BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
LƯU THỊ HÒA NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA HUYỆN QUỲNH PHỤ,
TỈNH THÁI BÌNH CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ : 60.62.01.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. PHẠM VÂN ĐÌNH
gian thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo - Người hướng dẫn khoa học
GS. T.S Phạm Vân Đình đã hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể Thầy giáo, Cô giáo trong và ngoài
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn học viện Nông nghiệp Việt Nam và các
phòng, ban, đoàn thể, UBND các xã thuộc huyện Quỳnh Phụ cùng những tập
thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Hà nội, ngày 18 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Thị Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục viết tắt vii
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
4.1.1. Quá trình triển khai xây dựng NTM của huyện Quỳnh Phụ 62
4.1.2. Kết quả thực hiện theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM 63
4.2. Kết quả thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM ở các
xã điều tra. 82
4.2.1. Về công tác tuyên truyền 82
4.2.2. Kết quả về tổ chức tập huấn 85
4.2.3 Kết quả thực hiện giải pháp về tổ chức đào tạo cán bộ 88
4.2.4. Kết quả huy động nguồn lực 89
4.2.5 Kết quả thực hiện đăng ký xi măng trả chậm theo Quyết định 19
của UBND tỉnh. 96
4.2.6. Kết quả thực hiện giải pháp xây dựng kế hoạch nhằm đẩy mạnh
xây dựng nông thôn mới 98
4.2.7. Kiểm tra, giám sát xây dựng NTM 99
4.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh xây dựng NTM ở
huyện Quỳnh Phụ 101
4.3.1 Nhân tố khách quan 101
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.3.2. Nhân tố chủ quan 103
4.4 Giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM huyện Quỳnh Phụ 107
4.4.1. Định hướng, mục tiêu 107
4.4.2. Giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM 108
4.4.2.1 Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động cộng đồng 108
PHẦN 5. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 116
5.1. Kết luận 116
5.2. Kiến nghị 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
2011-2013 ở các xã khảo sát 86
Bảng 4.17 . Số lượng học viên tham gia các khóa tập huấn được tổ chức
trong thời gian từ 2011 – 2013 ở 03 xã khảo sát 88
Bảng 4.18: Người dân tham gia đóng góp kinh phí thực hiện các mô hình
sản xuất 90
Bảng 4.19 : Người dân tham gia đóng góp kinh phí xây dựng công trình
nông thôn 93
Bảng 4.20 : Người dân tham gia hiến đất xây dựng các công trình XH 94
Bảng 4.21: Kết quả vận động các hộ dân tham gia vào một số hoạt động
chủ yếu để đẩy mạnh xây dựng NTM ở các xã khảo sát. 95
Bảng 4.22 : So sánh số lượng tiêu chí trước và sau khi thực hiện QĐ 19 97
Bảng 4.23 Lập kế hoạch thực hiện các hạng mục công trình nhằm đẩy
mạnh xây dựng NTM 99
Bảng 4.24 : Phát hiện của BQL và người dân về các tuyến đường giao
thông nông thôn, hệ thống kênh mương không đủ tiêu chuẩn 100
Bảng 4.25: Nhận thức và sự ủng hộ của người dân trong đẩy mạnh xây
dựng NTM 103
Bảng 4.26. Nhận thức vai trò và kỹ năng tổ chức thực hiện xây dựng
NTM của nhóm cán bộ 105 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm phổ biến vẫn lả
sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm,
chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn.
Các hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu
quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm…
Nhằm khắc phục những tồn tại, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phát triển
nông thôn, BCH TW Đảng lần thứ 7 đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW
(2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong đó xác định mục tiêu tổng
quát trong thời gian tới là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất
ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng
vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện
theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương
thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo
quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí
được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông
thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân,
củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng
kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Với các địa phương trên cả nước xây dựng nông thôn mới (NTM) là
Trung ương, các tỉnh về thực hiện nghị quyết 26; đề tài nghiên cứu khoa học;
luận văn tốt nghiệp… Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung
đánh giá quá trình xây dựng NTM ở các địa phương trong cả nước, sự tham gia
của người dân, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội… chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề tài: “ Nghiên cứu giải
pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới của huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái
Bình” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng xây dựng NTM của huyện Quỳnh Phụ thời
gian qua, nhằm phát hiện những thuận lợi, khó khăn và những vấn đề bất cập
phát sinh. Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xây dựng NTM của
địa phương thời gian tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nông thôn mới và
giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM.
