MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart và
họat động quản trị chuỗi cung ứng tại thị trường Việt Nam 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị chuỗi cung
ứng của Wal-Mart cũng như hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2008- 2011 2
4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê số liệu, so sánh,
phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn 2
5. Bố cục khóa luận: 2
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục chữ viết tắt
và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 3 chương, đó là: 2
Em xin được cám ơn sự tận tình chỉ bảo của cô giáo Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu
Trang, đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận. . 2
CHƯƠNG 1 3
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 3
1.1. Tổng quan về chuỗi cung ứng 3
1.1.1. Khái niệm về chuỗi cung ứng 3
1.1.2. Phân loại chuỗi cung ứng 4
1.1.2.1. Chuỗi cung ứng đẩy 5
1.1.2.2. Chuỗi cung ứng kéo 6
1.1.2.3. Chuỗi cung ứng kéo- đẩy 7
1.1.3. Cấu trúc của chuỗi cung ứng 9
Sơ đồ 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản 10
Sơ đồ 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng 10
1.2. Quản trị chuỗi cung ứng 12
1.2.1. Khái quát chung về quản trị chuỗi cung ứng 12
b) Khả năng truyền tải nhiệt huyết 39
c) Hiểu rõ tầm quan trọng của văn hóa công ty 40
d) Tầm nhìn đi trước thời đại 41
e) Thực hiện ý tưởng độc đáo bất luận nguồn gốc của nó 41
2.2.1.2. Chiến lược giảm chi phí ở mức tối đa 42
2.2.1.3. Xây dựng thành công hệ thống “cross- docking” 45
2.2.1.4. Ứng dụng thành công hệ thống CNTT hiện đại 46
2.2.1.5. Chính sách nhân công chặt chẽ 48
2.2.2. Hạn chế 49
2.2.2.1. Chính sách nhân công “độc tài” 49
2.2.2.2. Khó áp dụng được cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 51
CHƯƠNG 3 53
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SCM TẠI VIỆT NAM TỪ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM MÔ HÌNH SCM CỦA WAL-MART 53
3.1. Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam 53
3.1.1. Việc dự báo nhu cầu và xác định mức độ sản xuất trong các doanh nghiệp còn chưa hiệu
quả 53
3.1.2. Thiếu sự cộng tác giữa doanh nghiệp với các đối tác trong SCM 54
3.1.3. Ứng dụng công nghệ hiện đại vào chuỗi cung ứng còn hạn chế 55
3.1.4. Việc phân phối hàng hóa từ nhà sản xuất tới các kênh phân phối còn gặp nhiều khó khăn,
sức cạnh tranh kém 57
3.2. Bài học cho các doanh nghiệp Việt Nam từ mô hình SCM của Wal-Mart.58
3.2.1. Nâng cao sự cộng tác với các đối tác trong chuỗi cung ứng 58
3.2.2.Tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại vào chuỗi cung ứng 59
3.2.4. Chú trọng hơn đến dịch vụ chăm sóc khách hàng 61
3.3. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng cho các
doanh nghiệp Việt Nam 61
3.3.1. Giải pháp vĩ mô 62
3.3.1.1. Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông vận tải và hệ 62
thống logistics 62
Sơ đồ 2.3: Nhà kho đa chức năng trong hệ thống Cross- docking Error:
Reference source not found
II. Hình ảnh
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng kéo- đẩy Error: Reference source not found
Hình 2.1: logo& slogan của WalMart Error: Reference source not found
III. Bảng
Bảng 2.1:Danh sách 5 công ty lớn nhất thế giới theo tạp chí Fortune năm 2011.
