luận văn thạc sỹ triết học Một số giá trị đạo đức trong triết học phật giáo và những định hướng vận dụng trong việc xây dựng đạo đức cho người việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

--------------------------------------

ĐOÀ N NAM CHUNG

MỘT SỐ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

VÀ NHỮNGĐỊNH HƢỚNG VẬN DỤNG TRONG VIỆC XÂY DƢ̣NG
ĐẠO ĐỨC CHO NGƢỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. Phạm Công Nhất

HÀ NỘI - 2009


2
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU

1

Chương 1: Giá trị đạo đức và những cơ sở hình thành các giá
trị đạo đức trong triết học Phật giáo

96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

98


3
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Phâ ̣t giáo là mô ̣t trào lưu triế t ho ̣c tôn giáo xuấ t hiê ̣n vào cuố i thế kỷ
VI
trước công nguyên ở miề n B ắc Ấn Độ . Trong hê ̣ thố ng tư tưởng của Phâ ̣t giáo
có chứa đựng nhiều nộ i dung, nhưng những đặc sắc nhất vẫn là các giá trị về
đạo đức, về nhân sinh. Phâ ̣t giáo khuyên con người làm điề u thiê ̣n và cố tìm
cách tạo cho con người những phương tiện để thực hiện điều thiện , tìm cách
giải thoát cho con người k hỏi đau khổ, cứu vớt cho con người khỏi những lầ m
lạc bằng hoạt động, bằ ng ý thức… của chính bản thân.
Phâ ̣t giáo đươ ̣c truyề n vào Viê ̣t Nam vào những năm đầ u công nguyên , và
đă ̣c biê ̣t, sự du nhâ ̣p này không phải do sự cưỡng chế của chính quyề n đô hô ̣
mà qua giao lưu buôn bán - nó đến bằng con đường hòa bình . Những giáo lý
của Phật giáo v ề bình đẳng , bác ái , cứu khổ , cứu na ̣n rấ t gầ n gũi với triế t lý
nhân sinh của người dân Viê ̣t Nam - được chấ p nhâ ̣n theo phương thức “tiế p
biế n văn hóa”.
Từ khi đế n Viê ̣t Nam cho tới nay , Phâ ̣t giáo luôn có mô ̣t vi ̣trí đă ̣c biê ̣t
trong đời số ng tinh thầ n của người Viê ̣t . Phâ ̣t giáo khi được truyền đến Việt
Nam và được bắ t đầ u vớ i các sinh hoạt đời thường của nhân dân và có lúc trở
thành hệ tư tưởng chủ đạo khi được giai cấ p cầ m quyề n tro ̣ng du ̣ng , cho đến
khi không còn ở vi ̣trí đó thì nó vẫn tồ n ta ̣i trong đời số ng tinh thầ n của nhân
dân. Có thể dễ d àng nhận thấ y rằ ng , ngay từ buổ i bình minh , Phâ ̣t giáo đã tim

