Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam - Pdf 39

Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh
giá sự cố môi trường trong sử dụng khí
hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam
Biên tập bởi:
TS. Lý Ngọc Minh


Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh
giá sự cố môi trường trong sử dụng khí
hóa lỏng (LPG) ở Việt Nam
Biên tập bởi:
TS. Lý Ngọc Minh
Các tác giả:
TS. Lý Ngọc Minh

Phiên bản trực tuyến:
/>

MỤC LỤC
1. Mở đầu
2. Tổng Quan
2.1. Sự cố môi trường
2.2. Đánh giá sự cố môi trường
2.3. Tổng quan, tình hình chế biến và sử dụng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG)
2.4. Các phương pháp đánh giá và Các vấn đề nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu
4. Cơ sở lý thuyết
5. Kết quả và Thảo luận
5.1. Xây dựng kịch bản sự cố trong sử dung LPG ở Việt Nam
5.2. Xây dựng cơ sở khoa học đánh giá sự cố nổ thiết bị LPG
5.3. Đề xuất quy trình đánh giá sự cố nổ thiết bị chứa LPG

thành phố Mexico ngày 19/11/1984 làm chết 450 người, trên 30.000 người mất nhà cửa
phải sơ tán [125]; sự cố cháy tàu hoả ngày 20/02/2002 tại Ai Cập làm gần 400 người
bị chết, hàng trăm người bị thương do nổ bình LPG để nấu ăn trong toa căng tin [125];
sự cố nổ bình chứa LPG làm sập nhà tại thành phố St. Peterburg – Nga vào ngày 03/06/
2003 làm sập toà nhà 9 tầng, gây chết và bị thương nhiều người [125]. Ở Việt Nam, mặc
dù các sự cố đã xảy ra trong chế biến và sử dụng LPG chưa mang tính thảm họa nhưng
cũng là những dấu hiệu cảnh báo sẽ xảy ra những SCMT nghiêm trọng trong tương lai
nếu chúng ta không có biện pháp phòng ngừa. Trong thời gian tới, khi các cơ sở lọc hóa
dầu trọng điểm của đất nước dần đi vào hoạt động ổn định làm cho lượng LPG được
chế biến trong nước ngày càng tăng lên thì số cơ sở sử dụng LPG trong sản xuất và đời
sống ngày càng nhiều; trạm cung cấp LPG trung tâm trong khu chung cư cao tầng ngày
càng tăng và nhất là khi chủ trương chuyển đổi năng lượng từ nhiên liệu truyền thống
(xăng, dầu … ) sang sử dụng LPG cho các phương tiện giao thông vận tải (GTVT) được
thực hiện rộng rãi nhằm cải thiện chất lượng môi trường không khí tại các thành phố lớn
của nước ta, các thiết bị chứa LPG được lắp đặt trong các đô thị, khu dân cư ngày càng
nhiều thì nguy cơ xảy ra SCMT trong sử dụng LPG sẽ ngày càng tăng, thiệt hại sẽ ngày
càng lớn.
Để quản trị rủi ro (QTRR) trong chế biến và sử dụng hiệu quả, một trong những công
việc quan trọng là phải xây dựng được phương pháp đánh giá SCMT một cách định
2/158


lượng trên cơ sở khoa học, thiết lập quy trình đánh giá sự cố, nêu và phân tích các nguy
cơ gây SCMT trong sử dụng LPG, dự báo khả năng xảy ra và mức độ thiệt hại khi sự
cố xảy ra, trong đó một chỉ tiêu rất quan trọng là dự báo phạm vi ảnh hưởng thông qua
việc xác định khả năng phát tán chất ô nhiễm môi trường sau sự cố. Nhưng xác định khả
năng phát tán chất nguy hại bằng cách đo đạc trong thực tế khi một sự cố xảy ra là điều
mà chúng ta không mong đợi. Bởi lẽ, SCMT trong sử dụng LPG nếu xảy ra thì thiệt hại
mà nó gây ra đối với con người, môi trường sẽ rất lớn; thậm chí còn rất nghiêm trọng
như các sự cố đã xảy ra trên thế giới và thiệt hại có thể còn lớn hơn mà chúng ta chưa

