TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH sự PHÁT TRIỂN lý LUẬN sứ MỆNH LỊCH sử của GIAI cấp CÔNG NHÂN và sứ MỆNH LỊCH sử của GIAI cấp CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN.
SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN VIỆT NAM HIỆN NAY.

Xây dựng một xã hội tốt đẹp, không còn áp bức bóc lột, bất công; mọi
người đều bình đẳng, được tự do phát triển toàn diện; đó là mơ ước của con
người từ khi lịch sử xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước đến nay, nhất là khi
CNTB ra đời và bộc lộ rõ bản chất bóc lột, xấu xa; thì mơ ước đó càng trở nên
cháy bỏng. CNTB ra đời là một nấc thang phát triển tất yếu trong lịch sử, nó
đã đem lại những thành tựu to lớn cho nhân loại, nhất là sự phát triển của lực
lượng sản xuất, của khoa học công nghệ, và những tiến bộ về dân chủ… Tuy
nhiên ngay từ khi ra đời, CNTB đã luôn gắn liền với muôn vàn bạo lực, tội ác,
lừa gạt và bóc lột, như Mác đã viết: “Tư bản đến thế gian, từ đầu đến chân
mỗi lỗ chân lông đều thấm máu và bùn” (1). Vì vậy ngay từ khi CNTB ra đời,
nhất là từ đầu thế kỷ XIX trở đi, các tầng lớp nhân dân lao động đã liên tục
đấu tranh chống CNTB, giai cấp tư sản. Đặc biệt nhiều nhà tư tưởng đương
thời đã đứng về phía nhân dân lao động đã đã trực tiếp phê phán CNTB và
nêu lên ý tưởng về việc xây dựng một xã hội tốt đẹp trong tương lai; tiêu
biểu như Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê và Ô-oen... Tuy nhiên tư tưởng của các
ông chỉ mang tính không tưởng, bởi nó chỉ là sản phẩm của tư duy thuần
túy, chỉ là những nhận định, những phỏng đoán mang tính chủ quan, không
có cơ sở khoa học, cho nên không thể thực thi xây dựng được trên thực tế.
Đặc biệt tuy các ông đã đứng ra bảo vệ, bênh vực cho GCCN, cho những
người lao động, nhưng các ông chỉ thấy họ là những người nghèo khổ đáng
thương, mà không thấy được chính GCCN là lực lượng xã hội có sứ mệnh

1

C.Mác-Ăngghen, tuyển tập, tiếng trung, xuất bản lần thứ nhất, q23, tr 829.

1



Anh” và “Bản thảo kinh tế - triết học”(1844), “Gia đình thần thánh” và “Hệ tư
tưởng Đức” (1844-1846), “Sự kốn cùng của triết học” (1846-1847)… chúng
ta nhận thấy diễn ra quá trình chín muồi dần dần những quan điểm duy vật về
lịch sử, về kinh tế chính trị và về CNXHKH, trong đó vấn đề sứ mệnh lịch sử
của GCCN từng bước được hình thành và hoàn thiện cả trên phương diện
nhận thức và lý luận. Đặc biệt cho đến “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”
(1848) – tác phẩm được coi là đánh dấu sự đời của CNXHKH, thì vấn đề sứ
mệnh lịch sử của GCCN trở nên chín muồi, bởi cho đến thời kỳ này, đã xuất
hiện những điều kiện khách quan để Mác, Ăngghen nghiên cứu và khái quát
thành lý luận.
Vào những năm 30-40 của thế kỷ XIX: Sau cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất, đại công nghiệp ở Châu Âu phát triển mạnh mẽ, do đó làm
cho lực lượng sản xuất phát triển và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được
xác lập, đánh đấu sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nước
Anh đã trở thành cường quốc tư bản với nền công nghiệp hùng mạnh, Đức và
một số nước Tây Âu khác tuy cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra muộn hơn,
nhưng những thành tựu mà nó đạt được làm cho phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa chiếm vị trí ngày càng quan trọng và thể hiện tính ưu việt hơn hẳn
chế độ Phong kiến, như Mác đánh giá: “GCTS trong quá trình thống trị giai
cấp chưa đầy một Thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ
sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” (1). Song
những mâu thuẫn vốn có của nó cũng bắt đầu bộc lộ, đó là mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn
giữa GCTS với GCCN. Sự phát triển cùng những mâu thuẫn của CNTB giúp
Mác và Ăng-ghen có cơ sở thực tiễn nghiên cứu sự ra đời, quá trình phát triển,
bản chất và sự diệt vong tất yếu của CNTB.

