RÈN LUYỆN KĨ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ SỬA CHỮA LỖI ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN - Pdf 39

ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ SỬA CHỮA LỖI
ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
I. Đặt vấn đề
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thời đại của công nghệ thông tin cho nên nhiều phụ huynh
và học sinh cho rằng chỉ cần học Toán, Lý , Hóa, Ngoại ngữ… là được, không
cần phải học Văn vì môn Văn không có tính ứng dụng, không đảm bảo cho
tương lai. Chính vì quan niệm như vậy cho nên trong những năm gần đây, có
tình trạng một số học sinh học chỉ để đối phó với thầy cô mà chưa có sự đầu tư,
chưa có niềm đam mê với Văn học.
Các em dành nhiều thời gian kể cả đi học thêm các môn khoa học tự
nhiên, chỉ có em nào khi chọn khối thi Đại học, Cao đẳng mà có môn Văn thì
lúc đó các em mới nghĩ rằng: môn Văn là môn mình phải vượt qua để vào được
Đại học, Cao đẳng. Và quả là đã có nhiều “con cá muốn vượt vũ môn” nhưng bị
rớt vì môn Văn , đành ngậm ngùi thi lại năm sau.Trong các kì thi như thi học kì,
thi tốt nghiệp THPT, thi Đại học, Cao đẳng thì lúc nào môn Văn cũng là một
trong những môn có tỉ lệ điểm trên trung bình thấp.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: học sinh thiếu hụt kiến
thức, các thầy cô chưa khơi gợi được ở các em niềm đam mê, học sinh không
yêu thích môn Văn vì cho rằng học môn Văn không thiết thực hoặc các em thiếu
kĩ năng viết bài văn… Mỗi khi làm bài viết, các em lo làm bài, nghĩ đến đâu thì
viết đến đó mà bỏ qua các bước quan trọng như: tìm hiểu đề, lập dàn ý, đọc lại
bài viết để sửa những lỗi sai… chính vì thế mà môn Văn của các em điểm
thường không cao. Trong quá trình viết bài văn nghị luận, học sinh thường mắc
phải những lỗi như: lạc ý, loãng ý, thiếu liên kết giữa các đoạn, các ý trong đoạn
phủ định nhau, dẫn từ ý này sang ý kia không phù hợp, cả bài không tách
đoạn… nhưng các em học sinh không biết cách để sửa chữa những lỗi đó, thậm
chí có em còn không biết rằng mình bị mắc lỗi. Tôi đã chọn đề tài “Rèn luyện
kĩ năng phát hiện và sửa chữa lỗi đoạn văn trong bài văn nghị luận”, nhằm
giúp các em học sinh biết phát hiện lỗi trong đoạn văn, biết cách sửa lỗi trong
đoạn văn bài viết của mình cũng như của người khác, tránh mắc lỗi thông

thể tán đồng với vấn đề ta đưa ra thì cần phải kết hợp tốt các thao tác lập luận,
được trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc trong từng đoạn văn.
Đoạn văn trong bài văn nghị luận là đoạn văn như thế nào? Trước hết nó
phải đảm bảo là đoạn văn. Nghĩa là đảm bảo hai tiêu chí. Thứ nhất, nằm giữa hai
chỗ xuống dòng; thụt đầu dòng, viết hoa khi mở đầu; chấm, xuống dòng khi kết
thúc. Thứ hai, chứa một ý tương đối hoàn chỉnh – một chủ đề nhỏ. Tiếp theo
phải đảm bảo là đoạn văn trong bài văn. Nghĩa là phải xoay quanh làm sáng tỏ
chủ đề lớn của cả bài văn.
Tùy theo nhiệm vụ, các đoạn văn được chia thành: đoạn giới thiệu, đoạn
nghị luận, đoạn minh họa, đoạn chuyển tiếp, đoạn tiểu kết, đoạn tổng kết. Cũng
do nhiệm vụ khác nhau nên vị trí của các đoạn cũng khác nhau. Đoạn giới thiệu
thường đứng ở đầu bài văn, đầu mỗi phần của bài văn, đầu mỗi phần của bài
văn. Đoạn nghị luận, đoạn minh họa đứng giữa (thân bài) bài văn, giữa các phần
của bài. Đoạn chuyển tiếp đứng ở ranh giới giữa các phần của bài, của các đoạn
kia. Đoạn tiểu kết đứng sau một hay một số đoạn nghị luận, đoạn minh họa.
Đoạn tổng kết nằm ở phần kết bài và thường đứng cuối cùng trong hệ thống các
loại đoạn vừa nêu.
Trong một bài văn nghị luận không phải bao giờ cũng tồn tại đủ các loại
đoạn kể trên.Trong bố cục cơ bản gồm ba phần của một bài văn nghị luận, phần
nào cũng có thể tồn tại các loại đoạn này trừ đoạn tổng kết phải nằm ở phần kết
bài. Việc bố trí các đoạn văn trong một bài văn nghị luận có thể rơi vào một
trong các tình trạng sau:
Thứ nhất: bố trí bài bản, đoạn nào vào đúng vị trí đoạn ấy trong bài văn.
Trường hợp này bài văn sẽ được trình bày rõ ràng, mạch lạc nhưng dễ khuôn
phép, khô cứng.
Thứ hai: bố trí không đúng vị trí. Trường hợp này nếu tùy tiện, vụng về,
bài văn sẽ lộn xộn và có thể dẫn tới chỗ phá vỡ bài văn.
2



Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng nhưng vốn từ của học sinh thì nghèo
nàn. Do không hiểu hết và hiểu đúng nghĩa của từ như từ Hán Việt, từ trừu
tượng, những khái niệm và thuật ngữ chuyên ngành… nên học sinh đưa vào bài
viết nhiều từ ngữ thiếu chính xác làm cho câu văn ngô nghê, sai ý. Có học sinh
đã viết “ Qua bài thơ Chiều tối, Bác Hồ hiện ra rất cao siêu”.
- Lỗi về câu:
Trong bài làm của học sinh có rất nhiều câu sai như: câu thiếu chủ vị, câu
thiếu mệnh đề, câu tối nghĩa, câu dài lê thê, có bài không có dấu câu.
- Lỗi về đoạn văn và văn bản:
+ Do chưa nắm vững được nội dung và yêu cầu của đoạn văn, lại ít được
rèn luyện viết đoạn văn nên nhiều học sinh chưa biết viết đoạn văn. Quan niệm
của các em là cứ viết cho dài rồi xuống dòng và coi đó là một đoạn văn.
+ Bài viết không có mở bài, không phân biệt được các thành phần nên
hình thức trình bày của bài cũng lộn xộn.
3


+ Lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu lôgic do việc xác định ý không rõ và sử
dụng các thao tác lập luận không thành thạo.
- Lỗi về nội dung:
+ Chủ đề: thiếu ý, loãng ý, lạc ý, lặp ý…
+ Lôgic: mâu thuẫn ý, đứt mạch ý, mơ hồ…
- Lỗi về hình thức:
+ Phương tiện liên kết đoạn: liên kết nội tại lỏng lẻo, liên kết hướng ngoại
yếu.
+ Dung lượng đoạn: quá khuôn khổ, chưa đủ khuôn khổ.
3. Các giải pháp tiến hành
3.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Lớp 11D2: lớp đối chứng
- Lớp 11D4: lớp thực nghiệm



b. Lôgic
- Mâu thuẫn ý: các ý mẫu thuẫn nhau trong đoạn văn là các ý tương phản
nhau, không ăn khớp nhau, phủ nhận lẫn nhau, hoặc các ý không phù hợp với
thực tế đời sống. Để tránh mâu thuẫn ý, cần đảm bảo xây dựng các ý cùng theo
một chủ hướng (tích cực hoặc tiêu cực…) hoặc cần tôn trọng hiện thực của đời
sống.
- Đứt mạch ý: đoạn văn đứt mạch ý là đoạn văn không tạo thành một chuỗi
liên tục giữa các ý. Giữa các câu có sự đứt ý hoặc nhảy cóc về ý. Về cơ bản, lỗi
đứt mạch thường do học sinh không biết cách sử dụng phép lập luận hai tiền đề.
Lẽ ra để cho mạch ý được liên tục cần phải có đủ tiền đề rồi mới rút ra kết luận
nhưng học sinh chỉ đưa ra một tiền đề đã vội vã rút ra kết luận vì thế dẫn tới tình
trạng đứt mạch. Chữa lỗi này phải có thêm một ý chuyển, ý bắc cầu nối liền các
ý.
- Mơ hồ: đó là kiểu đoạn văn được tổ chức theo kiểu lắp ghép máy móc các
câu. Vì lắp ghép nên mặc dù đứng cạnh nhau nhưng quan hệ lôgic giữa các câu
vẫn không rõ ràng, không thể chỉ ra được mối quan hệ cụ thể giữa chúng và vì
thế việc hiểu nội dung cũng trở nên mơ hồ, thậm chí có khi không thể hiểu
được.Ở đây cần tổ chức lại hoặc đảo vị trí câu, hoặc là thêm các phương tiện
nối, hoặc lược bỏ những câu mơ hồ…
3.3.2. Hình thức
a. Phương tiện liên kết đoạn
- Liên kết nội tại: được hiểu là sự liên kết trong nội bộ một đoạn văn. Sử
dụng sai các phương tiện liên kết hoặc không sử dụng các phương tiện liên kết
đều có thể làm cho nội dung đoạn văn trở nên khó hiểu hoặc mạch văn trở nên
rời rạc. Bởi vậy, việc dùng đúng lúc, đúng chỗ các phương tiện liên kết là điều
quan trọng.
- Liên kết hướng ngoại : đó là sự liên kết đoạn văn với đoạn văn. Lỗi ở đoạn
mở thường là không thực hiện được chức năng: hoặc mở quá dài, mở không dẫn

