TIỂU LUẬN bài học về sự LÃNH đạo của ĐẢNG CỘNG sản TRONG PHONG TRÀO CỘNG sản và CÔNG NHÂN QUỐC tế, ý NGHĨA đối với xây DỰNG, CHỈNH đốn ĐẢNG HIỆN NAY - Pdf 39

1

BÀI HỌC XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
TRONG PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ. SỰ NHẬN THỨC VÀ
VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG,
CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI.

Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân, giai cấp duy nhất có sứ
mệnh lịch sử thế giới là tiến hành cuộc cách mạng xoá bỏ CNTB xây dựng
CNXH văn minh trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, để thực hiện được sứ
mệnh lịch sử cao cả đó, giai cấp vô sản phải thành lập được chính đảng của
mình và xây dựng nó thực sự trở thành đội tiên phong, bộ chỉ huy tham mưu
chiến đấu của giai cấp.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở đâu, hễ lúc nào giai cấp vô sản xây
dựng được chính đảng vững mạnh mọi mặt thì phong trào đấu tranh của công
nhân đi đúng hướng và đạt hiệu quả; ngược lại nếu giai cấp vô sản không tổ
chức ra được chính đảng của mình, hoặc không quan tâm đến công tác xây
dựng Đảng thì phong trào trì trệ, khủng hoảng, thậm chí tan giã sụp đổ- đó là
vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế.
Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết
chống phá cách mạng thế giới, trong đó chống phá Đảng công sản là một
trọng điểm. Do vậy, vấn đề xây dựng Đảng cộng sản vững mạnh không chỉ là
vấn đề quy luật mà còn là vấn đề cấp bách trong sự phát triển của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay.
1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng, củng cố chính
đảng của giai cấp công nhân và vai trũ lónh đạo của nó đối với phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế.
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng, củng cố
chính đảng của giai cấp vô sản.



C.Mác- Ph.Ăng ghen toàn tập, tạp 4, Nxb CTQG, Hà nội 1995, Tr 207


3

đảng viên với tòan thể giai cấp vô sản, cũng như mục đích nhiệm vụ và lập
trường của đảng cộng sản. Theo các ông thì những người đảng viên là bộ
phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận
luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của
giai cấp ở chỗ họ hiểu được những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của
phong trào. Như vậy theo Mác, Ăng Ghen thì đảng cộng sản không nằm
ngoài, nằm trên giai cấp, đồng thời họ cũng không phải toàn bộ giai cấp mà
chỉ là bộ phận tiên tiến nhất của giai cấp mà thôi. Họ có mối liên hệ chặt chẽ
với giai cấp, đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp vô sản, đại biểu cho toàn bộ
giai cấp vô sản do vậy: “Họ không có lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn
thể giai cấp vô sản”2 .
Đảng cộng sản chính là lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản và nhân dân lao động chống lại sự áp bức bóc lột của chế độ tư bản,
thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, xây dựng thành công
xã hội mới xã hội khác về chất so với những xã hội trước đó. Vì vậy, để thực
hiện được sứ mệnh lịch sử đó thì nhiệm vụ trước tiên của đảng cộng sản là tập
hợp quần chúng để đấu tranh giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản,
sau đó dùng chính quyền đó để cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội
mới, xã hội CSCN. Do vậy, giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng cộng
sản phải xoá bỏ tất cả những gì là nguyên nhân gây ra nạn áp bức bóc lột
người, mà suy cho cùng đó là chế độ tư hữu. Mác viết: “Những người cộng
sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất là xoá bỏ
chế độ tư hữu”3 .
Như vậy, ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác đã chỉ ra tính tất yếu

nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng;
Đảng là một bộ phận của giai cấp công nhân, là đội tiền phong chính trị có tổ
chức và là tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân; khi có
chính quyền, đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị của CNXH và là
một bộ phận của hệ thống đó; tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản
trong xây dựng tổ chức sinh hoạt và hoạt động của đảng; đảng gắn bó chặt
chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục bệnh
quan liêu xa rời quần chúng; đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư


