KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID TRONG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TẬP ĐOÀN WALMART VÀ BÀI HỌC CHO CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---------***--------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID
TRONG CHUỖI CUNG ỨNG CỦA TẬP ĐOÀN
WAL-MART VÀ BÀI HỌC CHO
CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên

: Trương Nguyễn Ánh Hồng

Mã sinh viên

: 1211120051

Lớp

: Anh 9

Khóa

: K51

Người hướng dẫn khoa học : ThS. Phạm Thanh Hà

Hà Nội, tháng 5 năm 2016


2.3.2. Điểm hạn chế của công nghệ RFID và cách khắc phục của Wal-Mart ...55


Chương 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID
VÀO CHUỖI CUNG ỨNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT
NAM .........................................................................................................................59
3.1. Tổng quan về thị trường bán lẻ Việt Nam ......................................................59
3.1.1. Tình hình kênh bán lẻ truyền thống tại Việt Nam ....................................60
3.1.2. Tình hình kênh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam ..............................................60
3.2. Sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ RFID tại Việt Nam .....................63
3.2.1. Tình hình ứng dụng công nghệ RFID tại Việt Nam .................................63
3.2.2. Tình hình ứng dụng công nghệ RFID trong vận hành chuỗi cung ứng của
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam .....................................................................67
3.2.3. Sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ RFID trong vận hành chuỗi
cung ứng của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam ..............................................69
3.3. Phân tích SWOT về việc triển khai ứng dụng công nghệ RFID vào chuỗi
cung ứng cho các doanh nghiệp Việt Nam ............................................................70
3.3.1. Điểm mạnh (Strengths) .............................................................................70
3.3.2. Điểm yếu (Weaknesses) ............................................................................71
3.3.3. Cơ hội (Opportunities) .............................................................................72
3.3.4. Thách thức (Threats) ................................................................................73
3.4. Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp đề xuất về việc ứng dụng công nghệ
RFID vào chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Việt Nam .................................74
3.4.1. Bài học kinh nghiệm .................................................................................74
3.4.2. Một số giải pháp đề xuất ..........................................................................78
KẾT LUẬN ..............................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................96
PHỤ LỤC ...............................................................................................................101




Tên viết tắt
APS

CPFR

CRM

Tên Tiếng Anh
Advanced Planning and
Scheduling

Tên Tiếng Việt
Chương trình lập kế hoạch tối ưu

Collaborative Planning,

Giải pháp lên kế hoạch, cộng tác

Forecasting and Replenishment

dự đoán và bổ sung hàng hóa

Customer relationship
management

Quản lý quan hệ khách hàng

The Council of Supply Chain



Agreements

vụ

POS

Point of Sales

Điểm bán lẻ

TDMA

Time Division Multiple Access

RF

Radio Frequency

RFID

Radio Frequency Identification

SCM

Supply Chain Management

PSA

SCOR

nước ngoài theo cam kết khi gia nhập WTO; khu vực kinh tế chung ASEAN (AEC)
chính thức có hiệu lực cho phép các dòng tài nguyên, hàng hóa, vốn nhân lực… di
chuyển tự do và thuận lợi trong nội khối; các hiệp định FTA, TPP được kí kết thúc
đẩy xu hướng mua bán, sáp nhập trong ngành công nghiệp bán lẻ.
Một câu hỏi lớn đặt ra là “Nước chủ nhà Việt Nam sẽ đứng ở đâu trước các
vị khách khổng lồ và đáng gờm như vậy?”. Sức ép cạnh tranh bán lẻ đang từng
ngày đè nặng lên các doanh nghiệp sản xuất và phân phối trong nước. Không ít lời e
ngại Việt Nam sẽ mất chỗ đứng khi mà hệ thống chuỗi siêu thị, cửa hàng bán lẻ của
Viê ̣t Nam tuy có nhiều cải tiến và được nâng cấp nhưng vẫn thiếu tính chuyên
nghiệp, từ công nghệ quản trị chuỗi cung ứng, tổ chức trưng bày hàng hóa, giá cả
thiếu cạnh tranh, nguồn hàng chưa phong phú, mức độ kiểm soát chất lượng hàng
hóa chưa đáp ứng yêu cầu, mạng lưới chưa rộng khắp và chưa tương xứng với đa
dạng nhu cầu của khách hàng. Thị trường bán lẻ Việt Nam đang bộc lộ nhiều khiếm
khuyết, nhưng khuyết điểm lớn nhất là thiếu tính liên kết giữa các lực lượng tham
gia thị trường bán lẻ và thiếu đi một nhạc trưởng trong từng mảng kinh doanh phân
phối; chính vì thế mà các nhà cung cấp mạnh ai nấy rao, nhà bán lẻ mạnh ai nấy
bán, cạnh tranh lẫn nhau, dẫn tới tất cả đều phát triển manh mún, thiếu bài bản. Các
doanh nghiệp bán lẻ tạo được niềm tin đối với các nhà sản xuất, nhà cung cấp, đảm
bảo được nguồn hàng ổn định phục vụ người tiêu dùng không nhiều, chỉ có một vài
doanh nghiệp thuần Việt như Chuỗi cửa hàng tiện lợi Vin-mart, Chuỗi siêu thị Co-


