Luận văn thạc sĩ triết học “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam hiện nay” - Pdf 44

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đường lối cách mạng Việt Nam, Đảng ta khẳng định: con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đảng chủ
trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững. Quan điểm này đã đặt ra cho quá trình phát triển
nguồn nhân lực ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn, đặc biệt là việc chăm lo giáo
dục thế hệ trẻ, trong đó giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng. Thông qua
giáo dục, con người sẽ học cách điều chỉnh hành vi, hoàn thiện dần nhân
cách. Đặc biệt, đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong việc giáo dục
thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước.
Trong lịch sử phát triển của dân tộc, những giá trị đạo đức truyền thống
đã làm nên cốt cách, tinh thần và sức mạnh Việt Nam. Những giá trị đạo đức
truyền thống tuy mang tính ổn định, bền vững nhưng không phải là nhất
thành, bất biến mà luôn vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của
lịch sử. Khi lịch sử bước sang một thời kỳ mới thì những giá trị đạo đức
truyền thống cũ lại được thẩm định, chắt lọc và đổi mới cho phù hợp. Đồng
thời, những giá trị mới dần được hình thành làm cho hệ thống giá trị truyền
thống của dân tộc ngày càng phong phú.
Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường đòi hỏi
chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc
sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát huy giá trị đạo đức truyền
thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế,
thanh niên, sinh viên đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng
phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những
thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội


2

3

truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ.
Với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên Quảng Nam trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và từ thực trạng giáo dục đạo đức truyền
thống cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng ở Quảng Nam, đề tài xây
dựng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống cho sinh viên Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo
đức.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức và công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên ở Quảng Nam.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận chung về đạo đức và giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên
ở Quảng Nam từ nay đến năm 2020 (dự kiến khảo sát sinh viên từ 3 trường Đại
học Quảng Nam, Trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Quảng Nam và Trường
Cao đẳng Y tế Quảng Nam)
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Triết học duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa tồn tại xã



5

phục vụ hiệu quả việc phát triển con người.
“Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá” của
Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), (2002), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề về giá trị truyền thống
dân tộc và những vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa; việc gìn giữ và phát
huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
“Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa” của TS. Trịnh Duy Huy (2009), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã phân tích tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức, nêu lên
được thực trạng của đạo đức xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường ở nước ta. Qua đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp mang tính định
hướng đối với việc xây đựng đạo đức mới trong điều kiện hiện nay.
“Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”
của TS. Lê Thị Tuyết Ba (2010), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác giả đã
phân tích rõ quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về ý thức đạo đức và vai
trò của ý thức đạo đức; đặc biệt tác giả đã làm rõ những biến đổi của ý thức
đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa ra các giải pháp mang tính
định hướng nhằm xây dựng ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta.
“Mấy vấn đề về đạo đức học Mácxít và xây dựng đạo đức trong điều
kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt
(2012), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. Tác giả đã khẳng định vai
trò to lớn của đạo đức mới trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; làm rõ sự
biến đổi thang giá trị đạo đức dưới tác động của kinh tế thị trường ở Việt
Nam, sự cần thiết phải có những giải pháp mang tính định hướng nhằm xây
dựng đạo đức mới gắn liền với việc đấu tranh chống lại sự thoái hóa biến chất
về đạo đức, lối sống hiện nay.




7

bên trong của sự phát triển đât nước, dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 4; “Vấn
đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường Việt
Nam”(1999) của TS. Lê Thị Tuyết Ba, Tạp chí Triết học, số 1; “Thực trạng
giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp”(2003) của Đặng Thúy Anh, Tạp chí Triết học, số 3;
“Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay” của TS. Lê Thị Tuyết Ba (2003), Tạp chí Triết học, số 10; “Giá trị
đạo đức truyền thống - Động lực tinh thần cho phát triển kinh tế” (2004) của
TS. Lê Thị Tuyết Ba, Kỉ yếu hội thảo Khoa học; “Giáo dục đạo đức cho sinh
viên - yếu tố quan trọng tạo ra sự phát triển bền vững cho xã hội” (2004) của
TS. Trần Hồng Lưu, Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học; “Tác động toàn cầu hoá
đến đạo đức sinh viên hiện nay”(2004) của Võ Minh Tuấn; “Tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay”của PGS.TS. Lê
Hữu Ái, TS. Ngô Văn Hà, TS. Lê Thị Tuyết Ba (2008); “Đạo đức sinh viên
trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay” của Phạm Huy Thành (2010), Tạp chí
Giáo dục lý luận …
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên, từ nhiều góc độ khác
nhau, đã làm sáng tỏ tác động hai mặt của bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế tới sự biến đổi của đạo đức xã hội ở nước ta trong quá trình
đổi mới, đề ra một số phương hướng và giải pháp nâng cao giáo dục giá trị
đạo đức trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu
một cách hệ thống về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở
tỉnh Quảng Nam, đó là lý do tôi chọn đề tài “Giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống cho sinh viên ở Quảng Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của
mình.



