I H C QU C GIA HÀ N IĐẠ Ọ Ố Ộ
TRUNG TÂM ÀO T O B I D NG GI NG VIÊN LÝ LU N CHÍNH TRĐ Ạ Ồ ƯỠ Ả Ậ Ị
-------------------------------------
KỶ YẾU
HỘI THẢO KHOA HỌC
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
HÀ NỘI, THÁNG 6 - 2008
BAN BIÊN TẬP
1. GS,TS Vũ Văn Hiền - Trưởng ban
2. PGS,TS Đinh Xuân Lý - Uỷ viên thường trực
3. PGS,TS Lê Danh Tốn - Uỷ viên
4. TS. Lê Văn Lực - Uỷ viên
5. TS. Đoàn Thị Minh Oanh - Uỷ viên
6. TS. Phạm Công Nhất - Uỷ viên thư ký
2
Môc lôc
1 Lời giới thiệu...................................................................................................................
2 PGS, TS. Đinh Xuân Lý: Quá trình hình thành, phát triển chủ trương xây dựng
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam thời kỳ đổi mới..........................................................
3 GS, TS. Đỗ Thế Tùng: Đặc điểm, bản chất của nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.....................................................
4 GS, TS. Chu Văn Cấp: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...............................................
5 PGS, TS. Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ...........................................................
6 PGS, TSKH. Trần Nguyễn Tuyên: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam........
.................................................................................................................................44
7 GS, TS. Dương Xuân Ngọc: Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị
trong nền kinh tế quốc dân trước thềm Đại hội VI......................................................
...............................................................................................................................115
17 ThS. Lê Thị Thanh Hà: Cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta cho phép đảng viên
làm kinh tế tư nhân......................................................................................................
...............................................................................................................................123
18 TS. Phạm Văn Bính: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- một chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng ta trong thời kỳ quá độ........
...............................................................................................................................130
19 PGS, TS. Dương Văn Thịnh: Nhận thức về những đặc điểm của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta...........................................................
...............................................................................................................................134
20 ThS. Nguyễn Cao Khải: Xác lập nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền
kinh té thị trường ở Việt Nam, một thành công lớn của Đảng trong đổi mới.............
...............................................................................................................................144
21 Lê Văn Sơn: Kinh tế thị trường và mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam..................................................................................................
...............................................................................................................................150
22 TS. Lê Văn Lực: Đặc điểm nền kinh tế thị trường Việt Nam......................................
...............................................................................................................................155
23 TS. Nguyễn Thái Sơn: Góc nhìn triết học về nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.............................................................................
...............................................................................................................................162
24 ThS. Lê Thị Hồng Điệp: Tìm hiểu khái niệm “Nguồn nhân lực chất lượng cao”
trong Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam với thực tiễn phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay..................
...............................................................................................................................169
4
25 PGS, TS. Nguyễn Khắc Thanh: Mấy vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng trong hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.....................................
...............................................................................................................................178
...............................................................................................................................244
5
36 Trần Chí Lý: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa....
...............................................................................................................................252
37 ThS. Ngô Vương Anh: Dân chủ trong quản lý kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh...
...............................................................................................................................259
38 PGS, TS. Trần Sỹ Phán: Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo
tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay..........................................................................................
...............................................................................................................................266
39 TS. Đoàn Thị Minh Oanh: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề
bình đẳng giữa các dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước tư hiện nay....
...............................................................................................................................273
40 TS. Phạm Công Nhất: Vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay...................................
...............................................................................................................................281
41 Nguyễn Thị Kim Nhung: Một số tác động của công nghiệp chế biến đến nông
nghiệp, nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam..............................................................................................................................
...............................................................................................................................286
42 PGS, TS. Đoàn Văn Khái: Đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay........................................................
...............................................................................................................................289
43 PGS, TS. Ngô Ngọc Thắng: Thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa trong giáo dục đại học ở nước ta hiện nay........................................................
...............................................................................................................................296
44 PGS, TS. Nguyễn Đức Bách: Công nghiệp và thương mại - môi trường và lĩnh vực
trực tiếp nhất của sự phát triển của giai cấp công nhân.............................................