những giá trị đạo đức của Phật giáo. Từ đó, xây dựng con người Viê ̣t Nam hoàn
thiện về tư tưởng đa ̣o đức , tâm hồ n , tình cảm, lố i số ng… nhằm xây dựng môi
trường văn hóa lành ma ̣nh cho sự phát triể n xã hô ̣i . Đứng trên lập trường triết
học mác - xít để nghiên cứu những giá trị đạo đức Phâ ̣t giáo từ đó chỉ ra những
yế u tố tích cực và cả những mă ̣t ha ̣n chế của nó trong sự ảnh hưởng đế
n đời
số ng đạo đức cho người Việt Nam hiê ̣n nay là viê ̣c làm cầ n thiế t . Với ý nghiã
đó, tôi cho ̣n vấ n đề : “ Một số giá trị đạo đức trong triết học Phật giáo và
những định hướng vận dụng trong việc xây dựng đạo đức cho người Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay ” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành triế t
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu triết học Phật giáo, đặc biệt là những giá trị đạo đức trong triết
học Phật giáo là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
Có thể kể tới một số công trình và kết quả nghiên cứu tiêu biểu sau:
Fundamentals of Buddhism (Nền tảng của đạo Phật) - của tác giả Peter D.
Santina, năm 1984. Cuốn sách được Thích Tâm Quang dịch sang tiếng Việt
năm 1996. Trong cuốn sách này tác giả trình bày 12 bài giảng về lịch sử ra đời
của đạo Phật, những giáo lý căn bản nhất của đạo Phật như: Tứ diệu đế, Lý
nhân duyên, Nghiệp, Ngũ uẩn,… Tác giả xuất phát từ quan niệm của một phật
tử ở phương Tây có hiểu biết sâu sắc phần giáo lý nên khi trình bày, tác giả cố
gắng làm rõ từng nội dung trong quan niệm nhân sinh của đạo Phật nguyên
thuỷ.
Việt nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, NXB Văn học, Hà Nội
1992. Tác giả đã phân tích các vấn đề Phật học then chốt và ảnh hưởng của nó
trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam một cách tự nhiên như “nước
thấm lòng đất”.
Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam
hiện nay do tác giả Nguyễn Tài Thư chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1997. Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào các khái niêm từ, bi,

Nam hiện nay. Luận án tiến sỹ triết học, Hà Nội, năm 2003 của Tạ Chí Hồng.
Tác giả nghiên cứu về đạo đức Phật giáo tìm ra sự ảnh hưởng của nó trong đời
sống đạo đức xã hội Việt Nam truyền thống và hiện nay.
Nhìn chung các công trình trên của các tác giả đã nghiên cứu một cách có
hệ thống về triết học Phật giáo và khía cạnh đạo đức trong triết học Phật giáo
cùng với việc xây dựng một nền đạo đức cho người Việt Nam. Mặc dù, ở góc
độ này hay góc độ khác các tác giả đã có những hướng đi riêng để đạt được
mục đích của mình song có thể nói chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
những giá trị đạo đức trong triết học Phật giáo và những định hướng vận dụng
trong việc xây dựng đạo đức cho người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay một
cách có hệ thống. Đó là khoảng trống khoa học mà luận văn này hướng tới để
góp phần khoả lấp.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ một số giá trị đạo đức
trong triết học Phật giáo đối với vấn đề đạo đức ở nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
Một là, nghiên cứu và làm sáng tỏ một số giá trị đạo đức trong triết học
Phật giáo.
Hai là, phân tích những ảnh hưởng (tích cực và tiêu cực) của nó đối với
vấn đề xây dựng đạo đức của người Việt Nam trong quá trình đổi mới hiện nay.
Ba là, bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích
cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo đối với vấn đề đạo
đức ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


6
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống những quan điểm về giá trị
đạo đức trong triết học Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đến vấn đề xây
dựng đạo đức của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1.1. QUAN NIỆM CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC

1.1.1. Đạo đức.
Theo Từ điển tiếng Việt: Đạo đức là những nguyên lý phải theo trong
quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội, tuỳ theo yêu cầu của
chế độ chính trị và kinh tế nhất định. Đạo đức không sinh ra từ mảnh đất trống
không của lịch sử, mà được nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả
của quá trình hoạt động thực tiễn của con người trong lịch sử. Những quan
niệm đạo đức đầu tiên được hình thành từ rất sớm trong lịch sử của xã hội loài
người. Tuỳ thuộc vào các giai đoạn lịch sử và cách tiếp cận khác nhau mà các
vấn đề đạo đức được hiểu theo những nghĩa khác nhau. Ở phương Đông cổ đại,
người Trung Quốc đã đưa ra nhiều học thuyết về đạo đức được biểu hiện trong
quan niệm về “đạo” và “đức” của họ. “Đạo” trong tiếng Hán có nghĩa là đường
đi, con đường. Khái niệm “đức” lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà
Chu Trung Quốc và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng
nhiều. “Đức” dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung “đức” là sự
biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Theo quan niệm của
người Trung Quốc cổ đại thì đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do
cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.(Trong tiếng Việt: đạo là lẽ phải,
đức là điều tốt lành).
Ở phương Tây, ngay từ thời cổ đại đã có nhiều nhà triết học đưa ra
nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề đạo đức. Trong số đó, Xôcrát (469 – 399
tr.CN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học. Về sau
Arixtôt (384 – 322 tr.CN) đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người và cho
ra đời bộ sách đạo đức học. Nội dung phẩm hạnh con người theo Arixtôt chính
là ở chỗ con người biết định hướng đúng, biết làm việc thiện. Epiquya (341279 tr.CN) là nhà triết học rất quan tâm đến vấn đề đạo đức. Ông là người đầu