9

mà mỗi người phải tuân theo.
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
tư tưởng. Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrát là người đặt nền móng đầu tiên
cho khoa học đạo đức. Tuy nhiên, các nhà triết học phương Tây khi nghiên cứu
về đạo đức lại có cách tiếp cận khác nhau như: Aristốt và Platôn khi nghiên cứu
về đạo đức đã quy đạo đức của con người vào “ý niệm siêu cảm giác” hay “ý
niệm của điều thiện”. Hêghen thì cho rằng đạo đức là biểu hiện của “ý niệm
tuyệt đối” hay quy đạo đức vào tình yêu phổ biến như Phoiơbăc. Đuyrinh cho
rằng đạo đức là cái gì đó bất biến, tồn tại vĩnh cửu …
Các nhà triết học trước Mác kể cả triết học phương Đông và phương Tây
khi bàn về đạo đức đã có những đóng góp nhất định, nhưng nhìn chung đều rơi
vào quan điểm duy tâm. Họ không nhìn thấy đạo đức được hình thành trong mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, đó chính là lao động, chính trong lao động
con người có nhu cầu gắn bó với nhau và chính trong mối quan hệ này con
người ý thức đước rằng cần phải làm gì và không làm gì để phù hợp với những
chuẩn mực của cộng đồng, của xã hội. Hạn chế lớn nhất của các nhà triết học
trước Mác là không nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội,
không thấy được cơ sở kinh tế trong các quan hệ đạo đức xã hội.
Khác với tất cả các quan niệm trước đó, C. Mác và Ph. Ăngghen dựa trên
quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã xây dựng một học thuyết
đạo đức có tính cách mạng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định, đạo đức
nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng: trước khi sáng lập các lý luận và
nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là
sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Xuất phát từ vai trò của
lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người. C. Mác đi



11

điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội,
là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tượng nghiên cứu
của đạo đức học.
Đến nay, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về đạo
đức. Trong Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin của tập thể các nhà khoa học
ở Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên
tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ửng
xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng
được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội” [25, tr.8].
Theo định nghĩa này thì đạo đức có các đặc trưng sau:
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài
người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong
tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức … Đối với đạo đức, sự đánh giá
hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện
thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa.
Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy.
Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi
từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã
hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định.
Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội
hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Những chuẩn
mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai
cấp, dân tộc thừa nhận. Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện
và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.

con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Giá trị đạo đức gắn với nhu cầu điều


13

chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo hướng tạo nên sự thống nhất hài
hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Theo giáo sư Huỳnh Khải Vinh “giá
trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ giữa người –
người với tự nhiên và xã hội (gia đình cộng đồng…) trên tinh thần yêu thương
hay thù hận, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm hãm tài
năng, tự do và hạnh phúc” [66, tr. 60].
Bản thân giá trị đạo đức xét theo chiều dài thời gian có thể phân thành
giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của
mình do lịch sử để lại. Truyền thống là điều kiện để duy trì và phát triển cuộc
sống của cộng đồng. Nó là sản phẩm của quá trình phát triển của mỗi dân tộc.
Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau. Truyền thống dân tộc là
những đức tính, thói quen, những phong tục tập quán được đông đảo thừa
nhận đã trở nên ổn định và ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội từ thế hệ này
nối tiếp thế hệ khác của dân tộc.
Truyền thống vừa mang tính cộng đồng vừa mang tính giai cấp. Trong xã
hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều góp phần mình tạo dựng truyền thống của
dân tộc, quốc gia. Trong truyền thống của mỗi dân tộc có những truyền thống
tốt và cũng có những truyền thống xấu mà tiêu chuẩn đánh giá là nó có đóng
góp vào sự tiến bộ xã hội, có phù hợp với quy luật khách quan hay không.
Nói cách khác, giá trị truyền thống là những truyền thống nào đó đã có sự
đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự
phân định và sự khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng
trong những giai đoạn nhất định.
Giá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm,
những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được truyền từ đời

xâm lược nước ta, hệ giá trị truyền thống lại bị thách thức bởi hệ giá trị của
nền văn minh kỹ thuật phương Tây. Do yêu cầu đấu tranh giành lại và bảo vệ
độc lập dân tộc, các giá trị truyền thống đã có sự biến đổi sâu sắc. Tuy vậy,