...............................................................................................................................304
54 PGS, Nguyễn Huy Quý: Bốn đột phá lớn về lý luận và đường lối trong quá trình
Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
...............................................................................................................................366
55 TS. Nguyễn Thị Mai Hoa: Xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở
Trung Quốc và kinh nghiệm đối với Việt Nam............................................................
...............................................................................................................................372
56 PGS, TS. Lê Danh Tốn: Thất nghiệp và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay............................................
...............................................................................................................................382
7
LỜI GIỚI THIỆU
Nhằm góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập kinh tế quốc tế, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị -
Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Vai trò lãnh đạo của
Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.
Do tầm quan trọng của chủ đề Hội thảo nên đã được sự quan tâm sâu sắc của các nhà
khoa học, nhà giáo ở các Học viện, Viện nghiên cứu và các trường Đại học trong cả nước.
Đến nay, Ban tổ chức Hội thảo đã nhận được một số lượng lớn các bài tham luận. Nội dung
chủ yếu của các bài viết đã tập trung vào những vấn đề cơ bản như:
- Quá trình hình thành chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam;
- Khái niệm, đặc điểm, bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa;
- Sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa - thành tựu và những bài học kinh nghiệm;
- Giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy các nguồn lực trong
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc - quá trình và kinh
nghiệm.
10 dân Việt Nam thì có 7 người sống trong tình trạng nghèo đói)”
1
. Tác giả bài viết “Việt
Nam - Nửa chặng đường từ đói nghèo đến giàu mạnh” đăng trên tạp chí “The Economist” số
24/4/2008 cũng nhận xét rằng: “Trong giữa những năm 1980, với chính sách tập thể hoá
nông nghiệp sai lầm khúng khiếp, Việt Nam đã ở bên bờ vực của nghèo đói”
2
. Cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội diễn ra vào cuối thập niên 70 đã trở nên trầm trọng vào giữa thập niên 80
của thế kỷ trước. Trước tình hình đó, yêu cầu cấp bách phải thay đổi đường lối phát triển kinh tế
được đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều thú vị là, sự thay đổi lại bắt đầu diễn ra ở cơ sở
mà không phải ở trung tâm hoạch định chính sách.
Đầu tiên, khuynh hướng “phá rào” đã diễn ra ở Hợp tác xã Đoàn Xá (huyện Kiến
Thuỵ, Hải Phòng), sau đó được nhân rộng ra toàn Huyện. “Khoán chui” đã xuất hiện ở nhiều
địa phương... Chính cái thực trạng tưởng như đi ngược lại những nguyên tắc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ấy lại trở thành luận cứ thực tiễn để Đảng Cộng sản Việt Nam điều chỉnh
1
Lê Thị Quế: Từ tư duy đến thực tiễn 15 năm “lột xác” của nền kinh tế Việt Nam (1986-2001), Nghiên cứu kinh tế, số
354, (11-2007), tr60
2
Thông tấn xã Việt Nam: tài liệu tham khảo, ngày 7/5/2008, tr1.
9
những yếu tố bất cập trong lãnh đạo thực hiện cơ chế quản lý kinh tế. Và từ đó, Chỉ thị 100
của Ban Bí thư Trung ương Đảng (13-1-1981) Về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
động trong các hợp tác xã nông nghiệp (thường gọi là khoán 100) ra đời. Khoán 100 đã tạo
đà cho sản xuất nông nghiệp phát triển: sản lượng lương thực đã tăng từ 14,4 triệu tấn năm
1980 lên 15 triệu tấn năm 1991 và 16,8 triệu tấn năm 1982...