3/158


2. Đề xuất tiêu chí xây dựng kịch bản sự cố và lựa chọn kịch bản sự cố nổ hoàn
toàn thiết bị chứa LPG là sự cố có nguy cơ xảy ra rất cao trong sử dụng LPG ở
Việt Nam và gây thiệt hại nghiêm trọng về con người, tài sản và môi trường;
3. Xây dựng cơ sở khoa học đánh giá tác động tới con người và môi trường khi nổ
thiết bị chứa LPG; nghiên cứu trường hợp điển hình: đánh giá sự cố nổ bồn
chứa 20 tấn LPG năm 2007 tại Hà Nội.
4. Xây dựng quy trình đánh giá SCMT trong sử dụng LPG dựa trên các cơ sở
khoa học và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
5. Nghiên cứu đề xuất khái niệm, quan điểm và xây dựng cơ sở khoa học quản trị
rủi ro kỹ thuật trong sử dụng LPG ở Việt Nam.
6. Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân gây sự cố và đề xuất giải pháp
phòng ngừa SCMT trong sử dụng LPG phù hợp với thực tế Việt Nam và những
nước có điều kiện tương tự.

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là phương pháp đánh giá SCMT trong sử dụng LPG. Khi thực
hiện nghiên cứu này, cần thực hiện trên các đối tượng được khảo sát là LPG và thiết bị
chứa LPG:
• LPG thương mại trong sản xuất và đời sống (gồm thành phần chính là propane
hoặc butane hoặc hỗn hợp propane và butane với tỷ lệ propane: butane là 50%:
50% theo thể tích và một lượng nhỏ các khí, tạp chất khác [89]. Trong tính
toán, luận án lấy LPG công nghiệp với thành phần chính là propane 100% hoặc
LPG có tỷ lệ propane: butane là 50%: 50% theo thể tích) được chứa trong thiết
bị ở trạng thái bão hòa, gồm hỗn hợp lỏng và hơi, trong điều kiện có áp suất và
nhiệt độ trên nhiệt độ sôi bình thường của nó.
• Thiết bị chứa LPG bao gồm các bồn chứa LPG trong các hệ thống cấp khí đốt
trung tâm trong nhà ở có dung tích chứa nước từ 0,45 m3 trở lên [11], bồn chứa

án lấy giá trị nhiệt độ bão hòa của LPG khoảng 303K và áp suất p1 (bar) làm
việc của LPG trong thiết bị là áp suất bão hòa tương ứng của LPG khoảng 6 bar
[89]. Trong thực tế, áp suất này có thể thay đổi tùy thuộc thành phần và nhiệt
độ bên ngoài;
• Sau khi nổ, LPG giảm áp suất tới áp suất khí quyển ở nhiệt độ sôi Tb; lượng
LPG lỏng hóa hơi sau khi thoát ra khỏi bình chứa là (kg). Phần LPG lỏng cuốn
theo đám mây hơi coi như không đáng kể.
• Trong phạm vi sai số cho phép và để thuận tiện trong tính toán, hơi LPG được
coi là khí lý tưởng [135], do vậy một số thông số nhiệt động của LPG như nhiệt
dung riêng … được coi là hằng số; lượng không khí đủ để coi chế độ cháy là
hoàn toàn ở điều kiện đẳng áp.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), bên cạnh ưu điểm là nhiên liệu sạch và tiện dụng, cũng
tiềm ẩn những rủi ro gây ra SCMT trong chế biến và sử dụng, làm thiệt hại về nguời, tài
sản và tác động xấu tới môi trường nếu không nhận thức được khả năng xảy ra sự cố và
mức độ nguy hiểm của nó để có những biện pháp QTRR, phòng ngừa sự cố. Một trong
những biện pháp đó là phải có được phương pháp đánh giá SCMT định lượng, khả thi,
phù hợp với đặc điểm trong sử dụng LPG ở Việt Nam.
Đánh giá SCMT là quá trình mang tính hệ thống, cung cấp thông tin tổng hợp, lôgic cho
các nhà QLMT, những người ra quyết định trong việc xác định những phương án quản
lý phù hợp. Ngoài ra, đánh giá SCMT còn hạn chế lãng phí đối với những nguồn lực
phải bỏ ra để giải quyết vấn đề ATMT đối với những rủi ro chấp nhận được.