2

opmart, Chuỗi siêu thị Hapro-mart, Chuỗi siêu thị điện máy Thế giới di động, Công
ty Cổ phần Vàng Bạc Đá Quý Phú Nhuận (PNJ), … là bước đầu làm được điều đó.
Vậy làm sao để các doanh nghiệp bán lẻ trong nước khắc phục được những
thiếu sót nêu trên? Không có bất cứ một tập đoàn bán lẻ nào trên thế giới lại không
băn khoăn và trăn trở với những vấn đề đó. Thậm chí để tồn tại và phát triển như
ngày hôm nay Wal-Mart - một trong những tập đoàn bán lẻ luôn đạt được doanh thu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này là:
● Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về chuỗi cung ứng bằng việc đưa ra các
khái niệm, các đặc điểm nổi bật của chuỗi cung ứng.
● Làm rõ khái niệm, cấu tạo, cách thức hoạt động của công nghệ RFID và cách
ứng dụng công nghệ RFID trong vận hành chuỗi cung ứng.
● Phân tích kinh nghiệm ứng dụng công nghệ RFID của tập đoàn Wal-Mart và
những thành tựu mà tập đoàn này đã đạt được khi ứng dụng công nghệ này.
● Phân tích các vấn đề phát sinh còn tồn động trong hoạt động chuỗi cung ứng
của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam và nhu cầu cần thiết của việc ứng
dụng công nghệ RFID.
● Đề xuất các kiến nghị ứng dụng công nghệ RFID một cách hợp lí và có hiệu
quả cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động ứng dụng công nghệ RFID của
tập đoàn Wal-Mart trong chuỗi cung ứng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Ứng dụng công nghệ RFID trong chuỗi cung ứng tại tập đoàn
Wal-Mart.
Về thời gian: Tình hình ứng dụng công nghệ RFID tại tập đoàn Wal-Mart từ
năm 2003 đến năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: thu thập, tổng hợp và xử lý
thông tin từ các công trình, bài báo có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các
công trình trong nước và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra: khảo sát một số doanh nghiệp bán lẻ để thu thập
thông tin.
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: thông qua các biện pháp so
sánh, phân tích, diễn dịch, quy nạp để xử lí số liệu.


chiều của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ điểm nguồn đến khách hàng”.
Khái niệm này làm rõ hơn tính liên kết của chuỗi cung ứng, thể hiện ở các dòng
chảy qua các thành phần tham gia chuỗi.
Theo Martin Christiopher (2005, tr.17), “chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ
chức, qua các liên kết xuôi chiều và ngược chiều, tham gia vào các công đoạn và
các hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị dưới dạng sản phẩm và dịch vụ cho
người tiêu dùng cuối cùng”. Khái niệm này mô tả chuỗi cung ứng như một “mạng
lưới” phức tạp, bởi trên thực tế, mỗi doanh nghiệp tham gia trong chuỗi thường
cùng lúc làm việc trực tiếp với nhiều nhà cung cấp và nhiều khách hàng khác nhau.
Khái niệm của Chopra Sunil và Peter Meindl (2007, tr.3) chỉ ra các thành
phần tham gia chuỗi cung ứng: “chuỗi cung ứng bao gồm mọi thành phần có liên
quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng; chuỗi cung ứng
bao gồm không chỉ nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn cả nhà vận chuyển, kho
hàng, người bán lẻ và bản thân khách hàng”. Đồng thời, Chopra cũng chỉ ra các
hoạt động chuỗi cung ứng trong một tổ chức: “Trong phạm vi mỗi tổ chức, ví dụ
như nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao hàm tất cả các chức năng liên quan đến việc


