LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG KHỐI đoàn kết dân tộc THEO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH ở đắk lắk HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Chữ viết đầy đủ
Bộ chỉ huy quân sự
Cao uỷ Liên hiệp quốc về người tị nạn
Cam - pu - chia
Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa xã hội
Dân tộc thiểu số
Đảng Cộng sản
Đoàn kết dân tộc
Hà Nội

Trang
MỞ ĐẦU
Chương

3
XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY -

1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

11
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết dân
tộc và những vấn đề cơ bản trong xây dựng khối đoàn
kết dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay
1.2 Thực trạng xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư

11

tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay và nguyên nhân
của thực trạng đó
Chương

YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG

2

KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ



1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐKDT, xây dựng khối ĐKDT là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản về mối quan hệ tộc
người, vai trò, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc, lực lượng, con đường, biện pháp
tăng cường hợp tác, gắn bó giữa các tộc người ở Việt Nam; là kết quả sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc, giải quyết vấn đề
dân tộc vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển những truyền
thống xây dựng khối đoàn kết tốt đẹp của dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh soi
đường cho quá trình xây dựng khối ĐKDT của nhân dân ta, là tài sản tinh thần
to lớn của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở, nền tảng lý luận trực tiếp quyết định tính
đúng đắn, khoa học của việc xây dựng khối ĐKDT trên cả nước nói chung ở
Đắk Lắk nói riêng.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc nên xây dựng khối ĐKDT - bộ phận của
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một truyền thống quý báu trong
đấu tranh chống giặc ngoại xâm, khắc phục thiên tai, bảo vệ và xây dựng đất nước; là
nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta.
Thực tiễn đã chứng minh lúc nào khối ĐKDT được xây dựng vững chắc thì lúc đó
đất nước cường thịnh, ngược lại, lúc nào khối ĐKDT bị chia rẽ thì đất nước suy yếu,
thậm chí tiêu vong. Do đó, xây dựng khối ĐKDT nói chung, xây dựng khối ĐKDT
theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi, nơi có số lượng các dân tộc cao nhất cả
nước, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng,
an ninh của khu vực Tây Nguyên. Trong những năm qua, khối ĐKDT ở Đắk
Lắk ngày càng được xây dựng vững chắc, tình hình kinh tế - xã hội đã có những
chuyển biến quan trọng, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc
ngày càng được nâng cao, chính trị ổn định, xã hội từng bước phát triển, quốc


4

biên), Nxb CTQG, H, 1995, các tác giả đã nêu lên quá trình hình thành chiến lược
đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN;
phân tích một số nội dung cơ bản trong chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Bằng
những lập luận khoa học, kết hợp với kiểm chứng của lịch sử các tác giả đã khẳng
định: trong suốt hơn nửa thế kỷ qua tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tư
tưởng của ĐCS Việt Nam, đã thấm vào trong suy nghĩ, hành động của tất cả người
Việt Nam yêu nước và hoá thành sức mạnh, thành động lực phát triển của cả dân
tộc. Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận trong đường lối
chiến lược của Đảng, nguồn sức mạnh vật chất đảm bảo thắng lợi cho cách mạng,
vượt ra khỏi khuôn khổ tư tưởng thuần tuý, thực sự trở thành chiến lược cách mạng
- chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh.
* Về quan điểm, chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc
Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này, trong đó có những
công trình nghiên cứu chuyên sâu:
Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Phan Xuân
Sơn, Lưu Văn Quảng (chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, H, 2006. Các tác giả đã
đưa ra quan niệm về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc; trình bày chính sách
dân tộc, ĐKDT của Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng; nêu lên những vấn đề
nổi cộm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc như: vấn đề đất đai, định
canh, định cư, nghèo đói, y tế và giáo dục, hệ thống chính trị ở vùng DTTS, chống
phá của các thế lực thù địch ở vùng đồng bào DTTS… Đồng thời, đề xuất một số
biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc, ĐKDT hiện nay.
Trong công trình “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam” (2004),
GS. TS Phan Hữu Dật đã đưa ra cách tiếp cận hợp lý về khái niệm dân tộc,
nguồn gốc, quá trình hình thành một số dân tộc ở Việt Nam, đặc điểm kinh tế xã hội của một số vùng dân tộc thiểu số, quan hệ dân tộc ở nước ta… Đây là


6
những vấn đề nghiên cứu góp phần làm cơ sở cho Đảng, Nhà nước ta tham khảo
để hoạch định chính sách dân tộc, xây dựng khối ĐKDT.

Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương Bảy (Khoá IX) tháng 3 năm 2003, lần
đầu tiên Đảng ta ra Nghị quyết chuyên đề “Về công tác dân tộc”, nhằm khẳng
định vị trí vai trò chiến lược cơ bản, lâu dài về vấn đề dân tộc, ĐKDT, thành tựu,
hạn chế công tác dân tộc trong thời gian qua, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ
nguyên nhân của thực trạng đó; đồng thời, xác định những quan điểm, nguyên
tắc, mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện công tác dân tộc trong thời gian tới.
Các công trình khoa học trên đã đề cập đến những khía cạnh, với những
đối tượng, ở phạm vi khác nhau, là những tài liệu quan trọng để tác giả tham
khảo, kế thừa trong nghiên cứu luận văn này. Nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội một cách căn bản, hệ thống ở một
địa bàn cụ thể về vấn đề: Xây dựng khối đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ
Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay. Vì vậy đề tài luận văn không trùng lắp với
các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ
Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT, đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởng
của Người trong xây dựng khối ĐKDT ở tỉnh Đắk Lắk; đề xuất những yêu
cầu, giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí
Minh ở Đắk Lắk hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT.
- Đánh giá thực trạng xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở
Đắk Lắk những năm qua và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất những yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng khối ĐKDT theo
tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay.


8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:

tham khảo và phụ lục.

Chương 1
XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết dân tộc và
những vấn đề cơ bản trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở Đắk Lắk hiện
nay
Ở Việt Nam dân tộc được hiểu theo 2 nghĩa chính:
Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng người hình thành và phát
triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có chung nguồn gốc nhân chủng,
ngôn ngữ, đặc điểm sinh hoạt văn hoá và ý thức tự giác dân tộc.
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ
đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định - quốc gia dân tộc.
Ngoài ra theo Từ điển Tiếng Việt dân tộc còn được nói tắt, với hàm ý chỉ
các DTTS, như chúng ta thường nói ai đó là người dân tộc, quan tâm đồng bào
dân tộc… và ngay cả chính sách dân tộc cũng nhằm chủ yếu hướng đến đối
tượng thụ hưởng là đồng bào các DTTS, người DTTS.
Như vậy, với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận trong quốc gia đa dân
tộc; với nghĩa thứ hai dân tộc bao hàm toàn bộ nhân dân của quốc gia đó. Đề tài
luận văn này tiếp cận vấn đề ĐKDT theo nghĩa đoàn kết các tộc người ở Đắk Lắk.


10
Theo Từ điển Chính trị vắn tắt: Đoàn kết là hợp nhiều người thành một
khối vững chắc, cùng một lòng một dạ nhất trí với nhau; sự ủng hộ các phong
trào, các tổ chức, cá nhân trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thống
nhất; sự phối hợp hoạt động và hành động vì một mục đích chung [48, tr.232].
Trong phạm vi luận văn, tác giả chủ yếu đề cập vấn đề xây dựng khối