8
tiên đưa ra phạm trù lẽ sống và là một trong những người có công luận giải về

Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết đạo đức đã có
từ truớc đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”.
Nói cách khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, do tồn tại xã hội sinh
ra và phản ánh tồn tại xã hội, cho nên nội dung của các giá trị đạo đức không
đứng yên mà luôn vận động biến đổi cùng với sự biến đổi của cái đã sinh ra nó.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức cũng mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp đều có
những quan niệm về đạo đức riêng, phản ánh những quan hệ thực tiễn đang làm
cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức những quan hệ kinh tế mà trong đó,
người ta tiến hành sản xuất và trao đổi. Theo Ăngghen, cho đến nay “không có
đạo đức nào là chân chính cả, nếu nói theo ý nghĩa tuyệt đối cuối cùng” của nó.
Song, Ph.Ăngghen cũng không hề phủ nhận giá trị của các học thuyết đạo đức
đối với sự phát triển xã hội mà ông còn cho rằng đối với đạo đức cũng như đối
với tất cả các ngành tri thức khác của nhân loại, nói chung người ta thấy có một
sự tiến bộ, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, trong tất cả các
học thuyết về đạo đức, có học thuyết chỉ có giá trị thúc đảy sự tiến bộ xã hội ở
một thời điểm nhất định nào đó, nhưng cũng có những học thuyết đạo đức có
thể có giá trị lâu dài đối với sự phát triển xã hội.
Thật vậy, trong đạo Phật, tất cả những lời dạy của Đức Phật được lưu
truyền cho đến nay đều liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề đạo đức nói
cách khác đó có thể coi là một học thuyết về đạo đức. Và học thuyết về Đạo
đức của Phật giáo là một trong những học thuyết như thế.
1.1.2. Giá trị đạo đức.
Theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ giá trị được hiểu với nhiều nghĩa. Liên
quan đến chủ đề luận văn, thuật ngữ “giá trị” được hiểu là những quan niệm và
thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của xã hội: ta vẫn duy trì các giá trị đạo
đức của con người qua các thời đại. Giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có
thể hiểu nó là cái mà do nó đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa,
đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận. Theo tác giả Nguyễn Văn
Huyên “Giá trị là một phạm trù người. Chỉ trong con người mới có cái gọi là


tiếp với tồn tại xã hội, quyết định sự tồn tại của xã hội loài người, vì vậy giá trị