6

nhận đơn hàng và thực hiện đơn hàng. Những chức năng này bao gồm và không bị
giới hạn trong việc phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài
chính và dịch vụ khách hàng”.
Theo quan điểm của người viết, chuỗi cung ứng là tập hợp các tổ chức và cá
nhân đóng vai trò là các mắt xích nối liên tiếp nhau, tham gia liên kết và tương tác
với nhau, thực hiện các công đoạn khác nhau, với mục đích cung ứng sản phẩm và
dịch vụ tới khách hàng cuối cùng.
1.1.1.2. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM) lần
đầu tiên được đưa ra bởi Oliver và Webber năm 1982 trong một cuộc phỏng vấn với

cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng. Về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng hợp
nhất quản trị cung và cầu trong các công ty và giữa các công ty với nhau.”
Như vậy, đối với một doanh nghiệp, quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp
các hoạt động liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ với các thành phần tham gia
chuỗi cung ứng, nhằm tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh và cung cấp sản phẩm
đáp ứng nhu cầu khách hàng. Các hoạt động nói trên bao gồm cung ứng đầu vào,
sản xuất và phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ đến khách hàng cuối cùng.
1.1.1.3. Vai trò của chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng trong hoạt động của
doanh nghiệp
Chuỗi cung ứng là một dòng chảy nối tiếp, trong đó các thành phần tham gia
liên quan đến cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp - thành phần ngược chiều liên
kết cung cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, và thành phần xuôi chiều liên kết là
khách hàng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều tham gia
một hoặc nhiều chuỗi cung ứng nhất định. Doanh nghiệp chỉ hoạt động hiệu quả khi
chuỗi cung ứng vận hành thông suốt, đồng nghĩa với việc nguyên liệu đầu vào có
thể thu mua đầy đủ với chất lượng tốt và giá thành hợp lý, còn sản phẩm đầu ra đáp
ứng đúng yêu cầu khách hàng và có thể tiêu thụ được.
Quản trị chuỗi cung ứng có mục tiêu cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt nhất
cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất trong toàn bộ chuỗi. Do đó, các hoạt động
quản trị chuỗi cung ứng được chia nhỏ để thực hiện các nhiệm vụ: tìm nguồn
nguyên liệu đầu vào hiệu quả, tối ưu hóa quá trình luân chuyển nguyên vật liệu,
hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo sản phẩm được cung cấp đúng thời gian và địa điểm,
xây dựng quan hệ hợp tác với nhà cung cấp và khách hàng. Hoạt động chuỗi cung
ứng giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu, có thể xem là vũ khí cạnh
tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp. Số liệu trong một cuộc khảo sát về chuỗi cung
ứng thực hiện bởi đại học Michigan năm 2009 (ngay trong thời kì khủng hoảng kinh


8



Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi cung ứng đơn giản và chuỗi cung ứng mở rộng
Chuỗi cung ứng đơn giản

Nhà
cung
cấp

Công ty

Khách
hàng

Chuỗi cung ứng mở rộng

Nhà cung
cấp đầu
tiên

Nhà cung
cấp

Nhà sản
xuất

Khách
hàng

Khách
hàng cuối

quảng cáo sản phẩm tới khách hàng và có các biện pháp xúc tiến bán hàng.
● Khách hàng/ người tiêu dùng: là bất kì cá nhân hay tổ chức nào mua và sử
dụng sản phẩm, đó có thể là khách hàng tổ chức mua sản phẩm để bán lại cho khách
hàng khác, cũng có thể là người tiêu dùng cuối cùng mua sản phẩm để sử dụng.
● Các nhà cung cấp dịch vụ: là các tổ chức cung cấp các dịch vụ cho các nhà
sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ và khách hàng. Các nhà cung cấp dịch vụ cho các
thành viên khác trong chuỗi bao gồm: nhà cung cấp dịch vụ vận tải và kho hàng
(các công ty vận tải, công ty điều hành kho hàng, các công ty logistics), nhà cung
cấp dịch vụ tài chính (ngân hàng, quỹ tín dụng), nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu
thị trường và quảng cáo, dịch vụ thiết kế sản phẩm, dịch vụ kĩ thuật, dịch vụ tư vấn
pháp lý, dịch vụ công nghệ thông tin … . Trong một số chuỗi cung ứng có sự xuất
hiện không nhiều của các nhà cung cấp dịch vụ do các thành phần tham gia khác tự
thực hiện các dịch vụ đó. Tuy nhiên, ở các chuỗi cung ứng khác, các công ty chuyên
cung ứng dịch vụ nhất định có thể được thuê ngoài bởi các thành phần khác của
chuỗi. Với chuyên môn và kĩ năng riêng biệt, các công ty này có thể đạt được hiệu
quả cao hơn với chi phí thấp hơn.
Hình 1.2 mô tả một chuỗi cung ứng phức tạp có thể hình dung như một mạng
lưới với nhiều doanh nghiệp trong cùng một lớp, ở vị trí trung tâm là nhà sản xuất
thành phẩm. Ngược chiều cung ứng của nhà sản xuất thành phẩm, công ty này mua
linh kiện từ nhiều nhà cung cấp cấp 1 khác nhau. Trong khi đó, mỗi nhà cung cấp
cấp 1 này lại mua nguyên liệu từ nhiều nhà cung cấp cấp 2 khác. Cũng có trường
hợp nhà cung cấp nguyên liệu cung cấp trực tiếp nguyên liệu cần thiết cho nhà sản
xuất mà không thông qua nhà cung cấp nào khác.