5

tưởng và tổ chức; đảng lấy tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của
đảng; đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động vào đảng, đồng thời phải thường xuyên đưa những
người không đủ tiêu chuẩn và những kẻ cơ hội ra khỏi đảng; chủ nghĩa quốc
tế vô sản là một trong những nguyên tắc quan trọng của việc xây dựng tổ
chức và hoạt động của đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.
Trong quá trình hình thành những nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới,
Lênin đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận chủ nghĩa Mác, coi chủ nghĩa Mác
là lý luận của phong trào giải phóng của giai cấp vô sản, nắm được lý luận đó
thì giai cấp vô sản và đội tiền phong của nó mới có được vũ khí tư tưởng
mạnh mẽ nhất, còn bản thân lý luận thì khi thấm vào phong trào công nhân sẽ
trở thành sức mạnh vật chất to lớn. Lênin nhấn mạnh rằng: “Không có lý luận
cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”4, và “Chỉ Đảng nào
được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò
chiến sĩ tiên phong”5.
Tóm lại, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về đảng cộng sản và vai
trò của nó đối với sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
là một thể thống nhất toàn vẹn, những tư tưởng của các Ông là nền tảng tư

công nhân đã liên tục đấu tranh với giai cấp tư sản, các cuộc đấu tranh của
công nhân không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ tự phát lên tự giác.
Phong trào công nhân quốc tế trước khi chủ nghĩa Mác ra đời vốn là các
phong trào mang tính tự phát, hoạt động đấu tranh của họ mới chỉ hướng vào
đập phá máy móc, đòi hỏi quyền lợi kinh tế như đòi tăng lương, giảm giờ làm,
chống cúp phạt…Các cuộc đấu tranh tiêu biểu như cuộc khởi nghiã của công
nhân dệt Xi lê di ( ở Đức), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Ly
on ( ở Pháp), hoặc như phong trào hiến chương ở Anh...Kết quả tất cả các
phong trào trên đều bị thất bại và bị giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu. Năm
1848 bất mãn trước cảnh cùng cực của mình và chế độ bóc lột tàn khốc của
chính phủ đương thời, giai cấp công nhân châu Âu mà đặc biệt là giai cấp
công nhân ở Pháp và ở Đức đã tự phát cùng với giai cấp tư sản và nhân dân
lao động (giai cấp công nhân là người tiên phong), đã nổi dậy làm lên các
6

V.I. Lênin toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ- va, 1977,tr34


7

cuộc cách mạng tháng hai và cách mạng tháng sáu vang dội Châu Âu; song
khi giành được thắng lợi thành quả cách mạng không phải về tay giai cấp vô
sản mà là giai cấp tư sản. Thật trớ trêu thay giai cấp tư sản, kẻ vừa cùng giai
cấp vô sản “sát cánh” đấu tranh lại quay sang phản bội họ, đàn áp họ trong bể
máu. Những thất bại đó do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản,
quan trọng là giai cấp công nhân lúc đó chưa có một đảng chân chính lãnh
đạo phong trào, với một hệ tư tưởng cách mạng chỉ lối soi đường. Thậm chí
ngay cả khi chủ nghĩa Mác đã ra đời, đã từng bước thấm sâu vào phong trào
công nhân, giúp giai cấp công nhân đã có một vũ khí lý luận cách mạng soi
đường; nhưng nếu GCCN không tổ chức được ra chính đảng, không có sự