11
vật chất cũng liên quan mật thiết với các lĩnh vực chính trị, pháp quyền, thiết
chế xã hội… còn giá trị tinh thần mặc dù “vượt thoát” hiện thực nhưng không
phải vì thế mà xa rời hiện thực mà trái lại nó hướng tới một xã hội nhân văn, xã
hội mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đang mong tới.
Trong các giá trị tinh thần, người ta thường đề cập đến các loại giá trị
như: giá trị khoa học (giá trị nhận thức, cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính
nghĩa, cái cách mạng), giá trị tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh thiện), giá trị
đạo đức (cái thiện và cái ác)…. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang tính
tương đối. Trong phạm vi luận văn, tác giả xin góp phần làm rõ thế nào là “giá
trị đạo đức” và “giá trị đạo đức Phật giáo”.
Trong hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội thì giá trị đạo
đức là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó là những chuẩn mực những khuôn
mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi của
con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Vì vậy, giá trị đạo đức được đánh giá
là: “có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình, dư
luận biểu dương. Giá trị đạo đức vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã
hội” [38, tr.51]. Theo Giáo sư Huỳnh Khái Vinh: “giá trị đạo đức biểu hiện
những chuẩn mực quy định mối quan hệ giữa người với người, giữa người với
giới tự nhiên và xã hội (gia đình, cộng đồng…) trên tinh thần yêu thương hay
thù hận, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm hãm tài năng, tự
do và hạnh phúc” [65, tr.60].
Còn giá trị đạo đức Phật giáo được hiểu là sự kết hợp giữa giá trị đạo đức
và giá trị tôn giáo, là sự kết hợp giữa chuẩn mực đạo đức, những khuôn mẫu lý
tưởng những quy tắc ứng xử với niềm tin tôn giáo (sự thiêng liêng, sự thánh
thiện) nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi của con người trên cơ sở tự
nguyện, tự giác tuân theo “Giới luật”, luôn chú ý những điều nên làm và không

nhiên kỷ thứ III trước công nguyên. Theo tài liệu khảo cổ học thời kỳ này
người ta đã biết sử dụng công cụ bằng kim loại. Nghề gốm, làm đồ trang sức,
trạm trổ trên đá phát triển. Nhiều di tích của cung điện, nhà hai tầng, bể bơi,
cống ngầm khá hoàn bị. Có nhiều dấu hiệu của chữ viết, các đơn vị đo lường…
Chứng tỏ Ấn Độ có nền văn minh sớm so với các nơi khác trên thế giới.


13
Khoảng cuối thiên nhiên kỷ thứ II trước công nguyên, người Aryan là dân
du mục ở Trung Á tràn xuống bán đảo Ấn Độ đồng hoá dân bản địa Đravidien.
Cuộc chiến tranh kéo dài, khốc liệt đã hình thành các khúc hát (Veda) phản ánh
đời sống xã hội, tình cảm nguyện vọng của con người trước cuộc sống chết
chóc, điêu linh, khổ cực. Tuyển tập Veda đã trở thành nguồn suối tư tưởng của
Ấn Độ. Các trường phái Triết học, Tôn giáo đều bắt nguồn từ Veda.
Đến trước Thiên nhiên kỷ I tr. CN lực lượng sản xuất phát triển mạnh
dẫn đến sự phân hoá giai cấp trong xã hội. Sự phân chia dân cư thành bốn đẳng
cấp với quyền lợi địa vị khác nhau phản ánh mâu thuẫn giai cấp gay gắt trong
xã hội, nhưng lại được giải thích như là ý chí, sự sắp đặt của đấng sáng tạo tối
cao theo tôn giáo đương thời. Bốn đắng cấp đó là:
Thứ nhất, đẳng cấp Brahman-na (Bàlamôn) gồm: tăng lữ hay tu sĩ những
người chuyên làm công việc cúng tế thần, chuyên nghiệp cứu giảng dạy thánh
kinh, họ nắm quyền thống trị về mặt tinh thần, chiến địa vị cao nhất trong xã
hội Ấn Độ. Đẳng cấp này có những đặc quyền đặc vị to lớn, được tôn làm
"Thần của nhân gian".
Thứ hai, đẳng cấp Kshatriya (Sát đế lợi) gồm: vua chúa, vương công,
tướng lĩnh, võ sĩ; họ nắm giữ quyền thống trị về mặt kinh tế, xã hội, cai trị và
thâu tóm ruộng đất và được coi là người bảo hộ của nhân dân.
Thứ ba, đẳng cấp Vaishya (Vệ xá) gồm: thương nhân, điền chủ, và
những người trong nghề thủ công. Đẳng cấp này là lực lượng chính tạo ra của
cải vật chất cho xã hội và có nghĩa vụ phải nộp thuế.