11

Hình 1.2: Mạng lưới cung ứng
KH cấp 1 KH cấp 2 KH cấp 3
Nhà bán sỉ Nhà bán lẻ Người tiêu

12

xây dựng cơ sở dữ liệu đúng đắn, hợp lý để tìm được các đối tác phù hợp, nắm được
phản hồi của khách hàng, tình hình, xu hướng biến động của thị trường, từ đó hỗ trợ
doanh nghiệp ra quyết định một cách đúng đắn, hiệu quả.
Bên cạnh những phân tích cơ bản về các thành phần tham gia chuỗi cung ứng
trong phần trên, tác giả đồng thời sử dụng mô hình tham chiếu hoạt động chuỗi
cung ứng SCOR (Supply Chain Operation Reference) để tìm hiểu rõ hơn về việc
các thành phần đó liên kết với nhau và hoạt động như thế nào trong chuỗi cung ứng.
Mô hình SCOR được phát triển vào năm 1996 bởi Công ty Tư vấn Quản lý PRTM –
nay là một phần của Công ty Tư vấn Thị trường Gartner, và được công nhận bởi
Hiệp hội chuỗi cung ứng APICS (APICS Supply chain Council). Theo APICS,
SCOR được xây dựng dựa trên 5 quy trình Plan (P), Source (S), Make (M), Deliver
(D), Return (R).
Hình 1.3: Quy trình cơ bản xây dựng mô hình SCOR

Nguồn: Hiệp hội chuỗi cung ứng APICS (APICS Supply Chain Council)
Hình 1.3 mô tả các hoạt động Plan, Source, Make, Deliver, Return của mỗi
mắt xích trong chuỗi cung ứng (từ các nhà sản xuất đến các nhà phân phối, bán lẻ
và đến các khách hàng cuối cùng). Đồng thời, hình 1.3 cũng cho thấy một cái nhìn
trực quan hơn về sự gối nhau liên tục của các hoạt động Delivery-Source-MakeDelivery-…-Source, đây chính là sợi dây gắn kết các mắt xích với nhau. Điều này
có nghĩa là, mỗi doanh nghiệp (mắt xích) lập kế hoạch dựa trên những điều tra và


13

trên những cơ sở nhất định, họ tiến hành mua hàng/nguyên vật liệu theo kế hoạch.
Sự giao hàng/nguyên vật liệu của mắt xích trước là sự mua hàng, nhận hàng/
nguyên vật liệu của mắt xích sau. Sau khi có hàng/nguyên vật liệu, doanh nghiệp
tiến hành sản xuất/chế biến tạo thành phẩm và bán hàng/giao hàng cho mắt xích sau