- Nghiên cứu thực trạng xây dựng NTM ở huyện Quỳnh Phụ thời gian qua.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh xây dựng NTM của huyện
Quỳnh Phụ.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xây dựng
NTM của huyện Quỳnh Phụ trong những năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp đẩy mạnh xây dựng NTM; Đối
tượng khảo sát là các hộ nông dân, cán bộ cấp xã, cấp huyện tại các xã trên
địa bàn huyện Quỳnh Phụ.
nghiệp là chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính trong vùng là từ sản xuất nông
nghiệp. Ở Việt Nam, nông thôn là vùng lãnh thổ bao gồm các địa bàn dân
cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000
người/km
2
và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động
nông nghiệp đạt từ 40% trở lên.
Theo đó, ta có thể thấy khái niệm nông thôn chỉ mang tính tương đối, có
thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các
quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhìn nhận từ góc
độ quản lí, có thể hiểu: “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư,
trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào hoạt động kinh
tế văn hoá - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và
chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
Khái niệm về nông thôn mới: Trước tiên NTM phải là nông thôn chứ
không phải là thị tứ và so với nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm
cơ cấu và chức năng mới.
Chức năng mới của nông thôn đó là: Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện
đại, với chức năng vốn có của nông thôn là sản xuất nông nghiệp, NTM phải
là nơi sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao theo
hướng sản xuất hàng hóa, không phải là tự cung, tự cấp, phát huy được khả
năng đặc sắc của địa phương đồng thời với là phát triển sản xuất ngành nghề,
trước hết là ngành nghề truyền thống của địa phương, sản phẩm ngành nghề
vừa chứa đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của từng làng quê Việt
Nam, tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn; chức năng giữ gìn
văn hoá truyền thống dân tộc, quốc gia nào cũng vậy, các dân tộc người được
sinh ra bắt đầu từ nông thôn hoặc là đồng bằng và miền núi, ven sông suối, sự
phát triển của nhân loại tạo ra đô thị, bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng
với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt”
(Phan Xuân Sơn, Nguyễn
Xuân Cảnh, 2009).
2.1.1.2 Khái niệm xây dựng NTM
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình
khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được
đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế -
chính trị tổng hợp.
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân,
tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thực hiện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện
mạo đời sống, văn hóa, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và
thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng
tâm cần lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của
các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực,
chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân
chủ, văn minh.
Xây dựng NTM không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị. Nếu
áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn sẽ làm mất những
giá trị tự có và không giữ vững, phát triển được bản sắc riêng của nông thôn.
Xây dựng NTM phải lấy việc đẩy mạnh dịch chuyển lao động nông thôn
làm cơ sở, chứ không phải lấy việc cố định người nông dân làm mục tiêu.
Đồng thời Nhà nước cần có các chính sách nhằm gia tăng sức hút của thành
sử dụng các khu chức năng trên địa bàn xã; khu phát triển dân cư; hạ tầng
kinh tế - xã hội; các khu sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
v.v theo chuẩn nông thôn mới.
Nội dung của công tác quy hoạch gồm quy hoạch chung và quy hoạch
chi tiết. Đó là quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Xác
định nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết
yếu phục vụ sản xuất hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ; bố trí hệ thống thủy lợi kết hợp với giao thông; quy hoạch
phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo
hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp; quy hoạch phát triển
các hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường theo chuẩn mới, bao gồm bố trí
mạng lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trạm xá, trung tâm văn hóa
thể thao xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống
thoát nước thải, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái.
Như vậy quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới là nhằm đánh giá các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đưa ra định hướng phát triển về kinh tế-
xã hội, về không gian nông thôn, về mạng lưới dân cư, cơ sở hạ tầng. Khai
thác tiềm năng thế mạnh vốn có của địa phương, khắc phục những ảnh hưởng
bất lợi của thời tiết, đảm bảo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đề ra.
Thực tế hiện nay các xã đã xây dựng xong đồ án quy hoạch chung, quy hoạch
chi tiết về xây dựng nông thôn mới, được các ngành chuyên môn thẩm định và
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tuy nhiên, qua tham khảo một số đồ án quy
hoạch chung của các xã thấy còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu thêm.
Thứ nhất là do trong cùng một thời gian, các xã đều phải tiến hành xây
dựng đồ án quy hoạch chung để đảm bảo tiến độ theo quy định của tỉnh, trung
ương, trong khi đó tự thân các xã không đủ năng lực để xây dựng quy hoạch
phản ánh đúng thực trạng và tiềm năng, thế mạnh của địa phương và đưa ra
những định hướng chính xác thì chắc chắn kinh tế - xã hội địa phương nhanh
chóng phát triển, tiến trình xây dựng nông thôn mới sớm đi đến mục đích và
phát huy được hiệu quả.