1
Trên lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ cũng có những thay đổi đáng kể mà khởi đầu
là việc ban hành quyết định số 25-CP (21-1-1981) Về một số chủ trương và biện pháp nhằm
1
Trần Hoàng Kim: Kinh tế Việt Nam: chặng đường 1945-1995 và triển vọng đến năm 2020, NXB Tống kê, H.1996,
tr.77
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982, tr.62-63
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, t46, NXBCTQG, H.2006, tr.64
10
Về cơ cấu kinh tế, Bộ Chính trị khẳng định: “Một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý mới
phát triển ổn định. Bố trí đúng cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu sản xuất và đầu tư là những
vấn đề quan trọng đầu tiên của đường lối kinh tế, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong mỗi chặng đường”
1
. Đồng thời Bộ Chính trị cũng
cho rằng, hơn mười năm qua “đã mắc nhiều sai lầm, khuyết điểm trong việc bố trí cơ cấu
kinh tế, bố trí đầu tư...,trong 5 năm 1986-1990 phải kiên quyết điều chỉnh lớn phương án bố
trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư...”
2
;
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới, Bộ Chính trị yêu cầu
quán triệt tư tưởng chỉ đạo “cải tạo xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải tuân theo quy luật về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất... Đặc trưng
cần nắm vững là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần”
3
.
Về cơ chế quản lý kinh tế, Bộ Chính trị khẳng định “phải xoá bỏ tập trung quan liêu,
bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa”. Sự thay đổi này
nhằm vào các vấn đề như, thay đổi cơ cấu nền kinh tế, cách thức tổ chức, quản lý, phương
thức phân phối sản phẩm theo hướng tăng quyền chủ động cho cơ sở, gắn trách nhiệm của
người lao động với hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
phán triệt để cơ chế quản lý cũ “cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp từ nhiều năm
nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa...kìm hãm sản
xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và
đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”
1
; Hai, đề ra yêu cầu xây dựng cơ chế quản lý
mới phải phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong
đó nhấn mạnh: “quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển
hoá nền kinh tế còn nhiều tính tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá”; với hai đặc trưng
của cơ chế quản lý mới là “Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế”;
“Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý
kinh tế”
2
. Đại hội VI khẳng định “Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế
hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập
trung dân chủ”
3
.
Như vậy, đến Đại hội lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận nền sản
xuất hàng hoá, tức là thừa nhận cơ chế thị trường, nhưng chưa coi nền kinh tế Việt Nam là
kinh tế thị trường. Dư luận bên ngoài cũng cho rằng “năm 1986 bắt đầu công cuộc đổi
mới..., Việt Nam đã phát triển từ một nền kinh tế kế hoạch hoá sang một nền kinh tế định
hướng thị trường”
4
Sau hơn hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI (12-1986 đến 3-1989), đã nảy sinh
nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cần giải quyết. Trước hết là sự không thống nhất trong
nhận thức về kinh tế thị trường ở Việt Nam; tiếp theo là sự lúng túng trong việc thực hiện
đường lối kinh tế mới của Đảng. Mặt khác, những tác động động từ sự khủng hoảng của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã tạo nên tâm lý bất lợi ở một bộ phận cán bộ
và nhân dân. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Sáu ra Nghị quyết số
Bằng việc lần đầu tiên đưa ra quan điểm về một thị trường xã hội thống nhất; trong
nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch, thị trường vừa là một căn cứ, vừa là một đối tượng của
kế hoạch, và việc chấp nhận giá cả trong nước phải gắn liền với giá cả trên thị trường quốc
tế, Nghị quyết Trung ương Sáu đã thể hiện một bước tiến mới trong tư duy của Đảng Cộng
sản Việt Nam về kinh tế thị trường.
Năm 1991 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh tiếp tục bổ sung lý
luận về kinh tế hàng hoá:
Một, đưa ra chủ trương “Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa”
2
;
Hai, “Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ
khác. Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ, tiền
vốn; sức lao động...; thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thị trường thế
giới”
3
.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứ
VIII, sau khi nêu những thành tựu và chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém của 10 năm đổi
mới, đã rút ra 6 bài học chủ yếu. Trong đó, bài học thứ 3 có nội dung “Xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mặc dù vào thời điểm này, nền
kinh tế thị trường chưa được chính thức thừa nhận nhưng đã được đề cập nhằm mục đích sử
dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết viết: “Vận
dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt
tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đường
tư bản chủ nghĩa; Kinh tế thị trường có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ
1
của các thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội “Từ nay không phải
là “cho phép” các thành phần đó tồn tại hay không, mà tất yếu tồn tại như một quy luật
khách quan”
3
.