nghĩa là “người thực hiện được mục đích”), con trai của Suddhodana (Tịnh
Phạn), vua một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ (nay thuộc đất Nêpan). Vì muốn tìm
cách giải thoát nhân loại khỏi sự khổ đau trong vòng luân hồi, Siddhàta đã bỏ
gia đình, đi tu. Khi đã “giác ngộ”, có nghĩa là khi đã phát hiện được nguyên
nhân của nỗi khổ đau nhân thế và cách dứt bỏ nó, Ngài lấy hiệu là Buddha.
Người ta còn gọi Ông là Sakya-muni (Trung Quốc dịch là Thích Ca Mâu Ni),
có nghĩa là “nhà hiền triết của xứ Sakya”. Người ta không biết rõ đích xác năm
sinh của Buddha, nhưng theo truyền thống, Ngài được coi là sinh vào năm 623
tr. CN, sống khoảng 80 năm. Sau khi Ngài chết, các học trò của Ngài đã tiếp


15
tục phát triển tư tưởng của Ngài, xây dựng thành một hệ thống tôn giáo - triết
học lớn, có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ, và từ đó, lan ra nhiều vùng của thế giới.
Đạo Phật với luật lệ, lễ nghi đơn giản, giáo lý sâu sắc, nêu lên khả năng
chế ngự dục vọng, vai trò tự giải thoát của con người, sự bình đẳng của con
người với con người... nên được đông đảo quần chúng tin theo. Sau khi Phật
tịch diệt khoảng hai thế kỷ, dưới thời vua A Dục, vào thế kỷ III tr.CN, Phật
giáo đã lan rộng khắp Ấn Độ. Phật giáo ở Ấn Độ tiếp tục phát triển cho đến
thời vua Gúp Ta, sau đó Phật giáo không giữ được vai trò như trước nữa và dần
dần phải nhường chỗ cho một tôn giáo mới: Ấn Độ giáo - một tôn giáo kết hợp
giữa đạo Bàlamôn và một số tín ngưỡng dân gian, trong đó có một số yếu tố
của Phật giáo. Từ thế kỷ VIII trở đi, Hồi giáo xâm nhập vào Ấn Độ làm cho
Phật giáo bị suy tàn dần.
Tuy vậy, Phật giáo vẫn phát triển sang các nước ngoài Ấn Độ một cách
nhanh chóng theo hai hướng: xuống phía Nam (gồm các nước như Mianma,
Lào, Campuchia, Nam Việt Nam...) gọi là Phật giáo Nam Tông (Tiểu thừa).
Kinh điển chủ yếu ghi bằng chữ Pali. Phái Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): tự tu, tự
chứng, tự giác với phương châm "Hãy làm ngọn đèn cho chính bản thân mình",
thiên về cá nhân hơn, theo giáo lý nguyên thuỷ, chỉ thờ Phật Thích ca Mâu ni;

chức và chủ trì Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc lần thứ V - 2008 với chủ đề
chính: "Sự đóng góp của Phật giáo trong quá trình xây dựng một xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh" [67, tr.20].
1.2.1.2. Vài nét về tình hình Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
+ Đặc điểm Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo là tôn giáo lớn thế giới được truyền vào sớm nhất và cũng là tôn
giáo có đông tín đồ nhất ở Việt Nam (trên 10 triệu tín đồ). Vào Việt Nam, Phật
giáo lại có đặc điểm khá đặc thù không hoàn toàn giống Phật giáo Ấn Độ và
Phật giáo Trung Quốc, như:
Phật giáo vào Việt Nam mang đậm nét tính chất dân gian. Từ khi mới du
nhập vào Việt Nam, một mặt Phật giáo tìm cách hoà đồng với các tôn giáo khác