Error: Reference source not found
IV. Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Doanh thu bán hàng của Wal-Mart trong năm 2010- 2011 Error:
Reference source not found
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Nội dung Giải thích
1 CNTT Công nghệ thông tin
2 CRM Customer Relationship Management Quản trị quan hệ khách hàng
3 DWT Deadweight Tải trọng tổng cộng
4 EDI Electronic data interchange Trao đổi dữ liệu điện tử
5 ENT Economic need test Kiểm tra nhu cầu kinh tế
6 ERP Enterprise Resource Planning Hệ thống hoạch định nguồn lực
7 FAQs Frequently Asked Question(s) Những câu hỏi thường gặp
8 GCI Global Commerce Initiative Ủy ban sáng kiến thương mại toàn cầu
9 IMF International Monetary Fund Tổ chức tiền tệ thế giới
10 JIT Just in time Sản xuất đúng lúc
11 MPP Massively Parallel Processing Hệ thống xử lý máy tính
12 MRP Manufacturing Resource Planning Hoạch định nguồn lực sản xuất
13 POS Point-Of-Sales Máy chấp nhận thanh toán thẻ
14 R&D Research & Development Tìm kiếm và phát triển
15 RFID Radio Frequency Identification Nhận dạng tần số sóng vô tuyến
16 SCM Supply chain management Quản trị chuỗi cung ứng
Thông qua khóa luận, em rất muốn được tìm hiểu cách thức mà Wal-
Mart đã thực hiện thành công việc quản trị chuỗi cung ứng của mình. Qua đó
có thể rút ra được những bài học bổ ích cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.
Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình đó là “Thành
công của Wal-Mart và bài học cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam về
2
quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả.”
2. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích thực trạng của hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam
hiện nay, đưa ra được những thuận lợi và khó khăn.
- Phân tích mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart; qua đó rút ra
được những ưu điểm, nhược điểm và đưa ra những bài học bổ ích cho các doanh
nghiệp bán lẻ Việt Nam về quản trị chuỗi cung ứng.
- Đề xuất một số giải pháp cho các doanh nghiệp và Nhà nước để tạo điều
kiện phát triển hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Mô hình quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart và
họat động quản trị chuỗi cung ứng tại thị trường Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị chuỗi cung
ứng của Wal-Mart cũng như hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2008- 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thống kê số liệu, so sánh, phân
tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
5. Bố cục khóa luận:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục chữ viết tắt
và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 3 chương, đó là:
Chương 1: Khái quát chung về quản trị chuỗi cung ứng
Chương 2: Họat động quản trị chuỗi cung ứng của Wal-Mart
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển SCM tại Việt Nam từ bài học
kinh nghiệm của mô hình SCM của Wal-Mart
doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều hơn vào chuỗi cung ứng của mình. Hầu
hết các công ty lớn trên khắp thế giới đều đã sớm nhận thức được tầm quan trọng
4
của chuỗi cung ứng và qua đó đã tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng biệt dựa vào chuỗi
cung ứng ; mặc dù việc áp dụng là rất đa dạng và khác biệt đối với từng công ty,
lĩnh vực cụ thể. Cho đến nay, càng ngày càng có nhiều nhà quản lí cũng như các
học giả trên toàn thế giới đã và đang nghiên cứu về lĩnh vực này. Do đó mà những
khái niệm về chuỗi cung ứng được biết tới cũng rất phong phú. Dưới đây là một vài
định nghĩa về chuỗi cung ứng:
• Nếu xét về mặt cấu trúc, có thể hiểu chuỗi cung ứng là một mạng lưới
các tổ chức tham gia vào các giai đoạn, các hoạt động khác nhau xuôi chiều theo
chuỗi liên kết hoặc ngược chiều liên kết đó nhằm tạo ra giá trị cho sản phẩm, dịch
vụ; thỏa mãn nhu cầu của khách hàng( Hartmut Stadtler & Christoph Kilger, 2009).
Các tổ chức này có thể tham gia một cách trực tiếp như nhà cung ứng, nhà sản
xuất…hoặc gián tiếp vào việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp như các công ty
vận tải, công ty kinh doanh dịch vụ kho bãi, các đại lý…
• “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm
hay dịch vụ vào thị trường”( Lambert, Stock & Elleam; 1998).
• Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng đó là: “Chuỗi cung ứng bao
gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu
khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà
còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách hàng”.
( Chopra Sunil & Peter Meindl, 2001)
Tuy có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về chuỗi cung ứng, nhưng chúng ta
có thể rút ra được: chuỗi cung ứng bao gồm những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp từ một hay nhiều nhà cung ứng đến khách hàng. Và khách hàng luôn là
yếu tố quyết định của chuỗi cung ứng. Mục tiêu mà một chuỗi cung ứng hướng tới
là việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó.
Hoạt động của chuỗi cung ứng bắt đầu với một yêu cầu của khách hàng và kết thúc
khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải
đáp ứng sự thay đổi nhu cầu của thị trường ở mức thấp cùng với sự quản lý hàng
tồn kho kém hiệu quả, mà nguyên nhân chính là do chuỗi cung ứng đẩy luôn mất
một khỏang thời gian dài để phản ứng lại với sự thay đổi của thị trường.
Một hiện tượng thường thấy trong khi sử dụng chuỗi cung ứng đẩy đó là hiệu
ứng Bullwhip. Đây là hiện tượng mà ở đó một thay đổi nhỏ trong nhu cầu ở khâu
bên dưới của chuỗi cung ứng có thể gây ra một sự thay đổi rất lớn ở các khâu bên
trên của chuỗi( Tập thể tác giả trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng, 2007).
6
Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này chính là vì nhu cầu đối với
sản phẩm là dựa trên dự báo nhu cầu từ các công ty, thay vì nhu cầu tiêu dùng thực
tế. Điều này đã dẫn đến việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả, dự báo sai lệch về
nhu cầu thực tế sản phẩm dẫn đến việc hoạch định sản xuất thiếu chính xác, tồn kho
ở mức cao quá mức tồn kho an toàn cho phép…từ đó kéo theo hàng họat những sai
lệch của những hoạt động sau đó của toàn chuỗi cung ứng. Và rõ ràng nó ảnh hưởng
rất lớn đến chi phí hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp phải hiểu
rõ hiệu này để có thể giảm thiểu nó. Một trong những cách thức để giảm được hiệu
ứng Bullwhip là doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về nhu
cầu của khách hàng cho mỗi giai đoạn trong chuỗi cung ứng. Từ đó, mỗi giai đoạn
của chuỗi cung ứng sẽ sử dụng dữ liệu nhu cầu của khách hàng để thực hiện dự báo
nhu cầu chính xác hơn.
Có thể thấy việc áp dụng mô hình chuỗi cung ứng đẩy có những ưu điểm
nhất định. Khi áp dụng mô hình chuỗi cung ứng đẩy, doanh nghiệp chú trọng vào
việc nghiên cứu thị trường, thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến
những thay đổi trong nhu cầu thị hiếu của khách hàng, xu hướng phát triển chung
của các doanh nghiệp cùng ngàng. Do đó doanh nghiệp có thể phản ứng nhanh hơn
với sự biến động của thị trường, đồng thời cũng có thể đưa ra những chiến lược phù
hợp và tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài trong tương lai. Tuy nhiên nếu chỉ áp dụng
chuỗi cung ứng đẩy thì doanh nghiệp cũng gặp phải khó khăn, đặc biệt là chi phí
thực hiện dự báo nhu cầu, nghiên cứu thị trường … cũng là một thách thức đối với
doanh nghiệp trong khi rất nhiều chi phí khác cần doanh nghiệp giảm bớt một cách
cung ứng đẩy, trong khi đó, giai đoạn sau sẽ sử dụng chuỗi cung ứng kéo.
8
Hình 1.1: Chuỗi cung ứng kéo- đẩy
Nguồn: Vivek Sehgal, 2009.