phong phú, sinh động, nhiều góc độ, có thể khái quát trên một số vấn đề cơ bản sau:
* Xây dựng khối đoàn kết dân tộc có vai trò rất quan trọng, vừa là mục
tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐKDT có vai trò rất quan trọng. Xuất phát
từ đặc điểm nước ta là một nước gồm nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, lại
chịu tác động của chính sách “chia để trị” của các thế lực thù địch xâm lược, do đó
ngay khi còn hoạt động ở nước ngoài Người đã chỉ rõ: “nguyên nhân đầu tiên gây
ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là SỰ BIỆT LẬP” [20, tr.263].
Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh cách mạng thế giới và trong nước, Người
khẳng định ĐKDT là điều kiện quan trọng để đấu tranh giành độc lập cho dân
tộc: “Hiện thời, muốn đánh Pháp, Nhật ta chỉ cần một điều: toàn dân đoàn kết”
[21, tr.198], trong đó có đoàn kết các dân tộc.
Từ đó, dưới sự chỉ đạo của Người, ĐCS Việt Nam đã ra sức lôi kéo, tập
hợp, động viên nhân dân các dân tộc cả nước đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc
thống nhất, một lòng đi theo Đảng vùng lên đấu tranh giành độc lập hoàn toàn.
Cách mạng tháng Tám thành công đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ
nguyên mới “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Lần đầu tiên nhân
dân các dân tộc Việt Nam từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là kết quả của nhiều nguyên nhân trong đó
có nguyên nhân quan trọng là sự đoàn kết nhất trí của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể


12
nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hoà của mình” [26, tr.283]. Người
cho rằng: “Có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập,
tự do” [22, tr.553], trong khối đoàn kết đó có sự đoàn kết giữa các dân tộc.
Đoàn kết dân tộc có vai trò rất quan trọng, Người viết: “Nhờ sức đoàn kết
tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc

Việt, gắn bó với những truyền thống tốt đẹp lâu đời trong lịch sử đấu tranh dựng
và giữ nước của dân tộc. Qua thời gian và những thử thách cam go, các thế hệ
dân tộc Việt Nam ngày càng sinh sôi, không ngừng khai phá, mở rộng lãnh thổ,
đoàn kết cùng nhau đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, với giặc ngoại xâm
bảo tồn nòi giống, phát triển quốc gia dân tộc. Do đó, trong tư tưởng của mình
về ĐKDT Hồ Chí Minh luôn khẳng định 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt
Nam đều là anh em một nhà, là thành viên không thể chia cắt của đại gia đình
các dân tộc Việt Nam. Trong thư gửi Đại hội các DTTS miền Nam tại Plâycu
ngày 19/4/1946 Người chỉ rõ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,
Giarai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các DTTS khác, đều là con cháu Việt
Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau,
no đói giúp nhau” [24, tr.217].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐKDT phải được xây dựng vững chắc trên
cơ sở những lợi ích chung và vận mệnh của tất cả các dân tộc.
Lợi ích chung là vấn đề cốt lõi, là động cơ, là chất kết dính toàn dân tộc
thành một khối thống nhất cùng đồng tâm, hiệp lực thực hiện những nhiệm vụ
của dân tộc. Lợi ích chung của toàn thể dân tộc Việt Nam là chủ quyền quốc gia,
độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Do thống nhất được những lợi ích cơ bản
đó mà trong hàng ngàn năm lịch sử, các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết keo sơn,
kề vai sát cánh, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững mạnh.
Người nói: “Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do.
Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ” [27, tr.485].
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là Chính phủ chung của các dân
tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam, là cơ sở vật chất, thiết chế quan trọng để


14
hoạch định, thực thi ĐKDT, xây dựng và phát triển đất nước. Hồ Chí Minh khẳng
định:
“Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta.