b. Nước ta có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. Ở Hà Nội có lăng
Bác Hồ, có chùa Một Cột. Ở Huế có lăng tẩm của vua chúa nhà Nguyễn. Ở Tây
Nguyên có hồ Tơ Nưng. Ở thành phố Hồ Chí Minh có bến cảng Nhà Rồng nơi
Bác Hồ rời nước nhà ra đi tìm đường cứu nước.
c. Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là một đứa trẻ thông minh nhưng ngỗ nghịch. Ngay
khi đi học, Lê Quý Đôn đã có ý thức tìm tòi, nghiên cứu, phê phán những quan
điểm phản khoa học thường được tôn sùng thời bấy giờ. Ông thường tham gia
bình văn cùng với những người lớn tuổi. Không ai dám coi thường “chú học trò
nhãi ranh” học nhiều, biết rộng ấy.
Gợi ý:
a. Câu chủ đề nêu mấy ý sau: chăm học – chăm làm- ở nhà- ở trường. Đoạn
văn này mới chỉ triển khai được ý chăm làm ở nhà (giả định phần chăm học đã
được nói tới ở đoạn trên), chưa triển khai được ý chăm làm ở trường. Vì vậy cần
phải viết thêm một vài câu nữa về việc chăm làm ở trường thì đoạn văn mới
được coi là triển khai đầy đủ ý. Lỗi này chính là lỗi thiếu hụt chủ đề ( thiếu hụt
hành động).
b. Câu chủ đề nêu mấy ý: nước ta – di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh.
Đoạn văn này mới triển khai được ý: nước ta – Hà Nội - Huế - Tây Nguyên thành phố Hồ Chí Minh và di tích lịch sử; còn ý danh lam thắng cảnh chưa được
triển khai đầy đủ. Cần đưa thêm vào đoạn văn một số danh lam thắng cảnh nữa
để cho ý này (nhiều danh lam thắng cảnh) được đầy đủ hơn (thiếu hụt đặc điểm).
c. Câu chủ đề nêu mấy ý: thông minh – ngỗ nghịch . Đoạn văn này mới chỉ
triển khai được ý thông minh còn ý ngỗ nghịch chưa được chú ý. Cần phải thêm
vào đoạn văn một vài câu để thể hiện rõ ý “ngỗ nghịch” (thiếu hụt tính chất).
3.4.1.2. Bài tập 2
Các đoạn văn sau đây có mắc lỗi trong việc triển khai chủ đề không? Nếu sai,
em sửa lại như thế nào cho phù hợp với chủ đề của đoạn?
a. Cư dân Văn Lang rất ưa ca hát, nhảy múa. Họ hát trong những đêm trăng
hoặc ngày hội. Họ còn hát trong lúc chèo thuyền, săn bắn. Những nhạc cụ đệm
cho những điệu hát thường là trống đồng, khèn, sáo, cồng…
b. Trong lịch sử chống ngoại xâm, chúng ta thấy dân tộc ta anh hùng hào kiệt

cho đúng.
a. Bên cạnh con cò, con trâu được nói nhiều hơn cả trong ca dao, dân ca Việt
Nam. Con trâu không mấy lúc thảnh thơi, cho nên khi nghĩ về cuộc đời nhọc
nhằn của mình, nguời nông dân thường nghĩ đến con trâu. Con cò tuy có vất vả,
tuy có lúc phải lặn lội bờ sông nhưng còn có lúc được bay lên mây xanh. Con
cò, con vạc, con nông là những con vật rất gần gũi với người dân lao động.
Chúng mang những đức tính cần cù, chịu khó của người nông dân chân lấm tay
bùn. Những lúc cần bộc bạch nỗi niềm, người nông dân thường mượn những
con vật đó ra để tâm sự, để giãi bày nỗi lòng mình.
b. Trong ca dao dân ca có rất nhiều con vật được nhắc tới. Nào là “con cò lặn
lội bờ sông”, nào là con trâu cần mẫn trên đồng ruộng một nắng hai sương. Rồi
thì cả “cái vạt, cái nông” cũng đi vào dân ca với những nỗi đắng cay không kém
con cò. Trong nhiều bài lại có cả hình ảnh “con ong, cái kiến”, những con vật
nhỏ bé nhưng không kém phần gần gũi với những người lao động.
c. Trong ca dao Việt Nam, những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều
hơn tất cả. Họ yêu gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau chung sống, yêu nơi chôn
nhau cắt rốn. Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công
việc trong xóm, trong làng. Tình yêu đó nồng nhiệt, đằm thắm và sâu sắc.
7


Gợi ý:
Trong ba đoạn, đoạn b là đoạn không mắc lỗi trong việc triển khai chủ đề, còn
lại đoạn a và c là những đoạn mắc lỗi.
- Đoạn a: câu chủ đề định hướng nội dung viết về con trâu, do đó những câu
nào nói về con cò là những câu bị lạc, làm loãng chủ đề. Đoạn văn có thể được
viết lại như sau:
Bên cạnh con cò, con trâu được nói nhiều hơn cả trong ca dao, dân ca Việt
Nam.Con trâu không mấy lúc thảnh thơi, cho nên khi nghĩ về cuộc đời nhọc
nhằn của mình, nguời nông dân thường nghĩ đến con trâu. Những lúc cần bộc

Nguyễn Du cũng chỉ là ông quan “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Đối với
bọn này, tài tình, hiếu hạnh như Kiều cũng chỉ là một món hàng buôn qua bán
lại.

8


3.4.1.5. Bài tập 5
Đoạn văn sau đây bị lặp chủ đề (lặp ý) không? Nếu có, em hãy sửa lại cho
đoạn văn chặt chẽ, rõ ràng.
Mọi vật đều như ngưng đọng trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn
Khuyến. Cảnh vật phảng phất nối buồn man mác. Một chiếc thuyền câu bé tẻo
teo cô quạnh. Một ngõ trúc vắng vẻ đìu hiu. Mọi vật thấm đượm cái buồn cô
đơn. Nỗi buồn tràn vào cảnh vật. Ở chỗ nào cũng chỉ thấy nỗi buồn ngưng đọng.
Chiếc thuyền buồn, ngõ trúc buồn, và cả chiếc lá vàng rơi cũng buồn. Nỗi buồn
ẩn giấu trong mọi sự vật. Mùa thu ở đây buồn hay chính tâm tư của Nguyễn
Khuyến buồn.
Gợi ý:
Đoạn văn bị lặp khá nhiều ý:
- Mọi vật như ngưng đọng – nỗi buồn ngưng đọng.
- Lặp nhiều lần từ “nỗi buồn” (không có mục dích nhấn mạnh).
- Cô quạnh – cô đơn
Đoạn văn có thể viết lại như sau để tránh lặp những ý không cần thiết và
đỡ lặp lại từ ngữ:
Mọi vật đều như ngưng đọng trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn
Khuyến. Cảnh vật phảng phất nối buồn man mác. Một chiếc thuyền câu bé tẻo
teo. Một ngõ trúc quanh co, vắng vẻ. Một chiếc lá vàng lạnh lẽo, cô đơn. Nỗi
buồn đã ẩn giấu trong tất cả mọi vật. Mùa thu ở đây buồn hay chính tâm tư của
Nguyễn Khuyến buồn.
3.4.1.6. Bài tập 6