Ở giai đoạn đầu, doanh nghiệp thực hiện việc quản lí các linh kiện tồn kho
được quản lý dựa trên dự báo nhu cầu , ở các giai đoạn sau sẽ hoàn thiện sản phẩm
theo yêu cầu đặc biệt của khách hàng hay theo đơn đặt hàng cụ thể. Tức là sau khi
đã có được dự báo nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ tiến hành trước tiên
việc hòan thiện sản phẩm dựa trên những yêu cầu của khách hàng. Nếu làm ngược
lại quy trình này thì doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp phải những tổn thất rất lớn, nhất
là việc ứ đọng hàng tồn kho, không tiêu thụ được bởi lí do không phù hợp với nhu
cầu của khách hàng.
Ưu điểm của chuỗi cung ứng kéo- đẩy đó chính là việc giảm tồn kho an tòan.
Các linh kiện là bộ phận cấu thành nên các sản phẩm hoàn thiện. Việc dự báo nhu
cầu của sản phẩm hoàn chỉnh có thể gặp phải những sai lệch rất lớn do nhu cầu, thị
hiếu của khách hàng thay đổi hoặc những lí do khác thì sai lệch về dự báo nhu cầu
linh kiện sẽ nhỏ hơn rất nhiều. Do vậy, việc duy trì chuỗi cung ứng này dẫn đến
việc duy trì mức tồn kho an toàn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần thận trọng
khi áp dụng chuỗi cung ứng đẩy, bởi hiệu ứng Bullwhip rất dễ gặp phải và nếu xảy
ra thì sẽ gây ra những tổn hại nhất định cho doanh nghiệp.
9
Mỗi chiến lược chuỗi cung ứng có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, các
doanh nghiệp cần dựa vào các yếu tố chủ quan bên trong doanh nghiệp cũng như
các yếu tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp để cân nhắc việc áp dụng chuỗi cung
ứng loại nào vào những những giai đoạn nào trong hoạt động của mình. Khi tính
chắc chắn của nhu cầu càng cao, theo đó việc dự báo nhu cầu càng chính xác thì
doanh nghiệp nên áp dụng chuỗi cung ứng đẩy; còn khi tính chắc chắn của nhu cầu
thấp, thị hiếu của khách hàng khó có thể nhìn nhận chính xác được thì giai đoạn này
việc doanh nghiệp áp dụng chuỗi cung ứng kéo sẽ hợp lí hơn.
1.1.3. Cấu trúc của chuỗi cung ứng
vẫn đảm bảo chất lượng cao của hàng hóa hay dịch vụ.
Vì vậy mà hiện nay có rất ít các doanh nghiệp có thể duy trì chuỗi cung ứng
đơn giản. Hầu hết chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sẽ là chuỗi cung ứng mở
rộng. Chuỗi cung ứng này bao gồm những thành viên: nhà cung cấp, nhà phân phối,
nhà sản xuất, nhà bán lẻ, khách hàng( cuối cùng) và nhà cung cấp dịch vụ. Mô hình
sau đây mô tả về chuỗi cung ứng mở rộng:
Sơ đồ 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng
Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008, trang 30.
11
Nhà cung cấp dịch vụ trong chuỗi cung ứng mở rộng là những công ty cung
cấp dịch vụ cho các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, nhà sản xuất, nhà phân phối,
nhà bán lẻ và khách hàng. Họ có thể là nhà cung cấp dịch vụ logistics, nhà cung cấp
dịch vụ tài chính, nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin… Họ phát triển chuyên
môn và các kỹ năng đặc biệt nhằm tập trung vào một hoạt động đặc thù mà chuỗi
cung ứng cần. Nhờ đó mà họ có thể cung cấp các dịch vụ hiệu quả hơn ở một mức
giá tốt hơn các nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ hay khách hàng nếu tự thực hiện.
Nhà cung cấp là các công ty bán sản phẩm, dịch vụ của mình chính là
nguyên liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh như vật liệu thô,
linh kiện, bán thành phẩm cho nhà sản xuất. Còn các công ty cung cấp dịch vụ cho
sản xuất, kinh doanh được gọi là nhà cung cấp dịch vụ.
