MỞ ĐẦU
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là lý luận nền tảng của chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Nhờ có lý luận này mà các hiện tượng xã hội được nhận thức
một cách khoa học. Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong
mỗi hình thái kinh tế xã hội mà C.Mác đã tìm ra quy luật vận động của lịch sử
loài người và trên cơ sở đó khẳng định sự phát triển của các hình thái kinh tế
xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn
bao gồm hai quy luật cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội đó là quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của của lực lượng sản
xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc
thượng tầng.
Trong xã hội có giai cấp mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng được thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
Việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạn tầng và kiến trúc thượng
tầng sẽ giúp ta có thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận thức
và xem xét, vận dụng vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị ở nước ta hiện nay.
Tại Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của
vấn đề này và đã có những chủ trương đúng đắn, nhằm đề ra những giải pháp
hiệu quả phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy, việc vận dụng quy luật mối quan hệ biện
chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng của chủ nghĩa Mác Lênin vào làm rõ mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
là vấn đề cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay.
2
NỘI DUNG
I. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1. Quan điểm triết học mácxít về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng
trên đó người ta dựng nên kiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở hạ tầng đó.
Cơ sở hạ tầng mang tính lịch sử cụ thể, không có cơ sở hạ tầng chung
chung cho mọi chế độ xã hội trong lịch sử. Biểu hiện ngay trong từng bước đi,
trong quá trình phát triển của lịch sử. Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội, cơ sở hạ tầng có kết cấu phức tạp, có nhiều thành
phần kinh tế, nhiều kiểu quan hệ sản xuất cùng tồn tại, tác động qua lại nhau, cơ
sở hạ tầng vừa có tính chất đối kháng vừa không có tính chất đối kháng, song tính
chất không đối kháng chủ đạo, cơ bản, nổi trội. Cơ sở hạ tầng nó còn bao gồm cả
quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất ra đời sống xã hội. Thực chất là những
quan hệ vật chất khách quan. Tổng hợp các quan hệ vật chất này hợp thành một
cơ cấu kinh tế hiện thực của một chế độ xã hội nhất định.
Kiến trúc thượng tầng và đặc trưng của nó
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng và các
quan hệ tư tưởng cùng các tổ chức, thiết chế xã hội tương ứng với nó được
hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Kết cấu kiến trúc thượng tầng gồm có hai yếu tố: yếu tố tư tưởng xã hội bao
gồm chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… và yếu tố tổ chức
thiết chế xã hội bao gồm Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể, quân đội,
cảnh sát… là vật chất hóa quan điểm tư tưởng. Giữa hai yếu tố này có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, trong xã hội có giai cấp Nhà nước là cơ quan đặc biệt quan trọng
trong kiến trúc thượng tầng tiêu biểu cho chế độ chính trị hiện tồn. Chính nhờ có
Nhà nước mà giai cấp thống trị gán được cho xã hội hệ tư tưởng của mình.
Kiến trúc thượng tầng phản ánh bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội,
trong xã hội đối kháng có giai cấp, kiến trúc thượng tầng luôn mang tính giai
cấp sâu sắc, tính chất đối kháng của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất
đối kháng của cơ sở hạ tầng, tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng thể hiện ở
4
5
chính trị, pháp luật, đạo đức… như thế nào, không phải do ý muốn chủ quan
của các giai cấp quy định mà là do cơ sở hạ tầng quyết định. Cơ sở hạ tầng
dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì kiến trúc
thượng tầng được sinh và bảo vệ giai cấp thống trị trong xã hội.
Cơ sở hạ tầng quyết định sự vận động biến đổi phát triển thay thế lẫn nhau
của kiến trúc thượng tầng. Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc
thượng tầng cũng thay đổi theo. Sự thay đổi đó không chỉ diễn ra từ xã hội này
sang xã hội khác mang tính cách mạng mà nó còn diễn ra ngay trong một xã hội:
trong một hình thái kinh tế xã hội, mỗi sự biến đổi về cơ cấu, cơ chế hoặc hình
thức sở hữu trong lĩnh vực kinh tế… đều dẫn đến sự điều chỉnh nhất định ở lĩnh
vực kiến trúc thượng tầng như sự bổ sung luật pháp, cải cách tổ chức bộ máy Nhà
nước… Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng
mất theo. Khi cơ sở hạ tầng mới ra đời thì kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với
nó cũng xuất hiện.
Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng
Sự tác động ngược trở lại này là do kiến trúc thượng tầng có tính độc lập
tương đối không phụ thuộc máy móc vào cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng
phản ánh cơ sở hạ tầng một cách tích cực, sáng tạo nhằm cải tạo cơ sở hạ tầng vì
những lợi ích nhất định. Mặt khác, kiến trúc thượng tầng còn có sức mạnh của các
lực lượng vật chất do tổ chức thiết chế của nó đem lại, qua đó tác động ngược
trở lại cơ sở hạ tầng.