xét lại lũng đoạn và kết quả là nó đã làm cho phong trào công nhân khủng
hoảng trì trệ. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại đã biến quốc tế II vốn là cách mạng
thành một tổ chức phản động, tiếp tay hoặc phục vụ cho các luận điệu của giai
cấp tư sản, phản lại lợi ích của giai cấp công nhân, phản lại lý luận chủ nghĩa
Mác.
Trước sự lũng đoạn của bọn cơ hội, xét lại trong quốc tế II, phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế có xu hướng chệch hướng. Nhận thức rõ vị trí
vai trò của đảng Mác xít đối với sự phát triển của phong trào công nhân,
Lênin đã đấu tranh tích cực chống bọn cơ hội chủ nghĩa, vạch trần bản chất
của chúng bảo vệ chủ nghĩa Mác và cùng những người đảng viên trung kiên
trong đảng dân chủ xã hội Nga đã từng bước đấu tranh thành lập ra tổ chức
đảng kiểu mới, một Đảng thực sự cách mạng trên nền tảng của chủ nghiã
Mác, kết quả tháng 7/1903 Đảng cộng sản Nga – Bônsêvích đã ra đời lãnh
đạo phong trào công nhân Nga.
Với sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, đứng đầu là Lênin, phong trào
công nhân Nga đã phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển đó được đánh dấu bằng
các cuộc cách mạng 1905, 1907 mà đỉnh cao của nó là cách mạng tháng Mười
Nga vĩ đại. Trong cách mạng Tháng Mười vai trò to lớn của Đảng Bônsêvích


9

và Lênin đã thể hiện, thông qua việc đánh giá tình hình trong nước, quốc tế để
xác định nhiệm vụ của cách mạng, xác định lực lượng cách mạng…Đặc biệt
việc xác định hình thức hòa bình của sự chuyển biến cách mạng từ cách mạng
dân chủ tư sản Tháng 2 lên cách mạng XHCN Tháng 10, là một sự sáng tạo,
một phát kiến độc đáo của Đảng Bôn và Lênin. Khi điều kiện cho sự chuyển
biến cách mạng bằng phương pháp hòa bình không còn, một lần nữa Đảng
Bôn và Lênin lại thể hiện sự sáng tạo, không bị động trong việc phát động
khởi nghĩa vũ trang trong tòan quốc. Đỉnh cao của sự sáng tạo và cũng là thể

50, 60 của thế kỷ XX; hàng loạt nước thuộc địa sau khi giành chính quyền đã
lựa chọn con đường CNXH hoặc phát triển theo định hướng XHCN.
Những năm 70- 80 của thế kỷ XX, những thành tựu to lớn của chủ
nghĩa xã hội đã chứng thực đó là một xã hội tốt đẹp; đã luận giải tính đúng
đắn của lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có lý luận về sự lãnh đạo
của Đảng vô sản, lý luận về xây dựng đảng và quy luật về mối quan hệ giữa
xây dựng chính Đảng vô sản vững mạnh với sự phát triển của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế.
Đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX ở các nước xã hội chủ nghĩa đã
bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu trì trệ, nhu cầu phải cải tổ, cải cách, đổi mới
đã trở lên cấp bách. Một số nước do kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin,
kiên định chủ nghĩa xã hội, làm tốt công tác xây dựng Đảng nên đã thu được
những thành tựu đáng khích lệ trong công cuộc đổi mới. Song bên cạnh đó
cũng đã có nhiều nước do sai lầm về đường lối đổi mới, đặc biệt là do không
làm tốt công tác xây dựng Đảng, không kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin,
buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ, sai lầm trong công tác tổ chức, công
tác cán bộ, để cho kẻ thù lợi dụng và bọn cơ hội xét lại chui vào trong hàng
ngũ của đảng, lũng đoạn Đảng, làm cho Đảng mất vai trò lãnh đạo, cùng với
sự chống phá của kẻ thù; vì vậy công cuộc cải tổ thất bại dẫn đến sụp đổ chế
độ.
Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất to
lớn của CNXH hiện thực, song cũng đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý


11

báu. Một trong những bài học đó là phải thường xuyên làm tốt công tác xây
dựng Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này một lần nữa chứng
minh mối quan hệ giữa công tác xây dựng Đảng với sự phát triển và sinh tồn
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Thật vậy, vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trước khi
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, dân tộc Việt Nam “chìm đắm” dưới ách đô
hộ của thực dân Pháp xâm lược và phong kiến tay sai, đời sống của nhân dân
vô cùng khổ cực; đã có nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ta nổ ra mong
muốn giải phóng được dân tộc thoát khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa
thực dân, phong kiến; tiêu biểu như phong trào nông dân của Hoàng Hoa
Thám, phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến của chiếu Cần
vương, hay theo tư tưởng tư sản và tiểu tư sản của Phan Chu Trinh, Phan Bội
Châu, Nguyễn Thái Học… song tất cả các phong trào đó đều dẫn đến thất
bại...Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại là do các phong trào
đó chưa có đường lối cách mạng đúng đắn, chưa được trang bị một hệ tư
tưởng thực sự cách mạng khoa học để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Vượt lên những nhà tư tưởng đương thời, Nguyễn Tất Thành đã ra đi
tìm đường cứu nước, khi tiếp xúc với chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt khi đọc
luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã thốt lên rằng
con đường cứu nước, cứu dân là đây. Người đã nhận ra một chân lý rằng
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản”8 và Người khẳng định, cách mạng Việt Nam:
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.

8

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H1981, Tập 2, Tr 163


13

Đảng có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có
vững thuyền mới chạy"9.

động, sáng tạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh trong nắm bắt thời cơ,
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống
phong kiến, tạo thời cơ và nắm thời cơ phát động quần chúng khởi nghĩa
giành chính quyền từ tay phát xít Nhật.
Thắng lợi của cách mạng tháng tám năm 1945, chấm dứt gần một thế
kỷ đô hộ của thực dân Pháp, mở ra cho dân tộc ta một kỷ nguyên mới- kỷ
nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sau cách mạng tháng tám, tình
thế cách mạng nước ta như “ngàn cân treo sợi tóc”, song với đường lối chiến
lược, sách lược đúng đắn, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua thác
ghềnh, chính quyền non trẻ được giữ vững và ngày càng lớn mạnh. Trước
những khó khăn chồng chất dân tộc ta tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến
trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Với đường lối kháng chiến toàn
dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh; với tư tưởng “vừa kháng chiến, vừa
kiến quốc”, chúng ta đã làm lên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm
châu, chấn động địa cầu; đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ, đưa miền Bắc tiến
lên CNXH, tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam. Với
đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng trên hai miền Tổ
Quốc, Đảng phát động lời kêu gọi: “Tất cả vì Miền Nam ruột thịt”, “Đánh cho
Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào” quân, dân hai miền dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã làm lên thắng lợi mùa xuân năm 1975, đập tan chế độ thực dân mới của đế
quốc Mỹ ở Miền Nam. Thắng lợi của cách mạng mùa xuân năm 1975 mở ra
một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam, thời kỳ độc lập, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, cả nước bước vào xây dựng CNXH.
Bước vào xây dựng CNXH với muôn vàn khó khăn thử thách: Điểm
xuất phát thấp, lực lượng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún lại bị tàn phá nặng nề
sau chiến tranh, cơ sở sản xuất hầu như không đáng kể; tập quán, thói quen