1


1

Lê-nin toàn tập. Nxb TB.M 1977, Tập 38, tr 365.

4


bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” (2). Đặc biệt trên
cơ sở luận giải địa vị kinh tế - xã hội khách quan của GCCN, C.Mác và
Ph.Ăng ghen đã đưa ra kết luận khoa học: sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự
thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau; mà như Mác viết: “Vấn
đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại
ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử” (2). Về
địa vị kinh tế - xã hội khách quan của GCCN, được các ông chỉ rõ GCCN là
giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất
tiên tiến; là giai cấp được sản sinh từ nền đại công nghiệp và được đại công
nghiệp rèn luyện trở thành giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tinh
thần cách mạng triệt để, tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả và có khả năng tập
hợp lãnh đạo quần chúng tiến hành cách mạng. Do đó, các ông khẳng định;
không ai khác, chính GCCN là giai cấp nắm giữ vai trò sứ mệnh lịch sử thế
giới, là người “đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” và xây dựng thành công
CNXH, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên phạm vi toàn thế giới. Ăng ghen
viết: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của
giai cấp vô sản hiện đại”(3) và “Trong cuộc cách ấy, những người vô sản
chẳng mất gì hết ngoài xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế
giới”(4). Tuy nhiên, ngay trong “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”, Mác,
Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình
tất yếu GCCN phải thành lập được một chính đảng độc lập, phải thực hiện
đoàn kết quốc tế, các ông còn chỉ rõ con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử đó
chỉ có thể được thực hiện thông qua cách mạng vô sản, tức là sử dụng bạo lực

không tưởng đến khoa học” (1878)…Vấn đề sứ mệnh lịch sử của GCCN tiếp
tục được Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển thêm nhiều nội dung mới; trong
đó tập trung vào nội dung chủ yếu là: để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình,
GCCN phải xây dựng được chính đảng độc lập vững mạnh, phải thực hiện
liên minh công - nông và kiên quyết sử dụng bạo lực trong đấu tranh cách
mạng...
Trước hết về vai trò của đảng của GCCN: từ Công xã Pa-ri, từ sự phát
triển và hoạt động của các đảng công nhân ở các nước châu Âu thời kỳ này,

6


Mác-Ăngghen rút ra kết luận: một vấn đề có tính chất quyết định sự thành bại
của cuộc đấu tranh của GCCN để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là việc
xây dựng, củng cố và phát triển đảng, bất luận trong hoàn cảnh nào. Để đảng
vững mạnh, các ông yêu cầu: trong mọi trường hợp đảng phải độc lập về
chính trị, phải gắn bó mật thiết với quần chúng, đảng phải được vũ trang bằng
lý luận cách mạng; đặc biệt đảng phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất nội bộ,
đồng thời phải xây dựng tinh thần đoàn kết quốc tế của các đảng công nhân;
phải tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại và những nhóm, những
lực lượng thù địch với CNXHKH, với phong trào công nhân. Có thể nói đến
đây, Mác và Ăngghen đã bổ sung, phát triển những luận điểm cực kỳ quan
trọng về đảng cách mạng - đội tiền phong của GCCN, làm hình mẫu để các
đảng cộng sản tự hoàn thiện mình trong quá trình đấu tranh cách mạng.
Về liên minh công - nông: sau cách mạng 48-49 ở châu Âu, nhất là sau
thất bại của Công xã Pa-ri, Mác-Ăngghen chỉ rõ: để tạo sức mạnh to lớn, thực
hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN, cũng như giải phóng toàn bộ nhân
dân lao động khỏi mọi áp bức của CNTB, tất yếu phải thực hiện liên minh
công - nông. Mác viết: “Công nhân Pháp không thể tiến lên được một bước
nào, cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của chế độ tư sản, trước khi