5/158


Ý nghĩa khoa học
• Góp phần xây dựng cơ sở khoa học để đánh giá SCMT một cách định lượng
trong chế biến và sử dụng LPG và các môi chất tương tự.

Có thể vận dụng phương pháp đánh giá cho công nghiệp hóa chất, kỹ thuật lạnh và điều
hoà không khí.

6/158


• Bổ sung cơ sở khoa học và thực tiễn để góp phần quy hoạch công nghiệp, quy
họach môi trường, quy họach đô thị, khu dân cư, dự báo sự cố, quản lý môi
trường … khi triển khai các dự án có sử dụng LPG.
• Phương pháp đánh giá SCMT được đề xuất giúp các nhà quản lý nhìn nhận
toàn diện hơn về công tác ATMT, góp phần ra quyết định đúng để quản lý
ATMT trong sử dụng LPG nói riêng và TBAL nói chung. Từ đó, có chiến lược
ngăn ngừa và ứng cứu sự cố nhằm giảm thiểu thiệt hại, đảm bảo an toàn,
BVMT.
Ý NGHĨA KINH TẾ-XÃ HỘI
Chế biến và sử dụng LPG đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Tuy
nhiên, chế biến và sử dụng LPG cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây SCMT nghiêm trọng.
Sự cố nổ thiết bị chứa LPG là một trong những sự cố đó. Trong thực tế đã xảy ra nhiều
sự cố nổ thiết bị chứa LPG trên thế giới, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và
môi trường do không lường hết mức độ nguy hại của các rủi ro tiềm ẩn trong chế biến
và sử dụng LPG. Do vậy, cần có những nghiên cứu dự báo định lượng đầy đủ hơn về
các tác động tiêu cực khi đánh giá rủi ro, đánh giá tác động môi trường trong quy họach,
xây dựng cơ sở sử dụng LPG; đề ra giải pháp QTRR, phòng ngừa SCMT trong sử dụng
LPG ở Việt Nam, góp phần ổn định trật tự xã hội, phát triển đất nước bền vững.
TÍNH MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Đóng góp khoa học quan trọng và đầu tiên của luận án về lý thuyết là đã xây
dựng được cơ sở khoa học để đánh giá SCMT khi nổ thiết bị chứa LPG, gồm
các vấn đề: xây dựng công thức tính lượng hơi LPG tạo thành, công dãn nở khi
nổ thiết bị chứa LPG được tồn trữ ở trạng thái bão hòa, tồn tại cả hai pha trong
thiết bị; xây dựng hệ số tiêu thụ oxy, hệ số tiêu thụ không khí lý thuyết, hệ số