Sự tác động ngược trở lại này được biểu hiện:
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng được thể hiện
ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là luôn tìm mọi cách bảo vệ,
duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Kiến trúc thượng
tầng thường tìm mọi quyền lực kinh tế, chính trị, xã hội trong Nhà nước để
ngăn chặn sự ra đời của cơ sở hạ tầng mới và xóa bỏ sự phục hồi của cơ sở hạ
tầng cũ để tạo môi trường thuận lợi cho nó.
Giữa kinh tế và chính trị có mối quan hệ qua lại với nhau; các quan hệ
kinh tế và cơ cấu kinh tế là nền móng trên đó dựng lên được một kiến trúc
thượng tầng pháp lý, chính trị tương ứng; ngược lại, thượng tầng chính trị
7
pháp lý cũng có tác động mạnh tới sự vận động và phát triển của kinh tế.
Trong mối quan hệ này kinh tế giữ vai trò quyết định tính thứ nhất, chính trị
là tính thứ hai, là cái phản ánh của kinh tế, thể hiện qua tư duy chính trị,
đường lối chính trị , thể chế chính trị…
Kinh tế quyết định chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì kinh tế giữ vai trò
quyết định đối với chính trị. Kinh tế là nguồn gốc, là thước đo tính hợp lý của
chính trị. Tương ứng với một trình độ phát triển nhất định về kinh tế có một
trình dộ phát triển nhất định về chính trị. Cơ sơ kinh tế như thế nào thì cơ cấu
thể chế chính trị thích ứng như thế ấy. Sự biến đổi, phát triển của kinh tế là
nguồn gốc sâu sa của mọi biến đổi xã hội và đảo lộn về chính trị. Các quan hệ
giai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ là sự phản ánh các quan hệ lợi ích kinh tế,
các mâu thuẫn trong lợi ích kinh tế. Kinh tế phát triển thì chính trị tiến bộ,
ngược lại kinh tế khủng hoảng là dấu hiệu cho thấy sự bất cập của chính trị và
nó đòi hỏi phải có sự đổi mới về chính trị. Ở mức độ, khía cạnh nào đó, sự phát
triển của kinh tế thể hiện sự phát triển, tính ưu việt và sự phù hợp của chính trị đối
với kinh tế.
Theo V.I.Lênin, chính trị là việc xây dựng Nhà nước về kinh tế, “…là
sự biểu hiện tập trung của kinh tế”2, “…là kinh tế cô đọng lại”3. Như vậy, so
với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là “tính thứ hai”. Không có những quan
hệ chính trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật
kinh tế. Chính trị không phải là cái gương soi của đời sống kinh tế, mà là sự
biểu hiện tập trung của kinh tế. Nó phản ánh mang tầm khái quát, bộc lộ cái
chất của sự tác động của chính trị đối với kinh tế là tạo môi trường xã hội ổn
định, giải phóng sức sản xuất, tạo động lực để phát triển kinh tế, định hướng phát
triển kinh tế quốc gia. Để phát triển xã hội, đòi hỏi phải ưu tiên chính trị, đổi
mới, hoàn thiện, dân chủ hóa chính trị, tạo tiền đề cho kinh tế phát triển.
Quan hệ chính trị với kinh tế là quan hệ cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, chi phối các mối quan hệ xã hội. Vì vậy, đòi hỏi trong việc giải
4
5
V.I.Lênin, Sđd, tập 42, tr.349
V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.350
9
quyt cỏc vn c th phi ch ng, sỏng to, trỏnh tuyt i húa hoc
ng nht chớnh tr vi kinh t. Nu tuyt i húa kinh t s dn n phỏt
trin kinh t mt cỏch t phỏt, vụ chớnh ph, tp trung tng trng kinh t
bng mi giỏ, hy sinh cỏc mt khỏc. Nu tuyt i húa chớnh tr trong phỏt
trin kinh t s lm cho nn kinh t b can thip, ỏp t mt cỏch duy ý chớ,
khụng theo quy lut khỏch quan. S dn n kỡm hóm s phỏt trin kinh t
núi riờng v kỡm hóm s phỏt trin xó hi núi chung. Thc t s sp ca
ch xó hi ch ngha Liờn Xụ v ụng u cú nguyờn nhõn trc tip
v sõu xa l vic gii quyt mi quan h gia kinh t v chớnh tr cha c
tt trong quỏ trỡnh xõy dng xó hi ch ngha. Vỡ vy, vic nghiờn cu, gii
quyt v vn dng vn ny nc ta cú ý ngha v mt lý lun v thc
tin to ln i vi s phỏt trin ca mt t nc i lờn ch ngha xó hi.
Mt trong nhng nguyờn nhõn v bi hc kinh nghim ó gúp phn to nờn
nhng thnh tu to ln, ton din ca t nc qua hn 25 nm i mi
chớnh l do ng ta ó nhn thc v gii quyt, vn dng ỳng n mi
những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận
đờng lối đúng đắn đã đợc xác định, trái lại chính là bổ sung và phát triển
những thành tựu ấy.