sáng lý luận của Mác, Ăng ghen đã làm cho GCCN ý thức sâu sắc về địa vị và
sứ mệnh lịch sử của mình, để từ đó từng bước cùng toàn thể nhân dân lao
động đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử đó; đồng thời cũng là cơ sở để sau
này V.I.Lênin kế thừa, phát triển trong điều kiện mới. Đánh giá về những
cống hiến của Mác và Ăng ghen, V.I.Lênin nhấn mạnh: “Điểm chủ yếu trong
học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai
cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”(1).
Sau khi Mác và Ăngghen qua đời, lý luận về sứ mệnh lịch sử của các
ông tiếp tục được V.I.Lênin bảo vệ và phát triển một cách sáng tạo trong điều
kiện lịch sử mới - điều kiện ĐQCN và cách mạng vô sản. Cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, CNTB phát triển thành CNĐQ, chấm dứt thời kỳ phát triển
1

V.I.Lênin, Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1980, tr11.

8


tương đối hoà bình những năm 70, 80 của thế kỷ XIX; vì vậy làm cho những
mâu thuẫn vốn có của nó đã gay gắt trở nên càng gay gắt hơn, nhất là mâu
thuẫn giữa GCCN với GCTS. Đối với GCCN giai đoạn này tiếp tục phát triển
cả về số và chất lượng, chủ nghĩa Mác ảnh hưởng ngày càng sâu rộng vào
phong trào công nhân làm cho phong trào đấu tranh của công nhân phát triển
cả về quy mô, hình thức và tính chất chính trị ngày càng rõ hơn; vì vậy cách
mạng vô sản đã đặt ra một cách trực tiếp. Đặc biệt nước Nga trở thành nơi tập
trung mâu thuẫn của thời đại, trở thành trung tâm của cách mạng thế giới; do
đó khả năng bùng nổ cách mạng vô sản ở nước Nga là hoàn toàn hiện hữu.
Như vậy đến giai đoạn này do quy luật phát triển không đều của CNĐQ,
Lênin đã nhận định: cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một
số nước, thậm chí ở một nước tách riêng ra mà nói, đó là nơi tập trung những

tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên
phong. Về điều kiện để thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN, V.I.Lênin tiếp
tục khẳng định quan điểm của Mác về một trong những điều kiện quan trọng
là phải thực hiện liên minh giai cấp. Tuy nhiên, V.I.Lênin đã bổ sung, phát
triển tư tưởng về liên minh lên trình độ mới, đó là GCCN phải mở rộng liên
với các tầng lớp lao động khác trong xã hội, đặc bịêt là trí thức. V.I.Lênin
viết: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, GCVS và giới kỹ thuật,
không một thế lực đen tối nào đứng vững được”(1)... Những đóng góp của
V.I.Lênin không chỉ thể hiện sự trung thành với lý luận của Mác và Ăngghen,
mà còn góp phần bảo vệ và phát triển sáng tạo lý luận về sứ mệnh lịch sử của
GCCN của Mác và Ăngghen lên tầm cao mới trong điều kiện đế quốc chủ
nghĩa và cách mạng vô sản. Do đó nó đã cổ vũ mạnh mẽ GCCN Nga cũng
như GCCN trên toàn thế giới đứng lên đấu tranh thực hiện mục tiêu sứ mệnh
lịch sử của mình.
1

V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1978, tr218.