đánh đuổi quân Minh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Cửa biển Bạch Đằng
lập chiến công lững lẫy non sông. Những tên tuổi đó sẽ sống mãi cùng non sông
đất nước.
Gợi ý:
Một số lỗi cụ thể trong đoạn văn như sau:
- Liệt kê lộn xộn, không theo trình tự thời gian của các triều đại.
- Phản ánh sai thực tế khách quan: Lê Lợi không đánh tan quân Nguyên, Trần
Hưng Đạo không đánh tan quân Minh.
- Câu “Cửa biển Bạch Đằng lập chiến công lững lẫy non sông” cần đặt ngay
sau câu “Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán” vì nó bổ sung nghĩa cho chính
câu này.
Đoạn văn có thể được viết lại như sau:
Lịch sử dân tộc ta ghi lại biết bao trang sử hào hùng với những tên tuổi sáng
chói muôn đời không quên. Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán . Cửa biển
Bạch Đằng lập chiến công lững lẫy non sông. Trần Hưng Đạo lãnh đạo nhân
dân đánh đuổi quân xâm lược Nguyên Mông giành lại nền độc lập cho Tổ quốc.
Lê Lợi phá tan quân Minh. Ải Chi Lăng mãi mãi là nơi mồ chôn quân xâm lược.
Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh giành lại độc lập. Những tên tuổi đó sẽ mãi
mai sống cùng non sông đất nước.
3.4.2.2. Bài tập 2
Hãy phát hiện lỗi lôgic ở các đoạn văn sau và sửa lại cho hợp lí.
a. “ Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây…”. Tiếng súng của giặc Tây nổ ra đột
ngột phá tan cảnh sống yên lành của nhân dân. Câu thơ gợi cảm giác kinh hoàng
về cái tai họa ập đến quá bất ngờ khiến cho người dân dường như thấy bóng giặc
đã thấy tội ác của giặc. Chính tiếng súng đó đã đẩy nhân dân ta vào cảnh khốn
khổ, điêu linh. Cái cảnh “lũ trẻ bỏ nhà”, “bầy chim mất ổ” tan tác, nháo nhác
đã gây ấn tượng mạnh trong lòng người đọc. Rõ ràng là tác giả phải có sự cảm
thông sâu sắc, sự thương yêu gắn bó với nhân dân mới có sự tưởng tượng và
phác họa được nhưng hình ảnh chân thực, đầy xúc động đến như vậy.
b. Đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong cảnh màn đêm buông xuống. sóng biển

trắng muốt mà cánh lại đen.
+ Dùng sai từ “chúng”.
+ Đã “lạ” thì không thể “ ở bất kì chỗ nào ta cũng có thể thấy chúng”, “bắt
được không biết bao nhiêu mà kể”.
Đoạn văn có thể được sửa chữa như sau:
Trong rừng có con chim lạ. Lông và cánh của nó trắng muốt. Nó chuyền từ
cây nọ sang cây kia, khó mà có thể bẫy được .
3.4.2.3. Bài tập 3
Nam Cao viết nhiều về nông thôn. Lão Hạc ăn bả chó tự tử để tránh đói. Anh
cu Phúc chết lặng lẽ trong xó nhà ẩm ướt trước những đôi mắt ‘dại đi vì quá đói”
của hai đứa con (Điếu văn). Bà cái Tí chết vì một bữa no, tức là một kiểu chết vì
quá đói (Một bữa no). Lại có cả cảnh đám cưới, nhưng cưới để chạy đói.
Đoạn văn trên mắc lỗi gì? Hãy sửa lại cho hợp lí.
Gợi ý:
Đoạn văn trong bài tập trên đã mắc lỗi: câu chủ đề không phù hợp với nội
dung những câu đã triển khai. Đoạn văn trên có thể được sửa theo 2 cách:
- Cách 1: giữ lại câu chủ đề và triển khai phần sau sao cho phù hợp với câu
chủ đề đã nêu.
- Cách 2: bỏ câu chủ đề và lập câu chủ đề khác cho phù hợp với câu đã triển
khai. Với những câu đã có trong đoạn văn này, ta có thể lập câu chủ đề như sau:
“Nam Cao đã viết khá nhiều về cái đói”.
3.4.2.4. Bài tập 4
Hãy phân tích và sửa lỗi trong đoạn văn sau:
11


Tác phẩm “Sống mòn” của Nam Cao tập trung đi sâu vào cái bi kịch về tâm
hồn con người trong cái xã hội không cho con người sống, có ý thức về sự sống
mà không được sống, bị nhấn chìm trong cái chết mòn không gì cưỡng lại được.
Thứ phải sống trong cảnh “ cái lối sống quá ư loài vật, chẳng còn biết gì ngoài