17
như: Nho giáo và Đạo giáo, mặt khác nó còn kết hợp để hoà trộn với các tín
ngưỡng dân gian của người Việt. Phật giáo ở Việt Nam được đặt cạnh và đồng
nhất với các mẫu. Nghi lễ thờ cúng và rước xách các bà dâu - với tư cách là
Phật là nghi lễ có tính chất dân gian, vừa uy nghi vừa rộn ràng náo nhiệt. Tín
đồ thì có tín đồ thực thụ (nhà tu hành) và tín đồ quần chúng (các phật tử). Tư
tưởng từ bi, hỉ, xả của đạo Phật được diễn giải một cách dân gian là sự cứu khổ,
cứu nạn.
Phật giáo Việt Nam mang tính thống nhất nhưng không thuần nhất. Nếu ở
Ấn Độ và Trung Quốc, các môn phái được phân biệt rất rõ ràng vì ở đó các nhà
tu hành rất chú ý đến giáo lý thì trái lại, ở Việt Nam các nhà tu hành chủ yếu
chú ý đến hành động và mục đích cứu độ chúng sinh của Phật giáo nên sự phân
biệt giữa các môn phái không rõ nét. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo
Việt nam chỉ là một, họ còn đồng nhất một cách đơn giản giữa Phật giáo với
phái Thiền tông. Các phật tử thì chỉ tuyên bố quy Phật chứ không quan tâm đến
phái nào.
Tuy nhiên, Phật giáo không thuần nhất, vì ở mỗi giai đoạn lịch sử với

Đây là thời kỳ mà đạo Phật được truyền bá khá rộng rãi vào Việt Nam. Đặc
biệt, đã xuất hiện nhà sư Việt Nam có danh tiếng (như: Huệ Thắng (giữa thế kỷ
thư V); Thích Đạo Thiền (457-583)). Hai nhà sư này đã từng được mời sang
Trung Quốc thuyết pháp và đã có những đóng góp nhất định vào quá trình lịch
sử phát triển Phật giáo ở Trung Quốc.
Thời kỳ từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ X, ở thời kỳ này vẫn được coi là quá
trình truyền giáo. Đây là thời kỳ Phật giáo ở Việt nam đã phát triển khá mạnh.
Vai trò truyền giáo của các nhà sư Ấn Độ giảm, Phật giáo từ Trung Quốc
truyền vào nước ta tăng lên, đặc biệt là phái Thiền.
Nhà sư Ấn Độ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci, 580-594) là tổ thứ ba của
phái Thiền Trung Quốc vào nước ta tu tại chùa Pháp Vân (Bắc Ninh) và trở
thành sư tổ của phái Thiền Việt Nam, phái này truyền được 18 đời với 29 vị sư
tổ, kể từ người đầu tiên là Pháp Hiển (năm 626) đến người cuối cùng là Y Sơn
(năm 1216) [67, tr.76].


19
Phái thiền Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 820, truyền
qua 15 đời với 40 vị sư tổ, kể từ người đầu tiên là Cảm Thành (năm 860) đến
người cuối cùng là Ứng Vương (năm 1287) [67, tr.77].
Đến thế kỷ thứ X, sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, nước nhà được độc lập,
nhà Đinh và tiền Lê đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển. Đinh Tiên Hoàng
đã triệu tập các tăng già để định rõ phẩm trật và mời tham gia triều chính. Lê
Đại Hành đã cử phái đoàn sang Trung Quốc thỉnh kinh. Có thể nói dưới triều
đại Đinh và tiền Lê các nhà sư (Ngô Chân Lưu, Khuông Việt Thái sư, Đỗ
Thuận…) đã được trọng dụng, phong thưởng cho công lao giúp việc triều
chính.
Phật giáo thời Lý - Trần (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV). Đây là thời kỳ cực
thịnh của Phật giáo ở Việt Nam và cũng là hai triều đại phong kiến bền vững và
hưng thịnh nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến nước ta. Ở đó, Phật giáo