10


Công lao của V.I.Lênin không chỉ thể hiện ở việc đấu tranh bảo vệ và
phát triển sáng tạo lý luận về sứ mệnh lịch sử của Mác và Ăngghen, mà còn
thể hiện ở việc V.I.Lênin đã trực tiếp cùng với Đảng Bôn- sê- vích lãnh đạo
GCCN Nga, tiến hành cuộc cách mạng XHCN tháng Mười thành công năm
1917, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên
phạm vi toàn thế giới, biến lý luận trở thành hiện thực. Trong quá trình lãnh
đạo xây dựng CNXH hiện thực trên nước Nga V.I.Lênin tiếp tục bổ sung phát
triển làm phong phú thêm lý luận về sứ mệnh lịch sử của GCCN trong điều
kiện có chính quyền, GCCN bước vào thời kỳ cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã

sử của mình không phải lúc nào cũng diễn ra một cách dễ dàng, chỉ có thuận
lợi; mà là quá trình hết sức lâu dài, khó khăn phức tạp; sự sụp đổ của CNXH ở
Liên-xô và Đông Âu đã chứng minh điều đó.

2. VẤN ĐỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GCCN HIỆN NAY.
* Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay.
Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô, Đông
Âu; trước những điều chỉnh thích nghi của CNTB, những biến đổi của những
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới; bên cạnh đó cuộc cách mạng khoa
học công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới đang diễn ra
mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội; làm mờ đi tính
chính trị của cuộc đấu tranh giữa GCCN và GCTS. Lợi dụng tình hình đó,
nhiều người cho rằng CNTB đã thay đổi về bản chất, công nhân ở các nước tư
bản không còn bị bóc lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, do đó

12


lý luận của Mác về sứ mệnh lịch sử của GCCN không còn đúng trong thời đại
hiện nay. Theo họ, thời đại hiện nay là thời đại của “văn minh trí tuệ”, của
“kinh tế tri thức” thì trí thức mới là lực lượng tiên phong, có vai trò lãnh đạo
cách mạng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Chúng ta không phủ nhận một thực tế là, hiện nay CNTB do nắm được
ưu thế về vốn, khoa học công nghệ, nên có bước phát triển nhất định. Mặt
khác trong quá trình quản lý xã hội, CNTB có sự điều chỉnh và thực hiện một
số chính sách xã hội như, cho công nhân đóng góp cổ phần, quan tâm đến nơi
ăn, ở, điều kiện làm việc, phương tiện đi lại của công nhân…Sự điều chỉnh
này đã dẫn tới một sự ngộ nhận rằng ngày nay CNTB đã thay đổi bản chất,
rằng GCCN đã giàu có, không còn bị bóc lột như trước đây nữa, và do đó
những nguyên lý lý luận mà CNXHKH nêu ra đã trở nên lỗi thời, lạc hậu.

CNTB dù có những điều chỉnh thích nghi và đạt được những thành tựu
to lớn về kinh tế trong những thập kỷ gần đây, nhưng trong lòng thế giới tư
bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có của nó giữa lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư
liệu sản xuất không những vẫn còn tồn tại, mà có mặt còn sâu sắc hơn và lan
ra phạm vi rộng hơn. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định:
“CNTB hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường,
song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có”(1).
Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa giai cấp những người vô sản và giai cấp
những người hữu sản; giữa những người nghèo và những người giàu không
chỉ còn trong phạm vi một quốc gia, nó đã phát triển ở tầm quốc tế. Rõ ràng,
CNTB hiện đại dù có biến đổi, thích nghi thì về bản chất vẫn không hề có sự
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001,
tr.13.
1

14


thay đổi; nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công và đầy mâu thuẫn. Vì vậy, thực
chất của những quan điểm trên chẳng qua là sự biện hộ cho địa vị thống trị và
bóc lột của GCTS, biện hộ cho sự tồn tại “vĩnh hằng” của CNTB trên cơ sở
phủ nhận vai trò lịch sử khách quan của GCCN, phủ nhận tính tất yếu của
hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mặt khác, chúng ta cũng cần
nhận thức cho đúng quan điểm của V.I.Lênin: chủ nghĩa đế quốc là “phòng
chờ” của CNXH trong điều kiện mới hiện nay. Bởi cùng với sự phát triển và
tác dộng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thì “phòng chờ”
đó càng được mở rộng hơn. Song chính với sự mở rộng “phòng chờ” đó, tất
yếu sẽ diễn ra sự vùng dậy của lực lượng sản xuất làm nổ tung toàn bộ quan
hệ sản xuất đang trói buộc nó. Những thành tựu của cách mạng khoa học công