14

để tiến hành dự báo cho mỗi loại sản phẩm: nhu cầu thị trường, cung ứng (tổng số
sản phẩm có sẵn), đặc tính sản phẩm ảnh hưởng đến nhu cầu, những hành động của
nhà cung cấp trên thị trường.
Các phương pháp dự báo bao gồm: phương pháp định tính (dựa theo quan
điểm cá nhân và trực giác) và phương pháp định lượng (sử dụng các mô hình toán
và số liệu).
● Phương pháp định tính: dựa vào trực giác hoặc đánh giá có tính phán đoán và
thường được dùng khi có rất ít dữ liệu để tiến hành dự báo. Phương pháp này có chi
phí thực hiện thấp, mặt khác, tính chính xác lại phụ thuộc nhiều vào kĩ năng và kinh
nghiệm của người dự báo cũng như lượng thông tin sẵn có. Phương pháp định tính
thường được dùng để đưa ra những dự báo trong dài hạn khi mà dữ liệu hiện tại
không thực sự hữu ích, hoặc dùng khi đưa sản phẩm mới vào thị trường khi không
tồn tại dữ liệu phục vụ cho dự báo.
● Phương pháp định lượng: bao gồm phương pháp chuỗi thời gian, phương
pháp nhân quả và phương pháp mô phỏng.
Phương pháp chuỗi thời gian sử dụng nhu cầu trong quá khứ để dự đoán nhu
cầu trong tương lai. Phương pháp này hiệu quả trong trường hợp xu hướng biến đổi
của cầu không thay đổi quá nhiều giữa các năm.
Phương pháp nhân quả được sử dụng với giả thiết nhu cầu có liên quan chặt
chẽ với một số nhân tố nhất định của thị trường (ví dụ như điều kiện nền kinh tế, tỉ
lệ lãi suất …).
Phương pháp mô phỏng là phương pháp kết hợp giữa phương pháp chuỗi
thời gian và phương pháp nhân quả để mô phỏng hành vi người tiêu dùng dưới các
điều kiện và hoàn cảnh khác nhau.
 Lập kế hoạch
Việc lập kế hoạch thường diễn ra sau khi nhà quản trị đã có dự đoán về
lượng hàng tiêu thụ trong tương lai của khách hàng. Để xây dựng được một kế
hoạch tốt, nhà quản trị không chỉ dựa vào số liệu dự đoán về lượng cầu, họ phải kết

chưa qua chế biến).
b. Cung ứng đầu vào
 Lựa chọn nhà cung cấp
Việc lựa chọn nhà cung cấp là rất quan trọng và cần dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau. Các tiêu chí doanh nghiệp có thể cân nhắc đến khi lựa chọn nhà cung
cấp bao gồm:
● Chất lượng: chất lượng hàng hóa là tiêu chí quan trọng hàng đầu khi lựa chọn
nhà cung cấp. Đời sống con người ngày càng được nâng cao, yếu tố chất lượng là
yếu tố luôn được ưu tiên xét trên phương diện người tiêu dùng, để đảm bảo sức


16

khỏe cho chính họ và những người thân trong gia đình.
● Công nghệ sản xuất, chế biến: nhà cung cấp cần có công nghệ chế biến tiên
tiến, sản xuất các sản phẩm chất lượng tốt với chi phí hợp lý.
● Chi phí: bên cạnh yêu cầu về chất lượng, cần so sánh tổng chi phí thu mua,
điều kiện thanh toán, các khoản chiết khấu, chi phí đặt hàng, chi phí vận chuyển,
logistics, chi phí bảo dưỡng … để chọn lựa nhà cung cấp phù hợp nhất.
● Vị trí: vị trí địa lý là một yếu tố quan trọng khác cần cân nhắc khi lựa chọn
nhà cung cấp. Khi xem xét về vị trí, địa điểm sản xuất kinh doanh của nhà cung cấp,
ta quan tâm đến khoảng cách vận chuyển hàng hóa (quyết định thời gian vận
chuyển, chi phí vận chuyển và logistics) cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động
vận tải.
Ngoài ra còn phải tính đến các yêu tố khác như công suất, độ tin cậy của nhà
cung cấp, sự sẵn sàng chia sẻ thông tin, dịch vụ khách hàng, sức mạnh tài chính ….
 Xây dựng và quản lý quan hệ với nhà cung cấp
Sau khi lựa chọn được nhà cung cấp, doanh nghiệp cần duy trì và phát triển mối
quan hệ với mạng lưới cung ứng của mình. Xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài
với các nhà cung cấp giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro gián đoạn nguồn cung, làm