3.5.1. Lỗi sử dụng phương tiện liên kết
3.5.1.1. Bài tập 1
Các đoạn văn sau có mắc lỗi về sử dụng phương tiện liên kết không? Nếu
có, em hãy sửa lại cho phù hợp với nội dung của đoạn.
a. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều có sức mạnh ghê gớm. Người thứ nhất có tài
vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc
lên từng dãy đồi núi. Còn Sơn Tinh thì lại có tài khác: gọi gió, gió đến, gọi mưa,
mưa về. Cả hai đều có sức mạnh ghê người và đều tỏ ra quyết liệt trong cuộc
giao tranh sống mái. Thủy Tinh hô mưa gọi gió làm giông làm bão rung cả trời
đất. Sơn Tinh bốc từng quả đồi, từng dãy núi, dựng bức thành cao chặn đứng
12


dòng nước. Trận chiến diễn ra ngày càng dữ dội. Nhưng cuối cùng phần thắng
thuộc về Sơn Tinh vì Sơn Tinh có tài nghệ không thua kém gì Thủy Tinh.
b. “ Bến đò xuân đầu trại” và “Cuối xuân tức sự” là hai bài thơ trữ tình tiêu
biểu và độc đáo của Nguyễn Trãi. Nét đặc sắc ở đây là cả hai bài đều tả cảnh
mùa xuân, nhưng một bài là cảnh một bến đò ở giữa đồng quê vào một ngày
mưa xuân, còn bài kia là cảnh thiên nhiên nơi tác giả đang sống ẩn dật vào một
ngày cuối xuân. Bằng vài ba nét phác họa tác giả đã dựng lên được trước mặt ta
một cảnh thiên nhiên đơn sơ mà xinh đẹp. Cả một vùng cỏ xuân tươi xanh phủ
kín một vùng. Lại có những hạt mưa xuân từ lưng trời rơi xuống điểm xuyết cho
cảnh vật những nét gợi cảm lạ thường.Còn trong bài khác, tác giả cũng đã phác
họa ra cảnh và người với những nét độc đáo. Tuy suốt ngày khép kín mình trong
phòng văn, nhưng con người ở đây vẫn sống gắn bó, chan hòa với thiên nhiên.
c. Thúy Kiều và Thúy vân đều là con gái của ông bà Vương viên ngoại. Nàng
là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống hòa thuận hạnh phúc với cha mẹ. Họ sống
êm ấm dưới một mái nhà, cùng có những nét xinh đẹp tuyệt vời. Vẻ đẹp của
Kiều hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. Còn Vân lại có nét đẹp đoan trang,
thùy mị. Còn về tài thì nàng hơn hẳn Thúy Vân. Thế nhưng nàng đâu có được

(Thúy Vân và Thúy Kiều), làm cho từ “ nàng” trở nên không xác định. “Nàng”
thay thế cho Thúy Vân hay cho Thúy Kiều? Bởi vậy, để chữa lại, ta thay thế từ
“ nàng” bằng tên gọi cụ thể của nhân vật.
Câu thứ 6 thiếu liên kết với 5 vì “ nàng” không thế cho Thúy Vân, bởi
vậy nên đi sau câu thứ 5, từ “nàng” rất dễ bị người đọc hiểu là thay cho Thúy
Vân. Và nếu vậy, câu sẽ trở nên vô nghĩa: Còn về tài thì Thúy Vân (nàng) hơn
hẳn Thúy Vân.
Đoạn văn có thể chữa lại như sau:
Thúy Kiều và Thúy Vân đều là con gái của ông bà Vương viên ngoại. Thúy
Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống hòa thuận cùng cha mẹ. Thúy Kiều
và Thúy Vân đều có những nét xinh đẹp tuyệt vời. Vẻ đẹp của Kiều hoa cũng
phải ghen, liễu cũng phải hờn. Vẻ đẹp của Thúy Vân đoan trang, thùy mị. Nhưng
về tài thì Thúy Kiều hơn hẳn Thúy Vân. Song Thúy Kiều đâu được hưởng hạnh
phúc.
3.5.1.2. Bài tập 2
Các đoạn văn sau đây đã dùng sai (hoặc thiếu) phương tiện liên kết khiến cho
nội dung đoạn văn có thể bị hiểu sai lạc.Em hãy phát hiện và sửa lại cho phù
hợp với nội dung của đoạn:
a. Năm mười chín, chị đẻ đứa con trai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong
hai năm rồi chết. Chị làm quần quật phụng dưỡng cha mẹ chồng, bú mớm cho
con, có những ngày ngắn ngủi, con bệnh lui đi, chồng chị yêu thương chị như
một người phát cuồng.
b. Cảnh vật trong bài thơ “ Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến thật là vắng
vẻ. Ngõ trúc quanh co, sóng nước gợn tí, lá vàng đưa vèo, chiếc thuyền bé tẻo
teo… Cảnh vật dường như ngưng đọng, im lìm. Bởi vậy, nét bút của Nguyễn
Khuyến đã tạo dựng được rất thành công cảnh sắc im ắng ấy.
c. Đã mười một giờ đêm. Tôi trằn trọc mãi không sao ngủ được. Nằm bên
cạnh, em tôi đã ngủ say từ bao giờ. Ngày mai đã phải thi môn sinh rồi mà bài
chưa học. Tôi quyết định trở dậy và bật đèn. Lấy sách ra và tiếp tục ngồi học.
Gợi ý:

Hãy làm sáng tỏ câu ca dao trên”.
Với đề bài này, có những đoạn văn mở đề như dưới đây. Em hãy phân
tích những cách mở đề ấy xem có phù hợp với nội dung bài viết không? Nếu
chưa thỏa đáng, em hãy sửa lại cho phù hợp.
a. Chúng ta làm gì cũng cần đến tập thể. Tinh thần tập thể sẽ cho ta thêm sức
mạnh, thêm niểm tin. Biết dựa vào tập thể, việc gì ta cũng có thể vượt qua được.
Bởi vậy, nhân dân ta có câu ca dao :
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
b. Mỗi con người chỉ là một hạt cát trên sa mạc, chỉ là một giọt nước trong
biển cả. Một hạt cát không thể làm nên sa mạc, một giọt nước không thể tạo
thành đại dương. Cũng như vậy, con người cũng không thể làm thành một thế
giới. Con người sống cần có tập thể, phải hòa mình vào tập thể. Chính vì vậy,
chúng ta hoàn toàn đồng ý với quan niệm mà câu ca dao “Một cây làm chẳng
nên non” đã đề cập đến.
c. Sống trong xã hội, con người không phải chỉ biết có mình mà còn phải biết
tới những người khác. Ta cần vì mọi người mà lao động, mà cống hiến cả tâm
hồn ta, cả sức lực của ta. Nhưng ngược lại, sống trong tập thể, mọi người cũng
sẽ vì ta, luôn luôn giúp ta, động viên ta, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn cùng ta. Ta
vì mọi người, mọi người vì ta, đó là mối quan hệ khăng khít tạo nên sức mạnh.
Bởi thế nhân dân ta khuyên:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Cũng với đề làm văn như trên, ta có một vài đoạn kết luận dưới đây. Em
hãy xem kết luận có phù hợp với nội dung yêu cầu của đề bài không?
15


d. Trên đây chỉ là một trong những câu ca dao hay trong kho tàng ca dao Việt
Nam. Câu ca dao này như nhắc nhở ta luôn vì tập thể, vì sức mạnh chung mà

ngoái, một tiếng trên không ngỗng nước nào”…
b. Ở trên chúng ta đã nói tới “tài” của Thúy Kiều, bây giờ chúng ta sẽ nói tới
“sắc” của Thúy Kiều. Nguyễn Du như mở đầu bức chân dung Thúy Kiều bằng
nét bút tuyệt xảo của mình. Nguyễn Du đã dành cho nàng tấm lòng ưu ái đặc
biệt. Bằng một loạt những hình thức tu từ: như ước lệ, ẩn dụ… Nguyễn Du đã
cho ta thấy Thúy Kiều đẹp hơn hẳn Thúy Vân. Nàng đẹp nhưng lại rất mực tài
hoa: biết làm thơ, biết đánh đàn, biệt họa… Tài nào ở nàng cũng điêu luyện,
cũng thành “nghề” cả.
Gợi ý:
Những câu chuyển tiếp ý chỉ ra một nội dung nhưng câu tiếp sau lại triển khai
theo một nội dung khác. Chính vì thế mà các ý không ăn khớp với nhau. Ở đoạn
16


a, chỉ ra nội dung định trình bày là bài “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến,
nhưng lại viết về mùa thu trong thơ Việt Nam nói chung. Cách triển khai như
vậy là không phù hợp. Có thể chữa lại đoạn này bằng cách thêm một ý chuyển
vào đầu đoạn văn thứ hai. Chẳng hạn như: Trước hết, chúng ta hãy đến với mùa
thu trong thơ ca Việt Nam, và trên cơ sở đó chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ về mùa thu
thơ Nguyễn Khuyến nói chung và mùa thu trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của
ông.
Ở đoạn b, nội dung phần dẫn cho ta rõ người viết định trình bày về “sắc”
của Thúy Kiều nhưng phần triển khai đã đi chệch hướng đó. Đoạn văn có thể
chữa lại như sau:
Ở trên chúng ta đã nói tới “tài” của Thúy Kiều, bây giờ chúng ta sẽ nói tới
“sắc” của Thúy Kiều bằng những nét bút tuyệt diệu. Đó là con người có vẻ đẹp
đến mức “nghiêng nước, nghiêng thành”, đến “hoa ghen thua thắm, liễu hờn
kém xanh”. Có lẽ trên đời này ít ai có thể sánh được với cái vẻ đẹp đó.
3.5.2. Lỗi về dung lượng đoạn
3.5.2.1. Bài tập 1