vận động các dân tộc phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, xây
dựng, củng cố khối ĐKDT; chỉ đạo, tổ chức ra các mặt trận, các hội để tập hợp,
đoàn kết mọi dân tộc không phân biệt già, trẻ, gái, trai, vùng, miền cùng đồng
tâm hiệp lực, chung sức chung lòng, đánh thực dân phong kiến, giành độc lập, tự
do cho dân tộc.
Việt Nam là quốc gia gồm nhiều dân tộc sinh sống, luôn kề vai sát cánh
trong lịch sử dựng và giữ nước; đứng trước âm mưu của kẻ thù luôn tìm cách
thôn tính, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc không phân biệt DTTS hay
dân tộc đa số phải đoàn kết chặt chẽ, yêu thương quý mến nhau như anh em
trong một nhà để cùng nhau đánh giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho toàn thể dân
tộc. Tổ quốc Việt Nam được giải phóng thì các dân tộc trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam mới được giải phóng, vì vậy, đồng bào các dân tộc phải đoàn
kết chặt chẽ tạo sức mạnh to lớn để đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ vững quyền
độc lập cho đất nước và cho các dân tộc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng khối ĐKDT không chỉ để tạo nên
sức mạnh vô địch chiến thắng kẻ thù, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
mà còn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp cách mạng của Đảng:
đưa nước ta trở thành nước XHCN. Bởi theo Hồ Chí Minh, xây dựng khối
ĐKDT là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng, vừa là yêu cầu, là thuộc
tính đặc trưng của CNXH; xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng khác hẳn về
chất so với các xã hội bóc lột trước đó, là xã hội duy nhất có thể đem lại hạnh
phúc, ấm no và tình đoàn kết gắn bó thật sự cho các dân tộc, mọi người dân.
Trong xã hội mới này, các dân tộc cùng có cuộc sống hạnh phúc, đoàn kết, vui
vẻ, không có sự kỳ thị, phân biệt; không còn cảnh dân tộc lớn đè nén, “ăn hiếp”,
áp bức dân tộc bé theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”. Người chỉ rõ: “Đồng bào tất cả
các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải
đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung,


16

giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam mà còn là đội tiên phong, lãnh tụ
chính trị của các dân tộc Việt Nam; mục tiêu, lợi ích của Đảng cũng chính là mục
tiêu, lợi ích của các dân tộc Việt Nam nên xây dựng khối ĐKDT phải đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Người viết: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn kêu gọi các dân
tộc xoá bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt
chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ” [31, tr.587].
Đây chính là nguyên tắc bất di, bất dịch của Hồ Chí Minh trong xây dựng
khối ĐKDT, đảm bảo khối ĐKDT luôn lấy độc lập dân tộc làm ngọn cờ để quy
tụ, lôi cuốn tập hợp lực lượng đông đảo các dân tộc thành một khối vững chắc.
Xây dựng khối ĐKDT phải chặt chẽ, rộng rãi, lâu dài trên cơ sở lợi ích
chung thống nhất của quốc gia và lợi ích của các dân tộc
Lợi ích chung thống nhất của quốc gia dân tộc và lợi ích của các dân tộc
chính là mẫu số chung, là điểm tương đồng, là cái đích để xây dựng khối ĐKDT
vững mạnh, từ đó mà chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích
chung cơ bản.
Trong nhiều bài nói chuyện với đồng bào DTTS các tỉnh miền núi, Hồ Chí
Minh thường nhấn mạnh đến nguyên tắc phải đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi, nhằm
đem lại cuộc sống ấm no cho tất cả các dân tộc. Người thường nhắc: Đồng bào tất
cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải
đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung,
xây dựng CNXH, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc ấm no.
Thực tiễn cho thấy, chỉ khi nào lợi ích chung thống nhất của quốc gia và
lợi ích của các dân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau thì khối ĐKDT mới trở nên bền
chặt. Nguyên tắc này phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân
tộc, trở thành tư tưởng chỉ đạo cho Đảng ta trong xây dựng khối ĐKDT trong
giai đoạn cách mạng hiện nay.