hàng hóa cần vận chuyển, thời gian vận chuyển, giá cước vận chuyển… Tuyến
đường và lịch trình vận tải được thiết kế dựa vào vị trí các cơ sở sản xuất, kho hàng,
cửa hàng của doanh nghiệp và yêu cầu của khách hàng.
 Quản lý kho hàng
Ngày nay, kho hàng không chỉ được sử dụng với chức năng bản quản, lưu
giữ hàng hóa, mà quan trọng hơn, kho hàng là nơi gom hàng, tách hàng, sắp xếp và
phân phối hàng hóa, góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động phân phối trong chuỗi
cung ứng. Những lô hàng khối lượng lớn sau khi được chuyển đến kho sẽ được
phân loại và sắp xếp, các mặt hàng khác nhau được tập hợp và đóng gói lại theo các
đơn hàng để vận chuyển tới cơ sở sản xuất hoặc cửa hàng bán lẻ. Khái niệm trung
tâm phân phối (Distribution Center) thường được sử dụng để chỉ những kho hàng
tồn trữ, xuất nhập khối lượng lớn sản phẩm với nhiều chức năng khác nhau như thế.
Quyết định chọn địa điểm và xây dựng trung tâm phân phối được xem như là một
quyết định chiến lược vì điều này ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài
hạn. Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố liên
quan đến việc duy trì hoạt động của kho hàng như chi phí phòng ban, lao động, kỹ
năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế. . . và vị trí đó có gần và
thuận tiện đối với nhà cung cấp và người tiêu dùng hay không.


18

 Quản lý quan hệ với các nhà cung cấp dịch vụ vận tải và logistics
Thuê ngoài các hoạt động vận tải, quản lý kho hàng, logistics là lựa chọn của
nhiều doanh nghiệp nhằm tận dụng lợi thế quy mô, kinh nghiệm hoạt động của các
công ty cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Để hoạt động thuê ngoài được hiệu quả,
cần thường xuyên xây dựng và củng cố mối quan hệ với các nhà cung cấp dịch vụ,
thông qua việc đánh giá và hỗ trợ hoạt động của họ. Quản lý quan hệ với các nhà
cung cấp dịch vụ và quản lý quan hệ với các nhà cung cấp các nguyên liệu đầu vào
có nhiều điểm tương đồng, khác biệt lớn nhất là sản phẩm doanh nghiệp nhận được

khi chúng được di chuyển giữa các vị trí địa lý khác nhau.
1.2.2. Cấu tạo và nguyên lí hoạt động của RFID
1.2.2.1. Cấu tạo của hệ thống RFID
Theo ThS Nguyễn Văn Hiệp (2010, tr.11) Một hệ thống RFID toàn diện bao
gồm 7 phần:
 Thẻ RFID (RFID Tag) được lập trình điện tử với thông tin duy nhất
 Đầu đọc RFID (RFID Reader)
 Anten của Reader
 Mạch điều khiển
 Bộ phận cảm biến (Sensor)
 Máy chủ quản lí thông tin (Server/ Host Computer)
 Cơ sở hạ tầng truyền thông
a. Thẻ RFID (RFID Tag)
Thẻ RFID gồm chip bán dẫn nhỏ và anten thu nhỏ, được đóng gói dưới các
hình thức khác nhau. Mỗi thẻ được lập trình với một nhận dạng duy nhất cho phép
theo dõi không dây đối tượng, con người hoặc vật thể đang gắn thẻ đó. Các chip
được sử dụng trong thẻ RFID có thể lưu trữ một khối lượng lớn dữ liệu, chúng có
thể chứa thông tin như chuỗi số, hướng dẫn cấu hình, dữ liệu kỹ thuật, sổ sách y
học, và lịch trình. Cũng như phát sóng tivi hay radio, hệ thống RFID cũng sử dụng
bốn băng thông tần số chính: tần số thấp (LF), tần số cao (HF), siêu cao tần (UHF)
hoặc tần số sóng cực ngắn (viba). (Xem thêm phần 2 - Phụ lục 2 – Các dãy tần số
của RFID)
Các hệ thống RFID trong siêu thị ngày nay hoạt động ở băng thông UHF,
trong khi các hệ thống RFID cũ sử dụng băng thông LF và HF. Băng thông viba
đang được để dành cho các ứng dụng trong tương lai.
Dựa vào cấu tạo và phương thức hoạt động các RFID Tags được chia làm 3
loại cơ bản:


20


động, không đòi hỏi phải có accu để hoạt động, có vòng đời sử dụng rất lâu, kích
thước nhỏ và rẻ, có thể tái sử dụng, có sức chịu đựng cao trong môi trường khắc
nghiệt (một số Tag thụ động có thể chịu đựng các hóa chất ăn mòn như axit).
Hình 1.4: Thẻ RFID thụ động

Nguồn: cisco.com
 Thẻ tích cực (active)

Các thẻ RFID Tag tích cực sử dụng nguồn accu (nguồn năng lượng như pin,
năng lượng mặt trời) và các thành phần điện tử để thực hiện những nhiệm vụ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status