Tổng Quan
Sự cố môi trường
Khái niệm
Sự cố môi trường (SCMT) là những hiện tượng đột biến của thiên nhiên, của quá trình
hoạt động của con người, gây tác động tới con người và môi trường, diễn ra dưới tác
động của yếu tố tự nhiên hoặc sự tác động của con người hay là sự kết hợp cả hai yếu
tố đó. Pháp luật nhiều nước định nghĩa SCMT như là một rủi ro môi trường (RRMT) và
quy định những biện pháp, những nguyên tắc để ngăn chặn và khắc phục những rủi ro
[98].
Luật bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2005 của Việt Nam [41] đưa ra khái niệm SCMT
như sau: “SCMT là những tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con
người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi
trường nghiêm trọng ”.
Ở Việt Nam hiện nay vẫn sử dụng đồng thời hai khái niệm “sự cố môi trường” và “rủi
ro môi trường” theo nghĩa tương tự. Trong một số trường hợp, khái niệm “sự cố” được
sử dụng thay thế cho khái niệm “sự cố môi trường” [41]. Một số tác giả còn sử dụng
thuật ngữ “tai biến môi trường” [35] hoặc “sự cố rủi ro môi trường” [29] để chỉ nghĩa
như nghĩa của hai khái niệm “sự cố môi trường” và “rủi ro môi trường”. Tuy nhiên,
trong luận án, khái niệm “sự cố môi trường” được sử dụng để phù hợp với thuật ngữ
như đã ghi trong luật bảo vệ môi trường năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
[41], nhưng khi trích dẫn tài liệu tham khảo, luận án vẫn sử dụng khái niệm “rủi ro môi
trường” như nguyên văn.
RRMT là khả năng mà điều kiện môi trường bị thay đổi bởi hoạt động của con người,
có thể gây ra các tác động có hại cho một đối tượng nào đó. Các đối tượng bao gồm sức
khỏe và tính mạng con người, hệ sinh thái và xã hội. Tác nhân gây rủi ro có thể là tác
nhân hóa học, sinh học, vật lý hay kết hợp các tác nhân này. Các đối tượng bị rủi ro và
tác nhân gây rủi ro nằm trong mối quan hệ phức tạp và được thể hiện bằng một sơ đồ
gọi là chuỗi đường truyền rủi ro. Chuỗi này liên hệ tất cả các hoạt động liên quan của

10/158


Đánh giá sự cố môi trường
Khái niệm
Đánh giá sự cố môi trường (ĐSM) là kỹ thuật đánh giá một hệ thống có tác động có hại
thực tế hay tiềm tàng của các chất ô nhiễm lên sức khỏe của thực vật, động vật hay hệ
sinh thái. Các kỹ thuật đánh giá rủi ro dựa trên mô hình nhân quả, áp lực – đáp ứng, trong
đó chất ô nhiễm được vận chuyển từ nguồn theo một đường đi đến nơi nhận: Nguồn →
Đường đi → Nơi nhận như giới thiệu trong sơ đồ hình 1 [47].

Trình tự đánh giá rủi ro môi trường [47]

Phân loại
• Phân loại theo giai đoạn: ĐRM được tiến hành theo 2 giai đoạn:
• Đánh giá rủi ro sơ bộ: được thực hiện trên cơ sở điều kiện số liệu, thông tin
hiện có chưa đầy đủ và độ tin cậy thấp với mục tiêu là xác định được các rủi ro
chính.
• Đánh giá rủi ro chi tiết: được tiến hành trên cơ sở kết quả của ĐGRRSB và các
số liệu được bổ sung, củng cố từ các đo đạc, quan trắc, nghiên cứu, thực hiện
theo đề xuất của ĐGRRSB.
• Phân loại theo lĩnh vực xảy ra sự cố: Tương ứng với cách phân loại rủi ro theo
lĩnh vực, đánh giá rủi ro môi trường cũng được chia thành 3 loại: đánh giá rủi
ro sức khỏe, đánh giá rủi ro sinh thái và đánh giá rủi ro công nghiệp [47]
• Đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA): HRA quan tâm đến những cá nhân, tình trạng
bệnh tật và số người tử vong. HRA là tiến trình sử dụng các thông tin thực tế để
xác định sự phơi nhiễm của cá thể hay quần thể đối với vật liệu nguy hại hay
hoàn cảnh nguy hại. Đánh giá rủi ro sức khỏe có ba nhóm chính: rủi ro vật lý;
rủi ro hóa chất; rủi ro sinh học.
• Đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA): được phát triển từ HRA, EcoRA đánh giá