15



16

được như vậy, thì dù công to việc lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất
định thắng lợi”11
2.2. Yêu cầu cấp bách của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong thời kỳ đổi mới.
Ngay từ khi vừa ra đời và trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng
nước ta, Đảng ta luôn thể hiện là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách
mạng nước ta. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước những diễn biến
phức tạp của tình hình thế giới và trong nước; trước sự chống phá mạnh mẽ
của kẻ thù; trước những bất cập, và hạn chế trong công tác xây dựng Đảng đòi
hỏi Đảng ta cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác xây dựng Đảng, coi
công tác xây dựng đảng không những chỉ là một quy luật thường xuyên mà
còn là vấn đề cấp bách. Tính cấp bách của công tác xây dựng Đảng xuất phát
từ những lý do cơ bản sau:
* Xuất phát từ vị trí, vai trò ngày càng tăng của Đảng trong sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay.
Hiện nay chúng ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất
nước và hội nhập quốc tế. Tình hình trong nước và quốc tế đem lại những vận
hội mới, nhưng cũng đặt ra những nguy cơ, thách thức lớn cho cách mạng
nước ta. Vì vậy một trong những vấn đề hết sức quan trọng là chúng ta phải
quan tâm hàng đầu đến công tác xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng ngang
tầm nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt nam tận dụng những cơ hội,
vượt qua thách thức, đẩy lùi nguy cơ, đưa sự nghiệp đổi mới của Việt nam
đến thắn lợi cuối cùng.
Mặt khác, sự nghiệp đổi mới, với chủ trương thực hiện kinh tế thị
trường định hướng XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt những
11

có đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới giành thắng lợi giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.


18

* Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch càng ráo riết chống phá cách mạng thế giới, trong đó
chúng tập trung chống phá hòng xoá bỏ các nước XHCN còn lại, đưa thế giới
phát triển theo quỹ đạo của CNTB. Bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”
chúng đã sử dụng rất nhiều những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt điên
cuồng chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng
điểm. Chúng chống phá trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng,
văn hoá; chống phá Đảng, Nhà Nước XHCN...một trong mũi nhọn chúng tập
trung chống phá đó là Đảng cộng sản, hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng
cộng sản, coi đây là một mũi nhọn tiến tới xoá bỏ chế độ XHCN.
Bằng những luận điệu phản động chúng ra sức xuyên tạc bản chất giai
cấp công nhân của Đảng cộng sản Việt Nam, hoặc lợi dụng những thiếu sót
của Đảng, tô hồng, bóp méo sự thật, vu khống, xuyên tạc đường lối lãnh đạo
của Đảng, cho Đảng ta chuyên quyền độc đoán ; đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với toàn thể xã hội, kích động, chia rẽ gây mất đoàn kết trong
Đảng, tạo ra lực lượng chống phá từ bên trong; đòi đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập... Tất cả những âm mưu thủ đoạn đó chúng đã áp dụng thành
công ở Liên Xô và Đông Âu, gây ra sự khủng hoảng dẫn đến sụp đổ CNXH ở
Liên Xô và Đông Âu, gây tổn thất to lớn cho phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế; nay cũng với nhũng âm mưu thủ đoạn đó chúng đem áp dụng
vào để chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có nước ta. Đảng ta và
nhân dân ta đã nhận thức rõ và cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn của bọn

nghị Trung ương ba khoá VII(6 - 1992), Đảng ta đã cụ thể hoá chủ trương đó
và nhấn mạnh rằng lúc này xây dựng kinh tế là trung tâm và xây dựng Đảng
là then chốt.Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII và tiếp đó trong Hội nghị Trung


20

ương 6 (lần 2), Đảng ta đã đưa ra chủ chương: Toàn Đảng tiến hành cuộc vận
động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình. Để khắc
phục những hạn chế và tạo ra nhữngbước chuyển biến mới trong công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Bộ chính tri Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX đã ban hành chỉ thị số 03- CT/TW về việc tiếp tục thực hiện nghị
quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII
Như vậy, ngay từ khi ra đời cho đến nay Đảng ta đã rất quan tâm đến
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu
to lớn, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Song bên cạnh đó công
tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua còn nhiều bất cập yếu
kém.
Một là, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê
bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng, đảng viên chưa đạt được yêu cầu đề ra,
chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy
lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các
cấp chưa nêu gương, chưa làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu. Vịêc xử lý kỷ luật đối với những người đứng đầu
để xẩy ra tham nhũng, lãng phí ở ngành, địa phương, đơn vị chưa kiên quyết
nghiêm minh và kịp thời.
Hai là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế, thiếu
sót; tính định hướng ,tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả chưa cao;
thiếu chủ động và sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu “ diễn biến hòa
bình”, chống tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch, bác bỏ quan

cán bộ bị kỷ luật hoăc vi phạm pháp luật mới thay thế được.Chưa có chính
sách đủ hiệu lực khơi dậy tài năng và thu hút nhân tài vào các lĩnh vực quan
trọng. Chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở các địa
phương, ngành.