nay vẫn chưa có thống kê về các đời sư tổ và số lượng các thiền sư của cả hai
phái trên. Ngoài ra, ở Đàng Ngoài còn có phái Thiền Lâm Tông do thiền sư
Trịnh Lập (1696-1773) lập ra dưới thời vua Lê Hy Tông (1675-1705), nhưng
không mở rộng được ảnh hưởng.
Bước sang thế kỷ XIX, một mặt bị Nho giáo lấn át, mặt khác thực dân
Pháp ráo riết truyền bá Thiên Chúa giáo vào Việt Nam đã làm cho Phật giáo bị
suy yếu thêm. Song đến đầu thế kỷ XX, một số nhà tu hành cùng các nhân sĩ có
tinh thần dân tộc đã vận động “chấn hưng Phật giáo”. Các cơ sở đào tạo và các
tổ chức Phật giáo được hình thành.
Ở miền Nam, năm 1930, nhà sư Khánh Hoà lập “Hội Nam Kỳ nghiên cứu
Phật học”. Năm 1951 ông Mai Thọ Truyền tổ chức lại hội đó và đổi tên là “Hội
Phật học Việt Nam” và cũng trong năm này thì “Hội tăng già Việt Nam” được
thành lập.
Ở miền Trung, năm 1932 lập “An Nam Phật học”. Năm 1949 lập “Hội
tăng già Trung Việt”
Ở miền Bắc, “Hội Phật giáo Bắc Kỳ” do ông Nguyễn Đăng Quốc lập
năm 1949.


21
Tại Huế, năm 1951, thành lập “Tổng hội Phật giáo Việt Nam”, thực dân
Pháp định lợi dụng Phật giáo, nhưng đại đa số Phật tử đều giữ nguyên truyền
thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, tu hành theo Sơn môn Tông phái.
Trong kháng chiến chống Pháp, Phật giáo cũng đã đóng góp nhiều sức
người, sức của. Nhiều đại biểu Phật giáo tham gia mặt trận Việt Minh, Liên
Việt, nhiều nhà chùa là cơ sở che dấu, hội họp cho cán bộ kháng chiến tổ chức
“Phật giáo cứu nước” thu hút phần lớn tăng ni, Phật tử đấu tranh chống Pháp.
Từ năm 1945 đến năm 1975, đất nước ta bị chia cắt làm hai miền. Miền
Bắc được giải phóng, năm 1958, “Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam” được
thành lập, quy tụ giới Phật giáo miền Bắc thành một tổ chức thống nhất vừa

đạo công tác tôn giáo. Nhất là từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, với những
chủ trương mới, tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng cũng được khởi sắc.
Nhiều chùa tháp được xây dựng, kinh sách được phép in ấn, nhiều cơ sở đào
tạo được mở rộng. Các tín đồ Phật giáo phấn khởi hơn, có thể nói ít nhiều đã
vui phần đạo, yên phần đời.
Hiện nay nhiều chức sắc Phật giáo là thành phần tích cực của Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận
nhỏ trong phật giáo bị lợi dụng nên cũng ít nhiều gây nên sự phức tạp về mặt
chính trị - xã hội trong một số năm vừa qua, đặc biệt là ở phía Nam.
1.2.2. Tƣ tƣởng về “Giải thoát” và lý luận về “Tứ diệu đế”.
Phật giáo là một hệ thống triết học - tôn giáo ra đời ở một quốc gia đất
rộng, người đông nằm ở miền Nam Châu Á với lịch sử lâu đời - là một trong
những nơi có nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Ý nghĩa cao
cả của Phật giáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng cũng như sự dụng
tâm của các học thuyết khác là chỉ ra mục đích sống và ý nghĩa của cuộc đời
con người. Từ đó chỉ ra con đường để con người nói riêng và chúng sinh nói
chung tự giải thoát khỏi “vạn sự khổ”. Tuy nhiên, khi Phật giáo cho cuộc đời là
“vạn sự khổ” thì đó không phải là cái nhìn bi quan mà đơn thuần chỉ là một
nhận định. Bởi theo tinh thần của Phật giáo thì cái khổ nằm ở cái hữu ngã, cũng
có nghĩa là con người bằng ý thức của cái “Ta” hoặc cái “Tôi” thấy những điều


