BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
BỘ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------------------------------TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------------------------
HOÀNG THỊ THU HẰNG
HOÀNG THỊ THU HẰNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH
XÂY
THÔN
PHÂN
TÍCH VÀ
ĐỀDỰNG
XUẤTNÔNG
MỘT SỐ
GIẢIMỚI
PHÁP
Ở
HUYỆN
LẠC
THUỶ,
TỈNH
HOÀ
BÌNH
ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HOÀ BÌNH
Ở HUYỆN LẠC THUỶ, TỈNH HOÀ BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI - 2013
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thu Hằng
i
LỜI CẢM ƠN
HTX: Hợp tác xã
KT: Kinh tế
KD: Kinh doanh
LĐ: Lao động
MTQG: Mục tiêu quốc gia
NTM: Nông thôn mới
QH: Quy hoạch
SX: Sản xuất
THCS: Trung học cơ sở
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
THPT: Trung học phổ thông
TTTT: Thông tin tuyên truyền
UBND: Uỷ ban nhân dân
VH: Văn hoá
XD: Xây dựng
XH: Xã hội
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Đánh giá mức độ hoàn thành nhóm tiêu chí về Hạ tầng KT- XH
Bảng 2.2. Đánh giá mức độ hoàn thành nhóm tiêu chí Kinh tế và tổ chức SX
Bảng 2.3. Đánh giá mức độ hoàn thành nhóm tiêu chí VH- XH- MT
Bảng 2.4. Đánh giá mức độ hoàn thành nhóm tiêu chí Hệ thống chính trị
Bảng 3.1. Giải pháp thực hiện QH xây dựng NTM trong giai đoạn 2010-2020 của
huyện Lạc Thủy
Bảng 3.2. Giải pháp xây dựng và thực hiện các DATP
Bảng 3.3. Nội dung mục tiêu các tiêu chí về hạ tầng KT kỹ thuật
độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn
lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào
tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách
thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán;
năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và
ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
lao động ở nông thôn...
Nhằm khắc phục những tồn tại, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phát triển nông
thôn, BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW (2008)
1
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong đó xác định mục tiêu tổng quát
trong thời gian tới là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư
nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn
nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước
tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM. Xây dựng
nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo
vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng NTM có
kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao,
môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo
của Ðảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công
nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT - XH và chính trị vững chắc
cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
[2]
Mặc dù các văn bản về chương trình xây dựng NTM đã được ban hành, hướng
của Đảng và Nhà nước về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM mang lại
cho tỉnh Hòa Bình nói chung và huyện Lạc Thuỷ nói riêng, mục đích của luận văn
là đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xây
dựng NTM ở huyện Lạc Thuỷ.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích đánh giá thực trạng xây dựng NTM trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ,
tỉnh Hoà Bình.
- Đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng NTM huyện
Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là công tác xây dựng NTM, các giải pháp xây dựng
NTM của huyện áp dụng trên địa bàn, các nội dung trong giải pháp xây dựng NTM
3
và tiến độ thực hiện các nội dung đó ở một số xã thuộc huyện Lạc Thủy. Chủ thể
nghiên cứu của đề tài bao gồm các hộ nông dân, cán bộ các cấp, các tổ chức đoàn
thể thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về không gian: Huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
+ Phạm vi về thời gian
Nguồn số liệu thu thập phục vụ cho việc nghiên cứu trong 3 năm từ 2010 đến
2012.
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 11 năm
2013.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để xem xét vấn đề một cách khách quan, sát thực tiễn, luận văn vận dụng
phép biện chứng của triết học Mác xít, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Trên cơ sở đó, luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể của
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm cơ bản về NTM và xây dựng NTM
1.1.1. Khái niệm nông thôn
Hiện nay, trên thế giới định nghĩa về nông thôn chưa được đưa ra một cách
chuẩn xác nhất, vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho
rằng nông thôn được định nghĩa dựa vào tiêu chí trình độ phát triển của cơ sở hạ
tầng, có nghĩa nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô
thị. Có quan điểm lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu mức độ tiếp cận thị trường, phát
triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ SX
hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với vùng đô thị là thấp hơn. Cũng có
quan điểm định nghĩa vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ
yếu, tức nguồn sinh kế chính trong vùng là từ SX nông nghiệp. Ở Việt Nam, nông
thôn là bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người,
mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%,
tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên...[1]
Theo đó, ta có thể thấy khái niệm nông thôn chỉ mang tính tương đối, có thể
thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triển KT- XH của các quốc gia trên thế
giới. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhìn nhận từ góc độ quản lí, có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập
hợp dân cư này tham gia vào hoạt động KT- VH- XH và môi trường trong một thể
chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.”[1]
* Đặc điểm của nông thôn:
- Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc chung của cộng đồng dân cư, hoạt
động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.
- Cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa
còn thấp so với thành thị (do diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn).
6
7
Thứ ba, quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của
người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn
và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Thư tư, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp,
chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế.
Xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với
thành thị.
NTM giai đoạn 2010-2020 khác với nông thôn truyền thống và bao gồm các
đặc trưng sau: (1) Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông
thôn được nâng cao; (2) Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh
tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; (3) Dân trí được nâng cao, bản
sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; (4) Chất lượng hệ thống chính trị
được nâng cao; (5) Quy chế dân chủ được phát huy; (6) An ninh chính trị được giữ
vững.
1.1.3. Mục tiêu xây dụng NTM và bộ tiêu chí quốc gia về NTM
1.1.3.1 Mục tiêu xây dựng NTM
- Mục tiêu chung
Tùy từng nước, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể, người ta đặt ra các mục tiêu
cần đạt được khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung của xây dựng NTM hướng là
hướng tới một xã hội phát triển cao, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ; ...
Ở Việt Nam, theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, mục tiêu được xác định là
xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện.
Tiêu chí thứ 3: Thủy lợi
9
Khi địa phương có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu SX và dân sinh; có
từ 50% trở lên km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa thì địa phương
đó được đánh giá là đạt được tiêu chí về thủy lợi.
Tiêu chí thứ 4: Điện
Một địa phương có hệ thống điện đảm bảo kỹ thuật của ngành điện và có từ
95% trở lên tỷ lệ hộ dân sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn là địa
phương đã đạt được tiêu chí về điện nông thôn.
Tiêu chí thứ 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS của địa phương
có cơ sơ vật chất đạt chuẩn quốc gia từ 70% trở lên là đạt tiêu chí.
Tiêu chí thứ 6: Cơ sở vật chất VH
Để đạt được tiêu chí này, địa phương cần xây dựng nhà văn hóa và khu thể thao
xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT- DL; đảm bảo 100% số thôn xóm trên địa bàn có nhà văn
hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH- TT-DL.
Tiêu chí thứ 7: Chợ nông thôn
Địa phương cần phải có chợ đạt chuẩn Bộ XD thì mới được coi là đạt được tiêu
chí về chợ nông thôn.
Tiêu chí thứ 8: Bưu điện
Địa phương có điểm phục vụ bưu chính viễn thông và có Internet đến các thôn
thì đạt tiêu chí về bưu điện văn hóa xã.
Tiêu chí thứ 9: Nhà ở dân cư
Để đạt được tiêu chí về nhà ở dân cư, địa phương phải đảm bảo trên địa bàn không
có nhà tạm, dột nát và có từ 75% trở lên số hộ có nhà đạt tiêu chuẩn của Bộ XD.
Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất
động phát triển MT xanh- sạch- đẹp; 4) Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; 5)
Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
Nhóm 5: Hệ thống chính trị và an ninh XH
Tiêu chí thứ 18: Hệ thống tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh
Địa phương có đội ngũ cán bộ xã đạt chuẩn; có đủ các tổ chức hệ thống chính
trị cơ sở theo quy định; các tổ chức chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên;
11
Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” là địa phương đã đạt
tiêu chí 18- Hệ thống tổ chức chính trị, XH vững mạnh.
Tiêu chí thứ 19: An ninh, trật tự xã hội
Đảm bảo an ninh trật tự XH trên địa bàn được giữ vững là địa phương đã đạt
tiêu chí an ninh, trật tự XH.