của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong thời đại ngày nay; càng
hiểu rõ hơn những bước thăng trầm, những khúc quanh trên con đường thực
hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Thực tiễn cho thấy, sau khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước
Đông Âu sụp đổ, các Đảng cộng sản ở các nước XHCN còn lại đã rút ra cho
mình những bài học quý báu, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh đạo công
cuộc cải cách, đổi mới giành được những thành tựu rất to lớn góp phần phục
hồi uy tín, vị thế cũng như khẳng định bản chất ưu việt của chế độ XHCN,
đồng thời bảo vệ và phát triển sáng tạo lý luận CNXHKH nói chung, lý luận
về sứ mệnh lịch sử của GCCN nói riêng trong điều kiện mới.
* Về vai trò của trí thức.
Đối với trí thức: Chúng ta không phủ nhận, trí thức có vai trò rất quan
trọng trong mọi thời đại, là lực lượng xã hội đi đầu trong việc phát triển các lý
thuyết khoa học và công nghệ, trong việc tiếp thu, ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ vào trong quá trình sản xuất, nâng cao năng xuất lao
động. Trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới hiện nay, vai trò của trí thức ngày
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Song không vì thế mà trí thức có thể thay

16


thế vai trò lịch sử thế giới của GCCN. Bởi lẽ, xét về mặt lịch sử, trí thức chỉ là
một tầng lớp xã hội không thuần nhất, họ chưa bao giờ và không bao giờ là
một giai cấp. Trí thức không đại biểu cho một phương thức sản xuất nào,
cũng không phải là lực lượng kinh tế, chính trị độc lập. Họ chỉ là một tầng lớp
xã hội đi theo và chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng của giai cấp mà nó phục vụ.
Do đó, trí thức không thể là người lãnh đạo cách mạng, mặc dù, các giai cấp
thống trị trong lịch sử đều cần đến trí thức và đào tạo ra đội ngũ trí thức của
mình để thực hiện vai trò thống trị đối với xã hội.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, trí thức không có lợi ích đối kháng trực

doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp. GCCN Việt Nam là một bộ phận
của GCCN quốc tế, tuy ra đời muộn ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,
kinh tế lạc hậu, song GCCN Việt Nam có đầy đủ đặc trưng cơ bản của GCCN
quốc tế và sứ mệnh lịch sử của GCCN nói chung. Đánh giá về GCCN Việt
Nam Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân là giai cấp dũng
cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc,
thực dân… giai cấp công nhân ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và
đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”(1). Đặc biệt từ khi đảng cộng sản
Việt Nam - đội tiền phong của GCCN Việt Nam ra đời, đã lãnh đạo cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trước hết, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, GCCN Việt Nam cùng toàn thể dân tộc đã tiến hành thắng
lợi cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam
Á. Tiếp đó GCCN Việt Nam và đội tiền phong của nó lại tiến hành lãnh đạo
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, đánh bại sự xâm lược của chủ
. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T10, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 29.

1

18


nghĩa thực dân cũ và mới, làm tan rã một mảng lớn chủ nghĩa đế quốc ở thuộc
địa, thống nhất tổ quốc, đưa cả nước quá độ đi lên CNXH.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, giai cấp công nhân Việt
Nam đã và đang cùng toàn dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng
thành công CNXH và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN. Thực hiện
thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh” đồng thời tích cực hội nhập quốc tế, cùng với các lực lượng tiến bộ
trên toàn thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và tiến bộ xã hội.