gây ra bởi quá trình tự nhiên, thường được coi là bất khả kháng, con người cần sống hoà
hợp với chúng. Việc lựa chọn phương án phòng chống thiên tai tập trung vào lựa chọn
cách sống và né tránh những ảnh hưởng không mong đợi.
Sự cố môi trường do con người gây ra
Là những hoạt động của con người như xả thải chất ô nhiễm hoặc sự cố kỹ thuật như
cháy, nổ nhà máy lọc dầu, vỡ ống dẫn khí, rò rỉ hoá chất nguy hại …
Sự cố môi trường do cả con người và thiên nhiên gây ra
Là hậu quả do các hoạt động của con người và quá trình tự nhiên như hiện tượng mưa
acid. Hiện tượng này có nguyên nhân là do con người đã thải ra các khí Cl2, SO2 …
phát tán lên bầu khí quyển và tạo ra mưa a xít HCl hay H2SO4 …

12/158


Phân biệt nguyên nhân gây ra SCMT có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm
pháp lý đối với cá nhân hoặc tổ chức có liên quan.

Các giai đoạn của SCMT [35]
Quá trình sự cố phản ánh tính nhiễu loạn, bất ổn của hệ thống và thường gồm 3 giai
đoạn. Với mỗi giai đoạn của sự cố sẽ có những chiến lược ứng phó thích hợp:
1. Giai đoạn nguy cơ: Đã tồn tại các yếu tố gây hại nhưng chưa gây mất ổn định
cho hệ thống.
2. Giai đoạn phát triển: Tập trung và gia tăng các yếu tố sự cố, xuất hiện trạng thái
mất ổn định, nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường.
3. Giai đoạn sự cố: Trạng thái mất ổn định đã vượt qua ngưỡng an toàn của hệ
thống, gây ra các thiệt hại không mong đợi cho con người và môi trường.

Chiến lược ứng xử SCMT [35]
Tương ứng với 3 giai đoạn của sự cố có 3 chiến lược ứng xử sự cố sau:
• Chiến lược I: được tiến hành khi xảy ra SCMT gồm các hành động khẩn cấp

Chu trình đánh giá rủi ro môi trường

Lịch sử đánh giá rủi ro môi trường
Nghiên cứu về đánh giá SCMT trong sản xuất và đời sống được quan tâm nhiều trên
thế giới. ĐGRRMT đã và đang được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở Mỹ, Canađa và các
nước khối cộng đồng châu Âu. Phương pháp giải quyết vấn đề dựa vào việc xem xét
những rủi ro trở nên nổi bật trong công nghiệp hạt nhân và được tiến hành rộng rãi trong
công nghiệp không gian, là ngành có nhiều hệ thống phức tạp và cần thiết phải có độ
tin cậy rõ ràng. Trong những năm 1960, phương pháp đánh giá xác xuất của rủi ro –
Probabilistic Risk Assessement (PRA) đã phát triển trong ngành công nghiệp này. Sau
những sự cố công nghiệp vào những năm giữa thập niên 70 (đáng chú ý nhất là vụ nổ
cyclohexane ở Flixborough (Anh) năm 1974 và vụ rò rỉ hơi dioxin tại Seveso (Italia)