2.1.2.2 Phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội
Phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn mới là tập trung xây dựng hệ
thống đường giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa,
chợ nông thôn, bưu điện và nhà ở dân cư đảm bảo quy mô, đạt chất lượng và
đáp ứng được yêu cầu sản xuất, giao thông đi lại thuận tiện trực tiếp phục vụ
cho sản xuất phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
địa phương.
Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội trong xây dựng NTM đáp ứng được yêu
cầu về tiêu chí giao thông, đường giao thông trục chính xã đảm bảo chiều dài,
rộng, đạt quy mô theo quy định, xây dựng và hoàn thành 100% đường giao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
thông trục thôn đạt quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, đồng thời xây dựng và hoàn
thành các đường nhánh cấp 1, đường ngõ xóm đảm bảo sạch , không lầy lội
vào mùa mưa.
Xây dựng được hệ thống đường giao thông nội đồng phục vụ nhu cầu
phát triển sản xuất của người dân, đảm bảo việc vận chuyển và thu hoạch
trong quá trình sản xuất được thuận tiện.
Hoàn thiện hệ thống đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và
hệ thống giao thông trên địa bàn xã. Đến 2015 có trên 35% số xã đạt chuẩn
(các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số
xã đạt chuẩn (các đường trục thôn, xóm cơ bản được cứng hóa).
Hệ thống thủy lợi đáp ứng được các yêu cầu về sản xuất và dân sinh, có đủ
các trạm bơm, kênh mương tưới, tiêu, cống nội đồng chính của xã cơ bản đáp
ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh cho người dân nông thôn. Hệ thống kênh
mương của xã được kiên cố … Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn
cư không còn nhà tạm, nhà dột nát dưới 1%, tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn
theo quy định của Bộ Xây dựng từ 90% trở lên.
Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh
hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí NTM và
đến 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về y tế trên địa bàn
xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hoá về giáo dục trên địa
bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã
đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
2.1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Trong xây dựng NTM, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế, xã hội khu vực nông thôn, tăng tỷ trọng cơ cấu giá trị sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, tăng cơ cấu sản
xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế cao.
Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu và ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông -lâm - ngư nghiệp giúp cơ giới
hóa trong sản xuất nông nghiệp mang tính CNH-HĐH. Cơ giới hóa nông
nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi
làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công
nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao
động nông thôn.
2.1.2.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
Giảm nghèo là tiêu chí minh chứng cho một quốc gia phát triển. Ngân khố
quốc gia tuy chưa dồi dào để có thể đồng thời giải quyết một lúc tất cả những
hóa ở các vùng nghèo còn rất manh mún, nhỏ lẻ. Người dân ở vùng này khi
sản xuất và chăn nuôi đã vô cùng khó khăn do điều kiện tự nhiên và điều kiện
địa lý không thuận lợi nhưng lại càng khó khăn hơn khi sản phẩm làm ra
không được tiêu thụ dễ dàng. Ở địa bàn cấp huyện, nhiều xã còn mang tính tự
cung, tự túc, sản phẩm làm ra khi tiêu thụ cũng khó khăn để tiếp cận thị
trường, dẫn đến bị tư thương ép giá. Không có giao thông thì không có nền
nông nghiệp hàng hóa, nông dân vốn đã nghèo giao thông nông thôn cũng
không thuận tiện khiến cuộc sống của họ càng nghèo hơn.
Hỗ trợ vay vốn và đưa tiến bộ khoa học công nghệ. Người nông dân mong
muốn và có ước nguyện làm giàu trên mảnh đất của mình, tuy nhiên họ cần
được hỗ trợ về chính sách vay vốn. Với một lãi suất ưu đãi, hợp lý, vốn được
xem như một “cú hích” như sự “cứu cánh” cho những ước mơ đích thực của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
người nông dân muốn tự mình vươn lên thoát nghèo. Người xưa có câu “có bột
mới gột nên hồ”, vốn chính là “bột” cho người nông dân “gột” lên sản phẩm
của mình. Khi đã có vốn lại được cập nhật những tiến bộ khoa học công nghệ
cùng với bàn tay, khối óc, sự khao khát vươn lên thoát nghèo của người nông
dân hy vọng rằng sẽ giải quyết được bài toán giảm nghèo một cách bền vững.
Thực hiện các chương trình an sinh xã hội. ASXH là sự bảo vệ của xã hội
đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng,
nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm
thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương
tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các
gia đình đông con.
Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời
sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các
biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên
trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.
2.1.2.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở