yên Bái, tác giả đề xuất kiến nghị: cần có những giải pháp thích hợp, đồng
bộ để triển khai có hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân
dân miền núi [1].


23

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Sơn (2000). Nghiên cứu tại 9 xã thuộc 6
tỉnh miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Hà Giang, Lạng Sơn, Sơn La, Hòa
Bình, Lai Châu), về các yếu tố nguy cơ còi xương dinh dưỡng ở trẻ em dưới 3
tuổi tại một số vùng miền núi phía Bắc và hiệu quả điều trị bằng vitamin D
liều thấp của. Tác giả kết luận: tỷ lệ mắc bệnh còi xương dinh dưỡng của trẻ
em dưới 3 tuổi ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam là 14,4% [46].
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Kim Dung (2003) nghiên cứu tại huyện Sa
Pa (Lao Cai) và Yên Bình (Yên Bái) về chỉ số nhân trắc và chỉ số tỏa nhiệt
của học sinh trung học cơ sở liên quan tới môi trường sống. Tác giả kiến
nghị: “…Nhà nước cần có những chính sách ưu tiên về các mặt cho vùng
sâu, vùng xa, vùng chịu nhiều thiệt thòi để làm giảm bớt sự mất công bằng,
mang lại hạnh phúc cho người dân ở đây nhất là cho các trẻ em, học sinh
miền núi phía Bắc” [15].
Điểm lại đã có nghiên cứu về một số bệnh lý tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc, nhưng chưa thấy bất kỳ một nghiên cứu nào về chẩn đoán và điều
trị các bệnh ngoại khoa đường tiêu hóa thường gặp (trong đó có bệnh trĩ) tại
các tỉnh ở vùng, miền này.

Mổ chấn thương
Mổ cấp cứu
Mổ sản
Mổ chuyên khoa
Cộng

Số lượng đơn vị phòng mổ
Quy mô 1
Quy mô 2
Quy mô 3
250 - 350
400 - 500
Trên 550
giường
giường
giường
01
01
02
01
01
02
01
01
01
01
01
01
01
01

. Quyết định của thủ tướng chính phủ số 186/2001/QĐ-TTg ngày 07
tháng 12 năm 2001 về phát triển kinh tế xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn
miền núi phía Bắc thời kỳ 2001- 2005, trong đó có đoạn: “Phát triển kinh tế
xã hội 6 tỉnh đặc biệt khó khăn vùng núi phía Bắc: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào
Cai, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu thời kỳ 2001- 2005 nhằm phát huy những
tiềm năng, lợi thế về địa lý, đất đai, khí hậu, rừng và khoáng sản,…và tiềm
năng con người trong khu vực; gắn phát triển kinh tế xã hội với thực hiện các
chính sách dân tộc, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo
vệ môi trường sinh thái cho vùng và hạ lưu ở đồng bằng Bắc Bộ; góp phần
giữ vững an ninh quốc phòng” [10].
Tuy vậy, thực tế triển khai những nghị quyết này còn rất nhiều khó khăn.
Về thực trạng chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tại 12 tỉnh miền núi phía
Bắc chúng tôi thống kê được qua niên giám thống kê của Bộ y tế năm 2012
với tổng số BS là 7660, trong đó số BS tuyến tỉnh là 3274 (42,7 %), số lượt
khám bệnh là 18997510, số lượt điều trị nội trú 1638641, số lượt phẫu thuật là
149458 [7]. Tuy nhiên không có thống kê cụ thể về chẩn đoán và điều trị các
bệnh lý ngoại khoa tiêu hóa, trong đó có bệnh trĩ. Do vậy chưa có sự thống
nhất các xét nghiệm thăm dò chẩn đoán trước mổ, GPB và điều trị PT đối với
bệnh lý này. Chính vì vậy để góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh,
việc áp dụng một quy trình cụ thể về chẩn đoán và điều trị bệnh trĩ tại các tỉnh
này là rất cần thiết.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status