Tuy nhiên, sự phát triển của GCCN hiện nay về số lượng, cơ cấu và
trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện còn
thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân
lành nghề. Bên cạnh đó tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều
hạn chế, một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường.
GCCN còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp
GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân cũng không đồng đều;
sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Tỉ lệ đảng viên và
cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân
chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức
chính trị - xã hội. Nhìn tổng quát, lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng
chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng
góp của họ; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có
nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn
tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, vấn đề đặt ra
hiện nay là phải xây dựng GCCN Việt Nam lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và
bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã

20


hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hoá của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình
hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực
hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy trong thời gian tới cần phải thực
hiện tốt một số vấn đề sau:

các loại hình cơ sở đào tạo nghề.
Ba là, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động các tổ chức công
đoàn, nhất là công đoàn cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn đáp ứng
yêu cầu hoạt động trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt khu vực kinh tế
tư nhân. Chăm lo bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ công đoàn
chuyên trách về nghề nghiệp, hiểu biết pháp luật, có bản lĩnh chính trị vững
vàng và kinh nghiệm hoạt động trong kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Coi trong bồi dưỡng, sử dụng cán bộ công đoàn không chuyên
trách. Xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa tổ chức công đoàn với chủ doanh
nghiệp. Trong doanh nghiệp, tổ chức công đoàn là cầu nối giữa công nhân với
chủ doanh nghiệp; công đoàn vừa là đại diện, thay mặt cho công nhân thương
lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể với chủ doanh nghiệp nhằm bảo vệ
quyền lợi và lợi ích chính đáng của công nhân, vừa là người giáo dục, động
viên công nhân nâng cao ý thức kỷ luật, lao động giỏi, sáng tạo với năng suất,
chất lượng, hiệu quả cao đáp ứng mục tiêu duy trì và phát triển không ngừng
của doanh nghiệp.
Bốn là, Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính
sách, pháp luật bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Thực
hiện rà soát, bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách về lao động, việc làm và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân. Có cơ chế để các doanh

22


nghiệp, nhất là các doanh nghiệp dân doanh phải chú trọng thực hiện tốt các
chế độ, chính sách đối với công nhân, cũng như đầu tư bảo đảm các điều kiện
an toàn lao động, môi trường lao động, phòng tránh tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp. Thực hiện đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho công nhân
theo quy định của pháp luật. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát
huy nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ

trải qua những giai đoạn khó khăn phức tạp nhưng điều đó không làm thay
đổi những chân lý khách quan của thời đại. Lý luận về sứ mệnh lịch sử của
GCCN vẫn giữ nguyên giá trị, là “kim chỉ nam” cho các Đảng cộng sản và
GCCN trên toàn thế giới tiếp tục đấu tranh thực hiện mục tiêu cuối cùng của
mình là xây dựng thành công CNXH và cuối cùng là CNCS văn minh trên
toàn thế giới.
Đứng trước những tác động của nhân tố thời đại hiện nay, vấn đề đặt ra
là các đảng cộng sản phải đứng vững trên lập trường của GCCN, có cách nhìn
khách quan, đúng đắn trên mọi lĩnh vực. Phân tích đánh giá một cách toàn
diện những tác động đó, chỉ rõ những mặt tích cực, những thời cơ, thuận lợi
để tận dụng, tiếp thu; mặt khác phải nhận rõ những mặt tiêu cực, những khó
khăn, thách thức để có biện pháp khắc phục; trên cơ sở đó xây dựng, đường
lối, chiến lược, sách lược đúng đắn đẩy mạnh công cuộc cải cách, đổi mới
từng bước đưa CNXH đến bến bờ thắng lợi. Trong quá trình cải cách, đổi mới
phải nắm vững những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác- Lênin, kiên trì, không
nóng vội chủ quan; đồng thời phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng,
chỉnh đốn đảng, để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của đảng, bảo đảm cho đảng xứng đáng là hạt nhân đoàn kết, lãnh tụ chính trị
của GCCN, thực sự ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng.

24


Đối với cách mạng Việt Nam, GCCN vẫn là giai cấp duy nhất có sứ
mệnh lịch sử là: thông qua Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi sự
nghiệp CNH,HĐH đất nước và góp phần thắng lợi vào cuộc đấu tranh của
nhân loại tiến bộ hiện nay vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội. Tuy nhiên Đảng, Nhà nước cần phải có phương hướng đúng, chính sách
hữu hiệu nhằm phát triển GCCN Việt Nam cả về số và chất lượng. Bản thân
GCCN Việt Nam cũng cần phấn đấu nâng cao hơn nữa trình độ nghề nghiệp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status