Đại hội IX đề ra tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất
theo định hướng xã hội chủ nghĩa là “thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời
sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội...Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
4
. Đại hội xác định mô hình kinh tế
tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: “thực hiện nhất quán và lâu dài chính
sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
5
.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H. 1996, tr.72
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tr.86
3
Lê Xuân Tùng: Những đột phá tư duy lý luận về kinh tế thị trường ở nước ta, Tạp chí Cộng sản, số 16 (8-2004), tr.17
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tr.87-88
5
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tr.23
14
Như vậy, đến Đại hội Đảng lần thứ IX, trên lĩnh vực kinh tế “về cơ bản Việt Nam đã
tạo dựng được khung thể chế kinh tế thị trường và tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng để vận
tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, với các nội dung cụ thể: đến năm 2010, từng
bước xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đi
đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; hình thành
một số tập đoàn kinh tế, các tổng công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, có
năng lực cạnh tranh quốc tế; đổi mới cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của
các đơn vị sự nghiệp công; phát triển đồng bộ, đa dạng các loại thị trường; giải quyết tốt hơn
6
Lê Thị Quế: Từ tư duy đến thực tiễn 15 năm “lột xác” của nền kinh tế Việt Nam (1986-2001), Nghiên cứu kinh tế, số
354, (11-2007), tr.71.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006, tr.83
15
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, môi trường; nâng cao hơn hiệu
lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Sáu (khoá X) đề ra quan điểm chỉ đạo việc hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là, nhận thức đầy đủ, tôn
trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế,
phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của
nền kinh tế; giữa thể chế kinh tế với thể chế chính trị, xã hội; giữa Nhà nước, thị trường và
xã hội. Gắn kết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển
văn hoá và bảo vệ môi trường; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường
của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam; chủ động và tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực
và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá
trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết cũng
đưa ra 5 chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa: thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp
và các tổ chức sản xuất kinh doanh; hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị
.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận: Báo cáo tổng kết một số vấn
đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), NXB Chính trị quốc gia, H.2005, tr.69.
17
ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN LÝ
CỦA NHÀ NƯỚC THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
GS,TS. Đỗ Thế Tùng
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Muốn xác định đúng vai trò lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấp công nhân trong
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước
hết phải hiểu rõ đặc điểm và bản chất của nền kinh tế này. Trong thực tiễn không có nền
kinh tế thị trường thuần tuý, ngay cả những nước tư bản chủ nghĩa có nền kinh tế thị trường
hiện đại phát triển đến trình độ cao cũng vẫn còn tàn dư của kinh tế tự nhiên và sản xuất
hàng hoá nhỏ và lại càng chưa có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hoàn thiện, hiện
thực; Bởi vậy, phải vận dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, nghiên cứu đặc điểm
và bản chất của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước tư bản dưới dạng thuần
túy, từ đó dự báo về đặc điểm, bản chất của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước xã hội chủ nghĩa (cũng dưới dạng thuần tuý). Dựa vào đó mới có thể tìm hiểu đặc
điểm, bản chất của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN ở Việt Nam.
1. Khái niệm thị trường, cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường.
Cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí hoàn toàn về các khái niệm trên.
1.1. Thị trường. Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra quan hệ mua bán hàng hoá
hay là mặt hàng được đưa ra mua bán. Ví dụ: Thị trường Luân Đôn, thị trường Pari, hay là
thị trường chè, thị trường len; hoặc là kết hợp cả hai yếu tố trên, như thị trường chè Luân
Đôn, thị trường len Pari v.v…
Theo nghĩa rộng, bao quát, thị trường là lĩnh vực trao đổi hay mua bán hàng hoá và
dịch vụ, phản ánh phân công lao động xã hội. Hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã
hội và sản xuất hàng hoá thì ở đấy và khi đó có thị trường. Quy mô thị trường phù hợp với
hoá đạt đến trình độ xã hội hoá cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết
đầu vào và đầu ra của sản xuất đều phải thông qua thị trường.