18
Xây dựng khối ĐKDT phải trên cơ sở tôn trọng văn hoá, phong tục, tập

tắc xây dựng khối ĐKDT.
Xây dựng khối ĐKDT phải gắn liền với xây dựng quan hệ dân tộc bình
đẳng, tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, coi nhau như anh em ruột thịt
Trong các bài nói, bài viết của mình Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc
dù đa số hay thiểu số, đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán... đều nên phải
bình đẳng, đoàn kết tôn trọng, giúp đỡ, thương yêu nhau như anh em một nhà.
Người cho rằng để xứng đáng là người chủ tốt thì: Trước hết, tất cả các dân tộc, bất
kỳ lớn hay là nhỏ đều phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em
một nhà. Do đó phải tẩy trừ thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu,
giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà.
Đồng thời, Người cũng thường xuyên nhắc nhở phải kiên quyết đấu tranh
chống mọi hành động phá hoại khối ĐKDT như: khuynh hướng cô độc, hẹp hòi
hoặc đoàn kết một chiều, kỳ thị dân tộc.
Người viết: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong
nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người…Hai bên phải giúp
được lẫn nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân
tộc ít người không nên ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức
làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được” [30, tr.227].
Xuất phát từ tầm quan trọng của ĐKDT, Hồ Chí Minh yêu cầu cần phát
huy lòng yêu nước, tinh thần hăng hái của tất cả mọi người. Đối với các DTTS
vai trò của những người đứng đầu buôn, bản; của các vị già làng, các vị lang đạo
rất quan trọng, do đó thư gửi đồng bào thiểu số tỉnh Thanh Hoá ngày 21/2/1947
của Người có đoạn viết: “Việc dìu dắt đồng bào Thượng du, tôi trông cậy lòng ái
quốc và sự hăng hái của các vị lang đạo” [28, tr.64].


20
Để xây dựng khối ĐKDT thật sự, theo Hồ Chí Minh không phải dùng thủ
đoạn để lừa mị, lôi kéo đồng bào mà phải đoàn kết thật thà, chân thành, chặt chẽ,
không áp đặt, bắt buộc mà phải phát huy dân chủ thật sự. ĐKDT không phải là

là bao biện làm thay” [33, tr.418].
Về văn hoá - xã hội: Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải tôn trọng văn hoá
truyền thống các dân tộc, tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc; tạo điều
kiện phát triển toàn diện đời sống vật chất tinh thần đồng bào DTTS, chú ý phát
triển văn hoá giáo dục nâng cao trình độ học thức cho đồng bào các dân tộc, bãi bỏ
hết những điều hủ tệ cũ; mở mang đường sá, phòng bệnh. Người khẳng định:
“Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hoá của
mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết,
thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em một nhà” [29, tr.496]. Chống áp đặt, coi
thường, miệt thị, kỳ thị văn hoá của các DTTS hoặc những biểu hiện ban ơn, hiềm
khích, phân biệt đối xử trong quan hệ tộc người.
Về quốc phòng - an ninh: theo Hồ Chí Minh, miền núi đối với quốc phòng
rất quan trọng nên phải động viên tập hợp đồng bào các dân tộc tham gia bảo vệ an
ninh quốc phòng, giữ vững biên cương Tổ quốc. Người nhắc nhở: “Toàn thể đồng
bào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ gìn trật tự trị an… ngăn chặn
bọn phản cách mạng âm mưu phá hoại [36, tr.215]. Phải có chủ trương phát triển
vùng dân tộc thiểu số toàn diện để giữ vững quốc phòng, an ninh.
* Xây dựng khối ĐKDT phải xác định rõ lực lượng và phương pháp đoàn
kết
Theo Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước phải luôn tập hợp, đoàn kết đồng
bào tất cả các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển
cao hay thấp trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Đây là lực lượng
to lớn không gì có thể lay chuyển được; nên phải đoàn kết đồng bào tất cả các
dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.