14/158


năm 1976, khung phương pháp luận của công nghiệp hạt nhân được áp dụng trong công
nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu mỏ ở châu Âu những năm 1980. Có nhiều quy
định đối với những chất nguy hại được hình thành như hướng dẫn Seveso ở châu Âu
… Vào những năm 1970, phương pháp đánh giá định lượng rủi ro – Quantitative Risk
Assessment (QRA) và hướng dẫn Seveso đã được sử dụng trong công nghiệp hóa chất.
Từ những năm 1990, trong công nghiệp tàu biển đã áp dụng phương pháp đánh giá độ an
toàn – Formal Safety Assessement (FSA). Gần đây nhiều nghiên cứu tại các nước phát
triển đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá rủi ro liên quan đến môi trường, bao gồm
đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA), đánh giá rủi ro sinh thái (ERA) và đánh giá rủi ro công
nghiệp (IRA) [47]. Joseph F và B. Diane Louvar [138] nghiên cứu về đánh giá SCMT
do hóa chất với phương pháp đánh gía quan hệ liều lượng-phản ứng. ĐGRRMT sơ bộ
và chi tiết được áp dụng cho eo biển Malacca (chung của ba nước Singapo, Malaixia và
Inđônêxia) năm 1999, đưa ra các kết luận quan trọng về khả năng rủi ro do tràn dầu và
các đề xuất liên quan cho ba quốc gia nói trên. ĐGRRSB đã hoàn thành đối với vịnh


đề ưu tiên, có nguy cơ gây rủi ro cao, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho các đề xuất quản lý
RRMT [76].

Quy trình chung trong đánh giá rủi ro môi trường
Cả ba loại HRA, EcoRA, IRA đều có chung một phương pháp luận đánh giá nhưng khác
nhau về chi tiết theo yêu cầu riêng của từng mục tiêu đánh giá. Các nước khác nhau có
những phương pháp và quy trình đánh giá khác nhau nhưng đều gồm những bước như
trong hình 1.4 [47]

Quy trình đánh giá rủi ro môi trường tổng quát

Xác định mối nguy hại
Khái niệm
Xác định mối nguy hại là phân tích khoa học nhằm xác định mối quan hệ nhân – quả
giữa tác nhân – hóa chất gây nguy hại hoặc có tác động xấu đến sức khỏe con người và
môi trường hay không? Bước này nhằm trả lời câu hỏi: “Có tồn tại hay không các tác
nhân gây nguy hại trong khu vực quan tâm?”.
Xác định mối nguy hại giúp đưa ra nhận định tính ban đầu về rủi ro về mặt tác động đến
sức khỏe. Mục đích là thu thập tất cả các thông tin phù hợp nhằm xác định sự hiện diện
các mối nguy hại đối với sức khỏe con người trong môi trường.
Các bước tiếp theo của đánh giá rủi ro tùy thuộc vào các phát hiện trong giai đoạn xác
định mối nguy hại.
Nội dung xác định mối nguy hại
Những nội dung chính của công việc nhận diện mối nguy hại bao gồm:
• Nhận diện các nguy hại: các tác nhân cơ học, vật lý, hóa học … hay là sự kết
hợp các tác nhân trên.
• Liệt kê các hóa chất đưa vào đánh giá rủi ro và lý do lựa chọn.

16/158

nhiễm; định lượng phơi nhiễm.

17/158


Đánh giá độ độc hay phân tích liều–phản ứng [47]