Kinh tế thị trường và kinh tế hàng hoá có những điểm giống nhau, nhưng không phải
là một. Đã là kinh tế hàng hoá thì tất yếu phải sản xuất nhằm để trao đổi hay để bán, nên ắt
phải có thị trường. Nhưng không phải hễ có thị trường là có kinh tế thị trường. Kinh tế thị
trường là trình độ cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ hoặc hầu hết đầu vào và đầu ra
của sản xuất đểu phải thông qua thị trường. So sánh người tiểu nông với người Fermier tư
bản chủ nghĩa. Sản xuất của người tiểu nông là sản xuất hàng hoá, nhưng chưa phải kinh tế
thị trường, vì người tiểu nông mua càng ít càng tốt và nếu cần anh ta có thể tự làm lấy một
số công cụ lao động, như tự đẽo lấy cày, tự làm cán cuốc, đòn gánh v.v…, nghĩa là có những
yếu tố đầu vào không thông qua thị trường. Trái lại, người Fermier mua toàn bộ các yếu tố
đầu vào, kể cả sức lao động và bán toàn bộ các sản phẩm đầu ra, nên sản xuất của người
Fermier là kinh tế thị trường.
Tính từ khi ra đời kinh tế thị trường đến nay có thể khái quát ba mô hình kinh tế –
Kinh tế thị trường tự do cạnh tranh (Free – market Economy) là nền kinh tế chịu sự điều tiết
tự phát của các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá. Trong nền kinh tế này nhà nước
không trực tiếp can thiệp vào sự phát triển kinh tế, mà chỉ tạo môi trường thuận lợi cho sự
cạnh tranh tự do lành mạnh, nhất là môi trường pháp lý.
1
C. Mác và Ph.Ănghen, toàn tập, tập 23, NXB CTQG, Hà Nội, 1993, tr 70, 77, 163
19
Thí dụ: Luật công xưởng ở nước Anh năm 1864 là biểu hiện đầu tiên của sự can thiệp
của nhà nước chống lại hình thức tự phát của quá trình sản xuất xã hội.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đã chứng tỏ rằng khi tính chất xã hội
hoá sản xuất đã phát triển tới một trình độ nhất định thì kinh tế thị trường tự do cạnh tranh
không thể phát triển một cách hài hoà, ổn định, bởi vậy cần phải có sự điều tiết của nhà nước
để hạn chế tác hại của tính tự phát vô chính phủ của kinh tế thị trường. Nhưng sự can thiệp
thái quá của nhà nước đến mức gần như triệt tiêu tính năng động của kinh tế thị trường đã
dẫn đến ra đời mô hình kinh tế chỉ huy (Command Economy) mà điển hình là kinh tế kế
hoạch hoá, tập trung, bao cấp ở Liên Xô và Đông Âu trước đây.
trường mà lập kế hoạch mang tính định hướng và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp
bằng cách vận dụng các đòn bẩy kinh tế, pháp luật và biện pháp hành chính khi cần thiết.
2.2. Hình thành hệ thống thị trường hoàn hảo.
Trong kinh tế thị trường việc phân bố các nguồn lực đều chủ yếu thông qua thị
trường. Do đó, chỉ có hệ thống thị trường hoàn hảo thì hiệu suất phân bố nguồn lực mới
được phát huy đầy đủ. Hệ thống thị trường hoàn hảo bao gồm đông đảo các chủ thể thị
trường và giữa họ có sự cạnh tranh hoàn hảo, xoá bỏ độc quyền, phá bỏ mọi sự chia cắt, mọi
rào cản nhân tạo, hình thành một thị trường thống nhất toàn quốc, liên kết hữu hiệu với thị
trường thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế. Hệ thống này không chỉ gồm thị
trường hàng hoá, dịch vụ phát triển cao mà cả thị trường các yếu tố sản xuất (công nghệ,
vốn, sức lao động, thông tin v.v…)
2.3. Giá cả thị trường – tín hiệu thị trường quan trọng nhất.
Mọi hàng hoá và dịch vụ được tự do trao đổi, mua bán theo giá cả thị trường. Dựa
vào giá cả thị trường mà người bán và người mua ra quyết định.