Nhà sản xuất hay nhà chế biến là các công ty làm ra sản phẩm, hàng hóa và
dịch vụ để cung cấp cho khách hàng. Nhà sản xuất sử dụng nguyên vật liệu, dịch vụ
đầu vào và áp dụng các quy trình sản xuất nhất định để tạo ra sản phẩm cuối cùng.
Mặc dù sản phẩm này để đến được tay người tiêu dùng hay khách hàng cuối cùng
thì còn rất nhiều giai đoạn, tuy nhiên việc nhà sản xuất có thể quản lí tất cả các
thành phần của chuỗi cung ứng hiệu quả và tối ưu hay không là yếu tố then chốt. Từ
đó họ có thể tăng được hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng sản xuất và giảm chi
phí hoạt động để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình.
Nhà phân phối là các công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất
và chịu trách nhiệm đưa các sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng. Các nhà
mà không nên chỉ tập trung phát triển hoạt động nội bộ mà còn phải biết phối hợp
hiệu quả với các mắt xích khác trong chuỗi cung ứng. Có vậy, hiệu quả của chuỗi
cung ứng mới có thể phát huy được tối đa tác dụng của nó.
1.2. Quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1. Khái quát chung về quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1.1. Lịch sử phát triển của quản trị chuỗi cung ứng
Vào những năm đầu của thế kỉ 20, việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới
diễn ra chậm chạp và còn lệ thuộc rất nhiều vào nguồn lực nội bộ. Việc chia sẻ công
nghệ và chuyên môn thông qua sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người
13
bán rất hiếm khi được bắt gặp vào giai đoạn này.
Sơ đồ 1.3: Những sự kiện lịch sử chính của chuỗi cung ứng
Nguồn: Tập thể tác giả trường Đại học kinh tế- Đại học Đà Nẵng, 2007, trang11.
Cho đến thập niên 50, 60 của thế kỉ 20, các công ty lớn trên thế giới đã bắt
đầu áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất.
Song họ lại ít chú ý đến mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy
trình, tính linh hoạt cũng như chất lượng của sản phẩm.
Trong thập niên 70, hệ thống hoạt định nhu cầu nguyên vật liệu
MRP( Manufacturing Resource Planning) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản
xuất ERP( Enterprise Resource Planning) được phát triển. Do đó mà tầm quan trọng
của quản trị hiệu quả vật liệu ngày càng được khẳng định. Các nhà sản xuất nhận
thức được tác động của mức độ tồn kho cao đến chi phí sản xuất và chi phí lưu giữ
tồn kho. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính, đã
làm gia tăng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho và làm giảm được
đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn tiến hành cải thiện truyền thông nội bộ về nhu
cầu của các chi tiết cần mua, cũng như nguồn cung đầu vào.
Thập niên 80 được xem như bản lề của quản trị chuỗi cung ứng( Supply
14
chain management- SCM). Thuật ngữ SCM lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trên
các tờ báo, cụ thể là ở tạp chí Outlook vào năm 1982 (O. R. Keith& M. D. Webber,
chiến lược mà các nhà quản trị đều mong muốn tận dụng những lợi ích mà nó mang
lại. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về SCM.
• Có ý kiến cho rằng SCM là sự hợp tác chiến lược có hệ thống của
những chức năng kinh doanh truyền thống và những phương thức khác trong một
hoặc nhiều công ty trong một chuỗi cung ứng, vì mục đích cải thiện kết quả của các
công ty hay toàn chuỗi cung ứng (John T. Mentzer, 2001).
• Viện quản trị cung ứng mô tả về SCM là việc thiết kế và quản lí
các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của
khách hàng cuối cùng. Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ
là việc then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công( Viện quản trị cung
ứng, 2000)
• Một định nghĩa đơn giản hơn của tiến sĩ Hau Lee và đồng tác giả
Corey Billington được nêu ra trong một bài báo nghiên cứu thì SCM như là việc
tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới phân phối nhằm tạo ra
nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản
phẩm hòan thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ
thống phân phối( H.L. Lee & C. Billington, 1995, trang 41- 63).
Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể hiểu SCM là việc doanh nghiệp tạo
ra những ảnh hưởng nhất định vào sự vận hành của chuỗi cung ứng để đạt được
những kết quả như mong muốn. Cụ thể là doanh nghiệp phải hiểu được vai trò của
các khâu trong chuỗi cung ứng và phải tìm được sự phối hợp hợp lí giữa các khâu
này. SCM nhấn mạnh đến việc định vị các tổ chức theo cách thức không chỉ có lợi
cho mình mà còn giúp cho tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều được lợi.
Bởi sự thành công của mỗi thành viên đều mang lại những lợi ích nhất định cho các
thành viên còn lại. Vì thế SCM một cách hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào mức độ
tin tưởng, sự hợp tác giữa các thành viên.
16
1.2.1.3. Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng trong kinh doanh
Một mô hình chuỗi cung ứng không thể áp dụng hòan hảo được cho tất cả
các doanh nghiệp. Do vậy mà mỗi chuỗi cung ứng đều có một kiểu nhu cầu thị
thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết.
1.2.2. Nội dung chính của quản trị chuỗi cung ứng
1.2.2.1. Quản trị thu mua
Mỗi doanh nghiệp đều luôn luôn tìm kiếm những đối tác tin cậy, đặc biệt là
những nhà cung ứng đầu vào cho mình. Bởi nếu chưa đề cập đến quá trình sản
phẩm được phân phối rồi cuối cùng mới đến tay người tiêu dùng thì chất lượng của
sản phẩm, dịch vụ chính là giá trị cốt lõi nhất mà doanh nghiệp rất coi trọng. Trong
môi trường kinh doanh mà mọi thứ đều thay đổi từng ngày và sự cạnh tranh ngày
càng khốc liệt, doanh nghiệp không thể đầu tư dàn trải vào quá nhiều hoạt động mà
chỉ nên tập trung vào những năng lực cốt lõi của mình, đồng thời doanh nghiệp
cũng cần phải đưa ra những tiêu chuẩn chặt chẽ trong việc lựa chọn nhà cung ứng
cho mình. Để tạo ra chuỗi cung ứng hiệu quả, các doanh nghiệp thường có những
chính sách tạo mối quan hệ lâu dài với các nhà cung ứng đồng thời có những chính
sách phù hợp để cắt giảm chi phí nhờ vào việc giảm bớt số lượng nhà cung ứng.
Tức là chỉ tập trung quan hệ kinh doanh với những nhà cung ứng uy tín và phù hợp
với những chính sách của công ty nhất.
18
Quản trị mua hàng hay nói cách khác chính là quản trị nhà cung ứng ở doanh
nghiệp là một quá trình từ lúc doanh nghiệp lựa chọn nhà cung ứng cho từng loại
hàng hóa, dịch vụ đầu vào cho đến lúc hoàn tất quá trình sản xuất kinh doanh, đưa
sản phẩm dịch vụ của mình đến khách hàng, dựa vào các tiêu chí của mình để đánh
giá tính hiệu quả của các nhà cung ứng cũng như các sản phẩm mà họ cung cấp.
Thường đối với các doanh nghiệp lớn, có tuy tín trên thị trường thì sẽ có nhiều
thuận lợi hơn trong việc lựa chọn nhà cung ứng, họ có quyền đề ra nhiều tiêu chuẩn
hơn đối với những nhà cung ứng của mình.
Việc quản trị thu mua hiệu quả còn thể hiện ở việc hợp tác giữa công ty và
các nhà cung ứng của mình để tạo ra một mối quan hệ bền vững lâu dài và đầy tính
trách nhiệm. Các thông tin giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp được chia sẻ một
cách đầy đủ và thông suốt về hàng tồn kho, năng lực sản xuất, dự báo nhu cầu, sự
biến động trên thị trường…Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp lớn cũng có chính