1.2. Nội dung xây dựng NTM
Xây dựng NTM là công cuộc lâu dài, từng bước tạo ra vùng nông thôn có
kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân được nâng cao; nông
thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng KT- XH hiện đại, môi trường
sinh thái được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn
và phát huy. Theo chương trình MTQG, xây dựng NTM gồm 11 nội dung:
1.2.1. Quy hoạch xây dựng NTM.
Nội dung quy hoạch xây dựng NTM bao gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển SX nông nghiệp
hàng hóa, công nghiệp, TTCN và dịch vụ;
- Quy hoạch phát triển hạ tầng KT- XH- MT, phát triển các khu dân cư hiện
có trên địa bàn xã.
1.2.2. Phát triển hạ tầng KT- XH.
Nội dung phát triển hạ tầng KT- XH bao gồm: 1) Hoàn thiện đường giao
thông đến trụ sở UBND xã và hệ thống GTNT trên địa bàn xã; 2) Hoàn thiện hệ
thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ SX và sinh hoạt trên địa bàn
Tiếp tục thực hiện chương trình MTQG về GD- ĐT, đáp ứng yêu cầu của Bộ
tiêu chí quốc gia NTM.
1.2.7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn.
Tiếp tục thực hiện chương trình MTQG về y tế, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu
chí quốc gia NTM.
1.2.8. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn.
Nội dung này bao gồm: 1) Tiếp tục thực hiện MTQG NTM về văn hóa, đáp
ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia NTM; 2) Thực hiện thông tin, truyền thông nông
thôn.
1.2.9. Cấp nước sạch và đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn.
13
Nội dung này bao gồm: 1) Tiếp tục thực hiện chương trình MTQG về nước
sạch và vệ sinh nông thôn; 2) Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn
trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu
thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom xử lí rác thải ở các xã;
chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư,…
1.2.10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính
trị- xã hội trên địa bàn.
Nội dung này bao gồm: 1) Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định
của Bộ nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM; 2) Ban hành chính sách khuyến
khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, nhất là
các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội
ngũ cán bộ ở các vùng này; 3) Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động
của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng NTM.
1.2.11. Giữ vững an ninh, trật tự XH nông thôn.
Nội dung này bao gồm: 1) Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự an
ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; 2) Điều chỉnh và bổ sung
chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lực lượng an ninh xã, thôn,
sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư hệ thống thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng
cho thâm canh… để tăng hiệu quả sản xuất. Có các chính sách ưu tiên đầu tư kinh
phí khuyến nông trung ương và địa phương để xây dựng mô hình, tập huấn kỹ
thuật; chính sách về hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản… Đặc biệt xuyên
suốt là việc Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TU ngày
05/8/2008 về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Việc triển khai thực hiện
Chương trình MTQG về XD NTM được xem như là chương trình hành động để
thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TU.
1.3.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của địa phương
Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của mỗi địa phương đều có tính đặc thù
riêng. Nó có thể mang những điểm thuận lợi cho công tác xây dựng NTM, mặt khác
nó cũng tiềm ẩn những khó khăn, hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
15
Địa hình vùng đồng bằng hay trung du miền núi; điều kiện tự nhiên thuận lợi
hay khó khăn cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, thương mại…; xuất
phát điểm của nền kinh tế; trình độ dân trí, mức sống của người dân của mỗi địa
phương đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến công tác xây dựng NTM. Vấn đề
đặt ra là phải có cách để phát huy mặt tích cực và kìm chế mặt tiêu cực của từng yếu
tố.
1.3.4. Mức độ quan tâm, khả năng thực hiện xây dựng NTM của chính
quyền địa phương
Chính quyền địa phương là người trực tiếp tổ chức thực hiện xây dựng
NTM. Chính vì vậy, hơn ai hết, các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương phải là
người nhận thức rõ về chương trình MTQG XD NTM. Đây là một chương trình có
tầm quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần cải thiện, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho người dân địa bàn nông thôn.
đó, rút ra được những kinh nghiệm sau đây:
(1) Khoan thư sức dân để huy động đóng góp lâu dài tạo hiệu quả xây dựng
NTM bền vững.
Lãnh đạo UBND xã đã xác định rõ hai nguyên tắc về huy động dân đóng
góp.
Thứ nhất, việc xây dựng NTM là quá trình lâu dài nên không thể vội vàng
huy động một lúc tối đa mọi nguồn lực. Vì vậy, lãnh đạo các xã và nhân dân cùng
nhau bàn bạc xem việc gì, công trình gì cần làm trước, cần triển khai ngay thì đồng
thuận đóng góp cùng làm. Làm gì phải rõ ràng, công khai từng việc, từng phần với
dân để dân thấy rõ hiệu quả đóng góp, lấy chữ tín cho lần sau.
Thứ hai, xác định rõ điều kiện kinh tế của từng đối tượng đóng góp để họ có
thể tham gia đóng góp nhưng không ảnh hưởng quá lớn đến cuộc sống hiện tại.
Nói cách khác, nguyên tắc đóng góp của Hải Hậu là bảo đảm dân chủ và
biết phát huy nội lực để giữ sức lâu dài. Xây dựng NTM, xác định trọng điểm nhất
là vận động nhân dân, để nhân dân đồng tình hưởng ứng. Có những việc chạm đến
quyền lợi nhân dân, nên không làm tốt công tác tư tưởng thì không thành công
được. Ban chỉ đạo xây dựng NTM của huyện đã tổ chức nhiều hội nghị để quán
17
triệt, tuyên truyền các văn bản và 19 tiêu chí về xây dựng NTM. Một mặt, vận động
nhân dân trong các xã hăng hái tham gia.
(2) Sức mạnh từ sự công khai minh bạch
Nguồn lực huy động từ nhân dân là yếu tố chính để tạo ra sự đổi thay rõ nét
thực hiện các tiêu chí NTM. Thực tế, thu nhập, mức sống của người dân địa phương
chưa cao, việc đóng góp kinh phí trước mắt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kinh tế gia
đình các hộ, nhất là các hộ nghèo, cận nghèo, thậm chí cả hộ trung bình. Chính vì
vậy, việc làm đầu tiên của lãnh đạo, Ban chỉ đạo xây dựng NTM các xã là không
phải đưa ra mức đóng góp bao nhiêu với mỗi hộ, mỗi khẩu mà là xây dựng tư tưởng
để người dân thấy rõ lợi ích đi đôi với nghĩa vụ, xây dựng NTM là vì nhân dân.
Nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của các xã NTM là phải hoàn thiện quy hoạch đất
đai. Nam Định đang tập trung chỉ đạo vào công tác dồn điền, đổi thửa. Hiện nay, đất
các hộ gia đình đang canh tác manh mún, nhỏ lẻ nhiều mảnh. Có dồn điền, đổi thửa
được thì mới tập trung được quỹ đất công để đưa vào sử dụng, xây dựng những
trang trại, những công trình phúc lợi… Chỉ riêng việc quy hoạch và xây dựng hệ
thống đường ra đồng, bãi đã khiến dân trong xã thấy phấn khởi vì công việc đồng
áng sẽ thuận lợi, tạo điều kiện cho sản xuất.
(4) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động
Điểm mấu chốt xây dựng NTM là phải giải quyết được tiêu chí cơ cấu lao
động nông thôn, bởi nó quyết định đến thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo. Xã đã tổ chức
các lớp dạy nghề, tập huấn các chương trình khuyến nông, khuyến công… Các địa
phương chú trọng phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp làm đa
dạng bộ mặt sản xuất. Hiện nay, nhiều hộ gia đình mạnh dạn chuyển sang đầu tư mô
hình chăn nuôi, trồng trọt mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phát triển kinh tế hộ gia
đình đã phát huy được những nguồn lực hiện có, tạo điều kiện giúp đỡ, học hỏi kinh
nghiệm lẫn nhau.
Chính quyền các xã cũng thay đổi tư duy cùng bà con. Để tạo công ăn việc
làm cho lớp trẻ, xã mời gọi trung tâm dạy nghề, trung tâm khuyến công, các doanh
nghiệp mở lớp dạy nghề cho hàng trăm người đều là con em trong xã. Điều này là
cả một vấn đề về cơ chế chính sách và là nghệ thuật của từng địa phương. Mỗi địa
19