22

Năm là, công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn nhiều hạn chế, nhất là
trong việc xem xét, giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay. Chậm bổ
sung và sửa đổi một số điểm không còn phù hợp trong quy định 75-QĐ/TW
về một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng. Tổ chức bộ máy và cán bộ
làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ chậm được kiện toàn, nhiều cấp ủy, tổ
chức đảng chưa quan tâm chỉ đạo đúng mức công tác này.
Sáu là, công tác kiểm tra trong đảng còn yếu, chất lượng và hiệu quả
kiểm tra chưa cao; nhiều khuyết điểm sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng
chậm được phát hiện, khắc phục.
Bảy là, việc đổi mới phương pháp lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng
túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức
Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng cơ chế phối hợp giữa các tổ chức
trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện
đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng. Chưa
thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc thực hiện nói đi đôi với
làm; tình trạng nói nhiều, làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở
nhiều nơi.
Trước những yếu kém, bất cập của công tác xây dựng Đảng, hơn lúc
nào hết, để Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo cách
mạng nước ta trong giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước,
hội nhập quốc tế hiện nay, đòi hỏi Đảng ta phải quan tâm hơn nữa đến công
tác xây dựng Đảng, coi đó là vấn đề bức thiết và cấp bách.

Hai là, thường xuyên chăm lo xây dựng mối đoàn kết trong nội bộ
Đảng tạo thành khối thống nhất ý chí và hành động. Đoàn kết là sức mạnh vô
địch, là yếu tố vô cùng quan trọng trong xây dựng Đảng; đoàn kết đoàn kết,
12

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H1995, Tập 2, Tr 268


24

đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công. Trong di chúc của Bác
Hồ, Người đã nhắc nhở Đảng và nhân dân ta: “Đoàn kết là một truyền thống
cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta, các đồng chí từ Trung ương đến các
chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi
của mắt mình”. Đoàn kết phải tạo thành khối thống nhất ý trí và hành động;
phải chăm lo xây dựng Đảng, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình giữ nghiêm
kỷ luật trong Đảng.
Bà là, luôn giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Bài học từ
sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cũng xuất phát từ sự không tuân thủ
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, do đó chưa tạo được sự thống nhất ý trí
và hành động, chưa tập chung được trí tuệ trong Đảng. Vì vậy, trong quá trình
xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Đảng ta phải luôn quán triệt và thực hiện tốt
nguyên tắc tập chung dân chủ có như vậy mới tạo ra được sự thống nhất
trong Đảng, tạo ra được sức mạnh cho Đảng trong quá trình lãnh đạo cách
mạng nước ta.
Bốn là, Luôn giữ vững mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng. Sự sụp
đổ của Liên Xô và Đông Âu là do các Đảng cộng sản ở các nước này xa rời
quần chúng, không tạo ra được mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng, thậm
trí đề ra những chính sách phi lý, không tin tưởng và hạ thấp vai trò của trí
thức...Đảng ta, từ khi ra đời đến nay luôn giữ gì mối quan hệ tốt giữa Đảng

tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, phải phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường
bản chất cách mạng và khoa học của Đảng.
Là Đảng cầm quyền, Đảng thực hiện sự lãnh đạo toàn xã hội trong điều
kiện kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với quốc tế, mặt trái của mở cửa hội
nhập và của kinh tế thị trường kiến không ít cán bộ, đảng viên có chức có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status