Giá cả thị trường phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đó là:
a. Giá trị thị trường: là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hoá trong
cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh tranh trong nội bộ mỗi ngành dẫn tới hình thành
một giá trị xã hội trung bình trong ngành đó. Tùy thuộc trình độ phát triển lực lượng sản
xuất của mỗi ngành mà giá trị xã hội trung bình đó (tức là giá trị thị trường) có thể ứng với
một trong ba trường hợp: một là, đại bộ phận hàng hoá của ngành được sản xuất trong điều
kiện trung bình thì giá trị thị trường do giá trị của những hàng hoá được sản xuất ra trong
điều kiện trung bình quyết định. Hai là, đại bộ phận hàng hoá trong ngành được sản xuất
trong điều kiện kỹ thuật lạc hậu, thì giá trị thị trường do giá trị của những hàng hoá được sản
xuất trong điều kiện kém hơn ấy điều tiết. Ba là, đại bộ phận hàng hoá được sản xuất trong
điều kiện kỹ thuật tiên tiến, thuận lợi thì giá trị thị trường do giá trị của những hàng hoá
được sản xuất trong điều kiện tốt hơn ấy điều tiết.
Ba trường hợp trên đều giả định cung bằng cầu, nên hàng hoá được bán theo giá trị
thị trường, dù giá trị thị trường rơi vào trường hợp nào trong ba trường hợp trên. Nhưng
cung bằng cầu trong điều kiện kinh tế thị trường là hiện tượng ngẫu nhiên. Khi cung lớn hơn
cầu thì bao giờ giá trị của hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện tốt nhất cũng điều tiết
Sự biến động của quan hệ cung cầu có thể do sự biến đổi về phía cung hoặc phía cầu,
hoặc do cả hai. Sự biến động đó vừa tạo ra sự chênh lệch giữa cung và cầu vừa có xu hướng
tự phát thủ tiêu sự chênh lệch đó. Thí dụ; cầu giảm làm cho giá cả thị trường giảm xuống thì
có thể dẫn đến giảm đầu tư vào ngành này khiến cho cung giảm xuống; hoặc là người ta sẽ
áp dụng những phát minh mới làm giảm thời gian lao động xã hội cần thiết đến mức ngang
giá với giá cả thị trường đã hạ xuống. Hoặc là khi cầu tăng lên làm cho giá cả thị trường tăng
lên cao hơn giá trị thị trường thì sẽ kích thích tăng đầu tư vào ngành này làm cho sản xuất
mở rộng và cung tăng lên, nên giá cả thị trường lại hạ xuống. Trừ trường hợp phải đầu tư
vào những điều kiện sản xuất xấu hơn để đáp ứng cầu tăng lên (chẳng hạn, đầu tư vào ruộng
đất xấu để đáp ứng cầu về lương thực) thì có thể giá cả thị trường cao tồn tại trong một thời
gian dài.
22
d. Cạnh tranh. Giá cả thị trường còn chịu tác động của cạnh tranh gắn với quan hệ
cung cầu. Đằng sau mối quan hệ giữa hàng và tiền là quan hệ giữa những người sản xuất,
những người bán (phía cung) với những người mua, những người tiêu dùng (phía cầu), kể cả
tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Hai nhóm này tác động lẫn nhau, cạnh tranh với
nhau với tư cách là một hợp lực. Khi cung lớn hơn cầu, bên mua có thế mạnh, cùng nhau ép
giá xuống, trong khi đó từng người bán cũng phải hạ giá để tranh bán với bạn hàng của
mình. Khi cung nhỏ hơn cầu thì bên mua ở vào thế yếu, người này tranh mua với người khác
đẩy giá lên, đồng thời bên bán cũng cùng nhau nâng giá càng cao càng tốt.
Cơ chế thị trường thông qua sự biến động của giá cả điều tiết sản xuất và lưu thông
hàng hoá, thúc đẩy những người sản xuất hàng hoá ứng dụng nhanh những thành tựu khoa
học kỹ thuật để nâng cao sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn
giá trị thị trường của nó, nhờ đó có ưu thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận siêu ngạch, làm
giàu lên mãi. Những người ứng dụng công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, giá trị cá
biệt của hàng hoá cao hơn giá trị thị trường sẽ ở thế yếu trong cạnh tranh và bị thua lỗ, thậm
chí bị phá sản, phải đi làm thuê. Như vậy, cơ chế thị trường dưới tác động của quy luật giá
trị, cung cầu, cạnh tranh tất yếu dẫn đến phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành hai
cực: giàu và nghèo.