23
khó chịu đựng ấy là khổ và cái khổ đó của con người là do vô minh mà ra, bao
giờ diệt hết vô minh là hết khổ. Như vậy, muốn thực hiện hoài bão “diệt hết vô
minh” thì trên nền tảng đạo đức - Phật giáo đã đưa ra tư tưởng về “giải thoát”
và lý luận về “Tứ diệu đế” giúp con người có được niềm tin vào cuộc sống, xác
định được cái ý nghĩa đích thực của nhân sinh.
1.2.2.1. Tư tưởng về “Giải thoát”
Các trường phái triết học ở Ấn Độ cổ đại chú trọng vào các lĩnh vực kinh

của từng người. Nếu ai tu dưỡng rèn luyện tốt thì nhanh chóng giác ngộ, giải
thoát. Phật Thích Ca dạy các đệ tử: “Hãy tự mình là ngọn đèn soi sáng cho
mình, hãy tự tạo cho mình một chỗ nương tựa và đừng nương tựa vào ai khác
ngoài bản thân mình. Hãy cầm vững ngọn đèn chân lý. Hãy nương tựa vững
chắc vào ngọn đèn chân lý, cũng đừng tựa vào những gì ngoài chân lý. Phải
coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời” [67, tr.52].
Ngay trong phần Diệt đế (Nirodha), Đức Phật cũng nói về mục tiêu tối
hậu của Phật là giải thoát cho con người thoát khỏi nỗi khổ, thoát khỏi luân hồi,
để đạt tới trạng thái Niết bàn. Theo chữ Phạn, Niết bàn gồm hai phần, “Nir” và
“Vâna”. Trong đó “Nir” - một hình thức phủ định được hiểu là không còn
“Vâna” có nghĩa là ái dục. Cho nên “Đã diệt trừ lòng tham, đã diệt trừ lòng
nóng giận, oán giận, diệt trừ si mê (vô minh), đó là Niết bàn” (Kinh Tạp A
Hàm) [7, tr.86]. Ở một đoạn kinh khác, Đức Phật lại nói “Dứt được lòng vị kỷ,
thì chứng được cảnh giới Niết bàn”. Theo Tôn giáo từ điển: “Niết bàn là một
thế giới tinh thần sau khi đã tiêu diệt được luân hồi sinh tử” [12, tr.899]. Song
những điều mà chúng ta định nghĩa về Niết bàn chỉ có thề làm rõ mặt này hay
mặt kia của Niết bàn mà thôi. Vì chúng ta đã đem cái ý niệm nhị nguyên, tương
đối, còn có sự phân biệt vật - ta, vô - hữu, sinh - diệt vào giải thích một trạng
thái tuyệt đối, đó là: Trạng thái diệt trừ mọi danh sắc, cảm giác, ý thức, ý niệm;
trạng thái diệt mọi ái dục, vô vi, thanh, tịnh, vắng lạng, không vọng động, tịch
diệt, bất tử, an lạc, hoàn thiện, vĩnh hằng…. Có thể nói, Niết bàn là cảnh giới
siêu thời gian và không gian, là cảnh giới an lạc, giác ngộ và giải thoát của bậc
giác ngộ trong đạo Phật. Chúng ta không thể dùng tư duy và ngôn ngữ để định


25
nghĩa hay mô tả trực tiếp Niết bàn được mà phải bằng chính sự chứng ngộ, trực
giác.
Vấn đề cơ bản là phải thấy rằng: Niết bàn chỉ do chính ta tự thấy mà
thôi. Con người phải thấu hiểu về những khổ đau và tự thực hành việc loại trừ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status