15

vẫn có những giá trị tiếp tục được thừa nhận và phát huy, kết hợp với những
giá trị mới phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội. Thực tiễn lịch sử cho thấy
dân tộc nào dung hòa được các giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại, hay
nói cách khác, tìm được phương thức biểu hiện mới của giá trị truyền thống
trong thời hiện đại thì sẽ phát triển. Các giá trị truyền thống phải biến đổi phù
hợp với tinh thần thời đại. Trong quá trình biến đổi đó, các giá trị đạo đức
truyền thống được chắt lọc, được kết hợp với các giá trị hiện đại tạo nên một
hệ giá trị mới mang tinh thần thời đại nhưng lại có những đặc điểm riêng của
dân tộc. Từ khi lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hoá dân tộc,
đại chúng, hiện đại, tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Việc xác định các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam đã được nhiều
người, nhất là các nhà khoa học quan tâm. Giáo sư Trần Văn Giàu nhấn mạnh
bảy nội dung: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người,
vì nghĩa” [24, tr.94].
Giáo sư Nguyễn Hồng Phong cho rằng: "tính cách dân tộc gần như là tất
cả nội dung của giá trị đạo đức truyền thống bao gồm: tính tập thể - cộng
đồng, trọng đạo đức, cần kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất
khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, lạc quan” [59, tr.453-454].
Giáo sư Vũ Khiêu chủ biên công trình Đạo đức mới cho rằng: “trong
những truyền thống quý báu của dân tộc nổi bật lên nhất là truyền thống đạo
đức và khẳng định truyền thống đạo đức cao đẹp của dân tộc ta gồm: lòng yêu
nước, truyền thống đoàn kết, lao động, cần cù, sáng tạo; tinh thần nhân đạo,

Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ lợi ích của
Tổ quốc và nhân dân. Tình yêu là tình cảm phổ biến của nhân dân các dân tộc
trên thế giới. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “chủ nghĩa yêu nước là một trong
những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng năm, hàng nghìn năm


18

tồn tại của các tổ quốc biệt lập” [38, tr.226]. Song sự hình thành sớm hay
muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy thuộc vào
điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc.
Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa đến nay. Lòng
yêu nước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình
- làng xã - Tổ quốc. Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên
trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương, đất nước, sẵn sàng chống đô hộ và
xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc.
Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nước không chỉ là một tình cảm tự
nhiên, mà nó còn là sản phẩm của lịch sử được hun đúc từ chính lịch sử đau
thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam. Lịch sử mấy nghìn năm của dân
tộc Việt Nan là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ nền độc lập tử tay kẻ thù
xâm lược. Chính vì vậy, tinh thần yêu nước đã ngầm sâu vào tình cảm, vào tư
tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sức
mạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác
cho dù chúng có hùng mạnh đến đây. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh tổng kết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền
thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh
thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó
lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ
cướp nước” [52, tr.171].

nước, công việc kháng chiến” [ 52, tr.38-39].
Theo Giáo sư Trần Văn Giàu,“tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình
cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam" và “chủ
nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại
đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam biểu độ đầy đủ và tập trung nhất, hơn
bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của


20

người Việt Nam.” [24, tr.100-101].
Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành, thử thách và
khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, nó đã được bổ sung và phát triển
qua từng thời kỳ là một trong những giá trị truyền thống cao quý và bền vững
nhất của dân tộc ta.
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với
lòng thương yêu, quý trọng con người nhất là người lao động. Điều dễ nhận
thấy về biểu hiện lòng nhân ái của dân tộc ta được bắt nguồn từ một chữ
“tình” - Trong gia đình đó là tình cảm đối với đấng sinh thành “Công cha như
núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình anh em “như
thể tay chân”, tình nghĩa vợ chồng “đầu gối, tay ấp”; rộng hơn là tình làng
xóm láng giềng và bao trùm hơn cả là tình yêu thương đồng loại “Nhiễu điều
phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng” … Lòng
yêu thương và sống có nghĩa tình còn được biểu hiện trong sự tương trợ, giúp
đỡ nhau; sự khoan dung, vị tha dành cho cả những người đã từng lầm đường
lạc lối biết lấy công chuộc tội. Không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày,
tình yêu thương, sự khoan dung, độ lượng với con người của dân tộc Việt
Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong các bộ luật của Nhà
nước; đồng thời là cơ sở của tinh thần yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị
với các dân tộc trên thế giới. Trong lịch sử, nhân dân ta luôn đề cao và coi