Mối liên hệ giữa RfD, NOAEL và LOAEL đối với hóa chất độc hại

Đánh giá liều–phản ứng bao gồm sự mô tả quan hệ định lượng giữa lượng phơi nhiễm
đối với một hóa chất và mức ngộ độc hay bệnh tật.
Mô tả đặc tính rủi ro [95]
Mô tả đặc tính rủi ro là bước cuối cùng xác định phạm vi các tác động bất lợi đến nguồn
tiếp nhận dưới điều kiện phơi nhiễm. Các đặc tính rủi ro được tóm tắt và tổng hợp phơi
nhiễm và đánh giá độc tính để định tính và định lượng các mức độ rủi ro và xem xét
thêm các vấn đề không chắc chắn trong đánh giá rủi ro. Kết quả phơi nhiễm trong vấn
đề rủi ro lớn nhất có thể được xác định trong tiến trình này. Các đặc tính rủi ro thích hợp
từ các mối nguy hại liên quan đến các vấn đề ONMT cho phép quản lý rủi ro và quyết
định đúng hơn để thực hiện tốt hơn. Nó là sự biểu hiện của nguy cơ đối với từng cá thể,
các cộng đồng hay từng đối tượng bị tác động khác trên cơ sở lượng hóa, qua đó ta được
các giá trị định lượng cao hơn mức trung bình.
Mô tả đặc tính rủi ro định lượng (QRA)
Trường hợp xét đặc tính rủi ro từ chất ung thư và không gây ung thư thì nhiệm vụ là
ước lượng rủi ro (tính toán lượng rủi ro từ chất gây ung thư và chất không gây ung thư
trên cả ba tuyến phơi nhiễm) và phân tích kết quả để đưa ra những quyết định đúng đắn.
Tính toán rủi ro đối với mức phơi nhiễm trung bình và lớn nhất.
Đối với phơi nhiễm lâu dài: sử dụng nồng độ trung bình để tính rủi ro đại diện cho việc
ước lượng từ nhiều điểm phơi nhiễm. Đối với phơi nhiễm tức thời: sử dụng nồng độ lớn
nhất để tính toán sẽ hiệu quả hơn.


• Đối với đánh giá rủi ro môi trường và sinh thái:

(1.5)

19/158


• Đối với đánh giá rủi ro sức khỏe:

(1.6)
Khi: RQ < 1: Rủi ro thấp; RQ ≥ 1: Rủi ro cao
Trong đánh giá rủi ro môi trường, đặc biệt là rủi ro sinh thái thường sử dụng các cấp độ
đánh giá chi tiết hơn:
RQ từ 0,01 đến 0,1: rủi ro thấp;
RQ từ 0,1 đến 1: rủi ro trung bình;
RQ ≥1: rủi ro cao.

Giới hạn của đánh giá rủi ro môi trường [47], [95]
Nghiên cứu tác động của các hóa chất trên vi sinh vật, thực vật, động vật và con người
thường không đạt kết quả như mong muốn bởi các yếu tố:
• Sự biến thiên trong sức chịu đựng của các cá thể và loài đối với các tác động
của các chất ô nhiễm.
• Các điều kiện môi trường và các tiến trình tác động lên tính chất của các chất ô
nhiễm như là sự chia cắt, chuyển đổi, suy thoái, nhiệt độ, pH, chất hữu cơ…
• Sự không chắc chắn trong sự ngoại suy dữ liệu nghiên cứu giữa các loài hoặc
trong cùng loài.
• Các lỗ hổng thông tin lớn về cơ chế và các tiến trình tác động đến các chức
năng và cơ quan trong cơ thể, chúng tương tác như thế nào và chúng có thể bị
tác động bởi ô nhiễm như thế nào?
• Sự hiểu biết của chúng ta về các tương tác giữa các cá thể người bị tác động,

STT Chỉ tiêu

Đơn vị

Quy định

1

Hàm lượng lưu huỳnh tối đa

ppm

140

2

Nhiệt trị

kcal/kg

10.980

3

Tỷ trọng tại 15,6oC

4

Nhiệt độ bốc hơi 95% thể tích ở 760
mmHg


Khối lượng
phân t ử

KLR của lỏng ở 15
oC (kg/m3)

KLR của hơi ở 15
oC (kg/m3)

Propane
(C3H8)

CH3-CH2CH3

44,09

510

1,86

n-Butane
(C4H10)

CH3-CH2CH2-CH3

58,12

575



22/158


Nhiệt trị(kcal/
kg)

Nhiệt độ ngọn lửa khi cháy
trong không khí (0C)

Propane

- 42

400?580

2,2 10 11.900 1.930

Butane

- 0,5

410?550

1,8 9

11.800 1.900

Quan hệ giữa áp suất tương đối, nhiệt độ bão hòa và thành phần của LPG được giới
thiệu trên hình 2 [157].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status