2.4. Cơ cấu kinh tế mở.
của nhà nước đối với kinh tế thị trường bao gồm: tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh tế
– xã hội ổn định; định hướng phát triển kinh tế thị trường bằng chiến lược, chính sách, quy
hoạch, các chương trình kinh tế – xã hội, sử dụng những biện pháp hành chính khi cần thiết,
điều tiết thu nhập của các doanh nghiệp và dân cư để đảm bảo công bằng xã hội v.v…
Đi vào chi tiết hơn, có thể phân chia sự điều tiết của nhà nước thành điều tiết trực tiếp
và gián tiếp, điều tiết vĩ mô và vi mô, điều tiết chủ động và thụ động, v.v….Điều tiết trực
tiếp là nhà nước vận dụng các công cụ kế hoạch hay hành chính để điều tiết có tính cưỡng
chế các hoạt động kinh tế, xã hội, như định lượng cung, khống chế hạn ngạch, điều tiết giá
cả…..Điều tiết gián tiếp là nhà nước sử dụng các đòn bẩy kinh tế, như cung ứng tiền, tỷ suất
lợi tức, thuế suất, tỷ giá hối đoái v.v…để tác động đến các hoạt động kinh tế của các doanh
nghiệp, gia đình và cá nhân.
Trung tâm của sự điều tiết thị trường là điều tiết vĩ mô nhằm thực hiện các mục tiêu
chiến lược phát triển kinh tế quốc dân, điều chỉnh thể chế kinh tế. Động lực của cơ chế thị
trường là lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp, ít hướng vào lợi ích xã hội, nên cần có sự điều
tiết của nhà nước để đảm bảo các mục tiêu như kế hoạch hoá dân số, cân bằng sinh thái, bảo
vệ môi trường, nâng cao trình độ giáo dục của toàn dân, giảm chênh lệch quá xa về thu nhập
giữa các tầng lớp nhân dân...
Nhà nước cũng có điều tiết vi mô, như cung cấp các hàng hoá công cộng, cung cấp
thông tin..Đặc điểm của phần lớn hàng hoá công cộng là đòi hỏi đầu tư lớn, thu hồi vốn
chậm, lợi nhuận thấp, thậm chí không có lợi nhuận trực tiếp, nhưng lợi ích xã hội lại cao, rất
cần cho quốc kế dân sinh. Các doanh nghiệp tư nhân thường không muốn hoặc không đủ
khả năng cung ứng các hàng hoá công cộng ấy, vì vậy nhà nước phải đảm nhiệm, cung ứng
trực tiếp hoặc đặt hàng cho các doanh nghiệp tư nhân, hay là trợ cấp, ưu đãi cho các doanh
nghiệp tư nhân trong lĩnh vực này.
Điều tiết vĩ mô có hai trường hợp: Một là, điều tiết chủ động, tức là căn cứ vào mục
tiêu mong muốn, tự giác định hướng thị trường, điều tiết trước khi sự việc xảy ra, mang tính
dự báo, phòng ngừa những biến động lệch khỏi quỹ đạo mục tiêu. Hai là, điều tiết thụ động,
tức là khi thị trường xuất hiện sự hỗn loạn mới can thiệp, hay còn gọi là điều tiết hậu phát,
24
không dự đoán trước được, nhằm vào những vấn đề cụ thể, như chống lạm phát cao, chống
tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa
xã hội đã được xây dựng”
3
, nghĩa là kinh tế thị trường có thể tồn tại cả trong chế độ tư bản
chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ đến giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng
sản, khi kinh tế tri thức đã trở thành phổ biến trên toàn cầu, khi ấy mới không còn sản xuất
hàng hoá.
3
Đảng CS Việt Nam, văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VIII, NXB CTQG, Hà Nội 1996, tr 97
25