như chiến đấu, tinh thần đoàn kết dân tộc bền chặt càng được đề cao và đã trở
thành một triết lý nhân sinh sâu sắc.
Tinh thần đoàn kết bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là biểu hiện của
chủ nghĩa yêu nước. Nhờ đoàn kết cha ông ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp
của cả cộng đồng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết là điều
kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm. Đoàn
kết đã giúp cho nhân dân ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên
nhiên, phát triển sản xuất để phục vụ cuốc sống. Cha ông ta đã nhận thức sâu


22

sắc rằng “đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”; “một cây làm chẳng nên non, ba
cay chụm lại thang hòn núi cao”. Tinh thần đoàn kết toàn dân là nguồn sức
mạnh to lớn để nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Ý thức công đồng, tinh thần đoàn kết của nhân dân ta là một điểm tựa
tinh thần vững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân
tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công,
thành công, đại thành công” [56, tr.607].
Trong 87 năm qua kể từ khi có Đảng lãnh đạo, thực tiễn cách mạng Việt
Nam thêm một lần nữa đã thể hiện sức sống kỳ diệu và chứng minh chân lý
đúng đắn về sức mạnh vĩ đại của tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó
chính là mạch nguồn thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.
Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống
của dân tộc ta, được hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội
trong lịch sử dân tộc. Cần cù là biểu hiện thái độ của con người trong hoạt
động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và các mặt hoạt động khác của con
người. Nó là kết quả và điều kiện không thể thiếu được trong quá trình tồn tại
và phát triển của xã hội loài người. Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù,

Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống có từ bao đời của
nhân dân ta, nó vừa là điều kiện đảm bảo nhu cầu sống của con người, vừa là
sự thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của mình. Với đức tính cần cù và tiết kiệm, dân tộc Việt
Nam đã không chỉ đứng vững mà còn từng bước khẳng định vai trò, vị thế của
mình trong khu vực và trên thế giới.
Truyền thống hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ nhiều thế
hệ là một trong những giá trị truyền thống dân tộc, nó luôn được kế thừa phát
huy. Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,


24

hiện đại hóa.
Hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ
xưa tới nay. Ngay từ rất sớm con người đã nhận thức được học hành không
chỉ là quyền lợi mà còn nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Người xưa từng nói:
“Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (ngọc không mài dũa
thì không thành đồ dùng được, người không học thì không biết đạo).
Lịch sử khoa bảng của dân tộc còn lưu danh những tấm gương sáng ngời
về ý chí và tinh thần ham học: Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, theo học nơi
cửa chùa, đã trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta khi
mới 13 tuổi. Mạc Đĩnh Chi vì nhà nghèo không thể đến lớp, chỉ đứng ngoài
nghe thầy giảng, đêm đến phải học dưới ánh sáng của con đom đóm trong vỏ
trứng, đã đỗ trạng nguyên và trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trung Hoa
và Đại Việt). Đó còn là những tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài đáng
kính: Nhà giáo Chu Văn An, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lương Thế
Vinh, nhà bác học Lê Quý Đôn …; là tinh thần của nghị lực phi thường vươn
lên trở thành nhà giáo ưu tú - Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký … Sự hiếu học,

1.2. VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY
1.2.1. Quan niệm về giáo dục đạo đức
Giáo dục là khái niệm cơ bản quan trọng trong các khoa học nghiên cứu
về con người. Theo Từ điển Tiếng Việt (Trang 345 NXB Đà Nẵng - Viện
Ngôn ngữ học) thì: Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ
thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho
đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất, năng lực theo yêu cầu.
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của giáo dục, là quá trình chuyển hóa
những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức
nhân cách cho mỗi người, hình thành ở mỗi người thái độ đúng đắn trong giao
tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status