a. Phần này có thể tách thành 3 đoạn:
- Đoạn 1 từ: Lão Hạc là… tủi cực biết chừng nào - đây là một đoạn ý ( nội
dung tương đối hoàn chỉnh), có đối tượng tường thuật là cuộc sống của Lão Hạc.
- Đoạn 2 từ: Lão đã vậy… không biết ngày nào trở lại - đây cũng là một
đoạn ý, có đối tượng tường thuật là con trai Lão Hạc.
- Đoạn 3 từ: Lão Hạc cứ ngày ngày… thê thảm, tủi hờn - đây vẫn là đoạn
ý, có đối tượng tường thuật là cuộc sống của Lão Hạc trong những ngày cuối
đời.
b. Phần này có thể tách thành 2 đoạn:
- Đoạn 1 từ: Cuộc đời Phan Bội Châu… bài thơ này - đây là phần giới
thiệu.
- Đoạn 2 từ: Baì thơ mở đầu… vào trận mới - đây là phần đi sâu vào tìm
hiểu bài thơ.
3.5.2.2. Bài tập 2
Dưới đây là một bài làm văn mắc lỗi không biết cách phân đoạn trong toàn
bài viết. Hãy dựa vào nội dung bài, em chữa lại cho hợp lí.
Bài thơ “ Đồng chí” của Chính Hữu ra đời cách đây hơn bốn mươi năm
rồi. Thế mà lúc nào đọc lại bài thơ em cũng thấy lòng mình ấm áp, tràn ngập
niềm vui lâng lâng, khó tả. Bài thơ đã giúp em hiểu được như thế nào là lòng
tình đồng chí, đồng đội, tình yêu của những người cùng chung lí tưởng. Đọc bài
thơ, em gặp được những anh bộ đội Cụ Hồ ở khắp miền đất nước. Nào là nơi
“nước mặn đồng chua”, nào là nơi “đất cày lên sỏi đá”. Họ là những người
chẳng hẹn quen nhau nhưng vì tình yêu Tổ Quốc mà đến với nhau, cùng chia
ngọt sẻ bùi với nhau, rồi họ trở thành những người tri kỉ, những người đồng chí
thân thiết.
Phần lớn những anh bộ đội cụ Hồ là những người nông dân mặc áo lính.
Trước khi vào bộ độ họ đã khổ, nhưng khi vào bộ đội rồi họ chẳng có gì sung
sướng hơn. Áo của họ rách vai, quần của họ vẫn nhiều mảnh vá, chân không
giày mà lại sống ở nơi “ rừng hoang sương muối”, bị những cơn sốt run người
hoành hành. Vất vả, gian khổ, thiếu thốn đủ mặt nhưng có điều đọc cả bài thơ

Ông phê phán thái độ bàng quan, vô trách nhiệm đối với Tổ quốc của họ.
Và kịch liệt hơn nữa khi ông phê phán thái độ thiếu tự tôn, tự trọng của
tướng sĩ trước những thói ngạo mạn của kẻ thù.
Tiếp đó, ông đã thẳng thắng vạch trần mọi thói ăn chơi hưởng lạc, tầm
thường, thậm chí thấp hèn của các tướng sĩ trước cảnh Tổ quốc lâm nguy.
Những lời lẽ của ông ở đây thật quyết liệt, mạnh mẽ.
Gợi ý:
Đoạn văn có thể được tách lại như sau:
Nhiệt tình yêu nước của Trần Quốc Tuấn được thể hiện rõ ràng, mạnh
mẽ ở thái độ phê phán nghiêm khắc của ông đối với sai lầm của các tướng sĩ
dưới quyền.
Trước hết ông chỉ trích mạnh mẽ thái độ bạc tình, bạc nghĩa của các
tướng sĩ đối với chủ soái. Ông phê phán thái độ bàng quan, vô trách nhiệm đối
với Tổ quốc của họ. Và kịch liệt hơn nữa khi ông phê phán thái độ thiếu tự tôn,
tự trọng của tướng sĩ trước những thói ngạo mạn của kẻ thù.
Tiếp đó, ông đã thẳng thắng vạch trần những thói ăn chơi hưởng lạc, tầm
thường, thậm chí thấp hèn của các tướng sĩ trước cảnh Tổ quốc lâm nguy.
Những lời lẽ của ông ở đây thật là quyết liệt, mạnh mẽ.
4. Hiệu quả
Đề tài “Rèn luyện kĩ năng phát hiện và sửa chữa lỗi đoạn văn trong bài văn
nghị luận” đã được áp dụng cho học sinh lớp 11 trường THPT Phan Bội Châu Cam Ranh - Khánh Hòa năm học 2013 – 2014. Sau khi được giáo viên hướng
dẫn, thường xuyên rèn luyện kĩ năng năng phát hiện và sửa chữa lỗi đoạn văn thì
đã giảm được tình trạng học sinh mắc lỗi về đoạn văn, các em có thể tự phát
hiện và sửa chữa những lỗi thông thường mà mình hay mắc phải. Điểm trung
19


bình của các lớp đã được cải thiện rất nhiều. Điểm trung bình các bài kiểm tra
trước khi tác động của lớp đối chứng là 6.1, lớp thực nghiệm là 5.9. Sau khi có
tác động thì điểm trung bình của các lớp như sau: lớp đối chứng là 6.2, lớp thực

3. Lê Thường (2007), Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong văn nghị luận,
NXB Giáo dục
4. Đinh Trọng Lạc (1999), 300 bài tập phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo
dục
5. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục
6.Diệp Văn Ban , Hoàng Văn Thung (2002), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo
dục
7.Trần Đình Sử (2006), Luyện viết bài văn hay, NXB Giáo dục
8. Đỗ Việt Hùng (2003), Sổ tay kiến thức tiếng Việt , NXB Giáo dục
9. Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa (2005), Lỗi từ vựng và cách
khắc phục, NXB Khoa học xã hội
10.Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (2003), Tiếng Việt thực hành, NXB
Giáo dục
11.Trần Ngọc Thêm (2000), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo
dục
12.Nguyễn Thị Việt Thành (2000), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, NXB
Giáo dục
13. Đỗ Thị Kim Liên (2002), Bài tập ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục
14. Vũ Ngọc Khánh (2006), Bí quyết giỏi Văn, NXB Giáo dục
15.Nguyễn Thị Thìn (2001), Câu tiếng Việt và nội dung dạy – học câu ở trường
phổ thông, NXB Giáo dục
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển thuật ngữ văn
học, NXB Giáo dục Việt Nam
17. Hồ Lê, Lê Trung Hoa (2003), Sửa lỗi ngữ pháp (Lỗi về kết cấu câu), NXB
Khoa học xã hội
18.Nguyễn Như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB
Giáo dục
19.Phan Trọng Luận (chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 (tập1, tập 2), NXB
Giáo dục
20. Phan Trọng Luận (chủ biên), Sách giáo viên Ngữ Văn 11 (tập1, tập 2), NXB