22
Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn
kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn
dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế

định rõ lực lượng và phương pháp đoàn kết.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT là cơ sở khoa học trực
tiếp để Đảng, Nhà nước ta đề ra quan điểm đoàn kết dân tộc và xây dựng khối
ĐKDT vững mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN.
1.1.2. Những vấn đề cơ bản về lý luận trong xây dựng khối đoàn kết
dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay
Đắk Lắk là tỉnh miền núi có vị trí chiến lược về kinh tế - chính trị, quốc
phòng - an ninh ở khu vực Tây Nguyên. Đắk Lắk có 73 km đường biên giới giáp
tỉnh Mon Đun ki ri của Cam Pu Chia, diện tích tự nhiên là 13.125,37km 2. Có 13
huyện, 1 thị xã và 1 thành phố với 184 xã, phường, thị trấn, 2.384 thôn, buôn, tổ
dân phố; có các trục đường Quốc lộ 14, 26, 27 nối liền với các tỉnh Gia Lai, Đăk
Nông, Phú Yên, Khánh Hoà ... Dân số trên 1,7 triệu người, với 45 dân tộc anh em
cùng sinh sống, trong đó DTTS chiếm 32,97% dân số toàn tỉnh; DTTS tại chỗ là
322.031 khẩu với 57.118 hộ, chiếm 18,54% trong tổng số DTTS của tỉnh, trong đó
có 11 dân tộc dưới 10 người, 3 dân tộc chỉ có 1 người (La Hủ, La Ha, Si La) [3].
Đắk Lắk là hình ảnh thu nhỏ của Tây Nguyên nơi có đầy đủ các dân tộc thiểu số
đang sống ở Tây Nguyên và vẫn đang là điểm đến của làn sóng di cư tự do. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng khối ĐKDT ở Đắk Lắk hiện nay.
Đồng bào các dân tộc Đắk Lắk có truyền thống anh hùng, bất khuất trong
đấu tranh chống giặc ngoại xâm giữ đất, bảo vệ buôn làng. Từ sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, nhiều vùng đồng bào dân tộc đã trở thành những căn cứ địa
cách mạng vững chắc như: xã Dliê ya huyện Krông Năng; xã Cư Pui, Cư DRăm,


24
Yang Mao huyện Krông Bông; xã DurKMăn huyện Krông Ana; xã Nam Nung
huyện Krông Nô; xã ĐăkPhơi huyện Lắc; xã Cư Pơng huyện Krông Buk... Đồng
bào các dân tộc ở Đắk Lắk luôn đoàn kết, hết lòng che chở, đùm bọc cách mạng;
có những vùng đồng bào phải nhịn ăn, nhịn mặc, bán trâu bò, mặc khố bằng vỏ cây,

bào các dân tộc vào các hoạt động gây rối, biểu tình, vượt biên trái phép, gây mất an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... làm cho quá trình xây dựng khối ĐKDT ở
Đắk Lắk phần nào gặp khó khăn.
Trong những năm gần đây, khối ĐKDT ở Đắk Lắk tương đối vững chắc,
nhưng vẫn còn những yếu kém, bất cập nhất định, các thế lực thù địch đang ráo
riết lợi dụng những yếu kém, bất cập đó để chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc
trên địa bàn tỉnh.
Từ những vấn đề đó, có thể quan niệm xây dựng khối ĐKDT theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk Lắk hiện nay là toàn bộ hoạt động của hệ thống chính
trị nói chung và nhân dân ở Đắk Lắk nói riêng trong quán triệt, vận dụng, phát
triển sáng tạo và hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối ĐKDT
phù hợp với điều kiện lịch sử, địa lý - tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội và con
người ở đây nhằm củng cố, tăng cường mối liên kết, gắn bó, hợp tác chặt chẽ giữa
đồng bào các dân tộc trên địa bàn Tỉnh thành một khối vững chắc.
Từ quan niệm xây dựng khối ĐKDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Đắk
Lắk hiện nay cho thấy:
Chủ thể tiến hành xây dựng khối đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở
Đắk Lắk hiện nay bao gồm: Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội mà
trực tiếp là hệ thống chính trị và đồng bào các dân tộc của tỉnh, trong đó lực
lượng vũ trang giữ vai trò quan trọng.
Tất cả các dân tộc ở Đắk Lắk vừa là chủ thể vừa là khách thể được tập
hợp vào trong khối ĐKDT, phải khắc phục các tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp
hòi, tự ti, mặc cảm dân tộc để vươn lên nắm bắt khoa học kỹ thuật, tận dụng các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status