35

35

Khá giỏi 25,6%

30,2%

Nam

7

0

T.Bình

65,1%

Nữ

28

35

Yếu

9,3%

Lớp
TN

39.6
%

ĐC

2. Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước tác động
Trường THPT Phan Bội Châu
Tổ Văn

BÀI KIỂM TRA TRƯỚC TÁC ĐỘNG
MÔN VĂN
Thời gian: 90 phút
Đề bài: Tài năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc của Hồ Xuân Hương qua bài “Tự
tình”
(bài II)
Đáp án
1. Yêu cầu về kỹ năng: Biết cách làm một bài văn nghị luận văn
học. HS có thể tự do lựa chọn phương thức biểu đạt, trong đó chủ
yếu là phương thức nghị luận với sự kết hợp các thao tác lập
luận.Hành văn cần chặt chẽ, có dẫn chứng, có sức thuyết phục,
diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Đặc
biệt cần có ý kiến riêng của mình.

Điểm

2.Yêu cầu về kiến thức: HS có thể trình bày theo các cách khác
nhau nhưng cần nêu đựơc các ý chính sau:
2.1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm và chủ đề của bài viết.
2.2. Dùng văn tự Nôm.


4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19

HỌ VÀ TÊN
Huỳnh Nguyễn Linh
Bùi Thị Hoàng
Trịnh Thị Mỹ
Nguyễn Thị Kim
Nguyễn Thị Mỹ
Phạm Nguyễn Kim
Lê Thị Mỹ
Nguyễn Thị Kim
Phan Thị Bích
Nguyễn Thị Bích
Hồ Ngọc Minh
Lê Nguyễn Kiều

5.0
Linh
7.0
Linh
5.0
Linh
5.0
Mai
7.0
Ngân
5.0
Ngọc
7.0
Nguyên
5.0
Nguyện
6.0
23


20
21
22
23
24
25
26
27
28
29

Quỳnh
Sen
Thoa
Thư
Thư
Trâm
Trâm
Trâm
Tuyền
Vy

7.0
7.0
6.0
6.5
8.0
7.0
6.5
7.0
8.0
6.0
6.5
7.0
5.0
5.0
6.0
7.0

LỚP THỰC NGHIỆM
STT

Nguyễn Hoài Phương
Trần Khắc
Nguyễn Ngọc Khánh
Võ Hữu
Nguyễn Thị Thái
Cao Xuân
Trần Thị Trúc
Đặng Huỳnh Huy

ĐIỂM
Châu
5.5
Doanh
5.0
Duyên
6.5

4.0
Hạnh
7.0
Hạnh
7.0
Huệ
5.0
Huy
6.0
Huyền
4.0
Khang
3.5

30
31
32
33
34
35

Cao Vũ Quỳnh
Nguyễn Thị Kim
Nguyễn Thị Trúc
Phạm Thị Trúc
Võ Hoàng Kim
Nguyễn Thị Ngọc
Nguyễn Thị Mỹ
Phạm Thuỷ
Dương Ngọc Huyền
Nguyễn Thị Tuyết
Nguyễn Thị Thanh
Lê Diệp Bích
Nguyễn Hoàng
Lê Tường
Lê Nguyên Hoàng
Cao Nhật Tường
Nguyễn Phi

Nhi
Oanh
Phương
Quyên
Quyên


4. Phụ lục 4: giáo án thực hiện giải pháp thay thế ở lớp thực nghiệm
Ngày soạn: 27/11/2013
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG PHÁT HIỆN VÀ SỬA CHỮA LỖI ĐOẠN VĂN
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN (2tiết)
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức :
- Ôn tập và củng cố kiến thức về đoạn văn trong bài văn nghị luận.
- Biết phát hiện lỗi trong đoạn văn.
- Biết cách chữa lỗi đoạn văn trong bài viết của mình cũng như của người khác.
- Tránh việc mắc lỗi thông thường về đoạn văn
2. Kĩ năng : rèn kĩ năng phát hiện và sửa lỗi đoạn văn trong bài văn nghị luận.
3. Tư tưởng, tình cảm : bồi dưỡng cho học sinh sự yêu thích môn Ngữ văn.
4. Giáo dục kĩ năng sống: tư duy sáng tạo, giao tiếp
II.CÁC BƯỚC LÊN LỚP
1. ỔN ĐỊNH LỚP: kiểm tra sỉ số, vệ sinh, tác phong…
2. KIỂM TRA BÀI CŨ: (5 phút)
Kiểm tra vở soạn của học sinh
3. BÀI MỚI:
* Giới thiệu bài mới: Nhằm giúp các em ôn tập và củng cố thêm kiến thức về
đoạn văn và biết phát hiện lỗi trong đoạn văn, biết cách chữa lỗi đoạn văn trong
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status