Trớc những yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới trong nớc và
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đảng ta chủ trơng đổi mới,
kiện toàn tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ thống chính trị. Song khác
với cải cách, cải tổ của các nớc xã hội chủ nghĩa khác, đổi mới hệ thống chính
trị ở nớc ta không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị này bằng chế độ chính
trị khác mà cốt lõi là nhằm tăng cờng sức mạnh và hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mấu chốt trong đổi mới hệ
thống chính trị nớc ta là phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức,
từng bộ phận trong cả hệ thống. Vì vậy, một mặt phải nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa
giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của hệ thống ấy. Mặt khác, phải tăng cờng
hiệu lực quản lý của nhà nớc, đồng thời phát huy vai trò tích cực, chủ động
11
của các đoàn thể nhân dân tham gia vào quá trình thực hiện các nhiệm vụ
chính trị.
Đồng thời với đổi mới hệ thống chính trị, Đảng ta quan tâm mở rộng dân
chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhằm khơi dậy và
phát huy tiềm năng của mỗi ngời, mỗi tổ chức tham gia vào quá trình đổi mới,
phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Mặt khác, mở rộng dân chủ phải kết hợp với tăng cờng kỷ luật, kỷ cơng;
dân chủ phải có lãnh đạo; kiên quyết xử lý những biểu hiện, hành động vi phạm
quyền làm chủ của nhân dân, cũng nh mu toan lợi dụng dân chủ, nhân quyền để
chống phá hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của nớc ta.
lónh o kinh t, xó hi u bt ngun t nhng khuyt im trong hot
ng t tng, t chc v cụng tỏc cỏn b ca ng, õy l nguyờn nhõn
ca mi nguyờn nhõn. iu ú cú ngha nhng sai lm trong lnh vc chớnh
tr cú tỏc hi rt ln n lnh vc kinh t.
Trong i mi, ng ta ó nhn thc v vn dng sõu sc, khoa hc mi
quan h gia c s h tng v kin trỳc thng tng vo i mi kinh t v
i mi chớnh tr. Cú th núi, ti i hi VI, c bit l hi ngh TW 6 (khúa
VI), ng ta ó cú bc phỏt trin quan trng trong nhn thc lý lun, coi
chớnh sỏch phỏt trin nn kinh t hng húa nhiu thnh phn vn hnh theo c
ch th trng cú s qun lý ca Nh nc theo nh hng xó hi ch ngha
cú ý ngha chin lc lõu di. n i hi ng ln th VII, ng ta ch rừ
phi i mi ton din c v kinh t v i mi chớnh tr thn trng, vng
chc bng nhng hỡnh thc, bc i phự hp. n i hi XI ó cú bc phỏt
trin mi trong nhn thc v vn dng quy lut v mi quan h bin chng
gia c s h tng v kin trỳc thng tng. Vn kin ch rừ: Xây dựng đợc
về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thợng tầng về
chính trị, t tởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nớc ta trở thành một nớc xã hội
chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc7. Nhn thc ca ng ta l phi
i mi ton din v ng b, ly i mi kinh t l trung tõm, i mi chớnh
7
ng Cng sn Vit Nam, Vn kin i hi i biu ton quc ln th XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.71
13
trị phải thận trọng, từng bước theo yêu cầu của đổi mới kinh tế. Tính đồng bộ,
toàn diện trong đổi mới kinh tế và chính trị thể hiện tư tưởng không tuyệt đối
hóa, tách rời giữa kinh tế và chính trị. Trong tính toàn diện đó, Đảng ta xác
định vị trí đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị không ngang bằng nhau. Lấy
không cứu vãn được. Ngược lại nếu chậm trễ trong đổi mới chính trị và hệ
thống chính trị, nhất là trong tổ chức bộ máy và cán bộ, trong giải quyết
mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân thì
sẽ không tạo được điều kiên tiên quyết và môi trường thuận lợi để thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển và thực hiện dân chủ.
Điểm nổi bật của công cuộc đổi mới ở nước ta là luôn lấy sự ổn định
chính trị - xã hội làm tiền đề, điều kiện tiên quyết, nhờ có sự ổn định chính trị xã hội mà đổi mới kinh tế được thuận lợi. Trên thực tế, quá trình đổi mới, tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta đã diễn ra với những bước đi
thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ việc giải quyết những vấn đề cấp bách nhất
và đã chín muồi. Mục tiêu căn bản của đổi mới chính trị và hệ thống chính trị,
cũng là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới ở nước ta là xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ phải
đi đôi với tập trung, với kỷ cương, pháp luật, với ý thức, trách nhiệm của công
dân; chống khuynh hướng dân chủ cực đoan và những mưu toan lợi dụng “dân
chủ”, “nhân quyền” để thực hiện đa nguyên, đa đảng gây rối loạn về chính trị,
chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.
Điểm mới trong Đại hội XI là Đảng ta đã xác định tầm quan trọng trong
xử lý và giải quyết tốt tám mối quan hệ lớn: giữa đổi mới, ổn định và phát triển;
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng
xã hội chủ nghĩa; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa... Như vậy, một lần nữa, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
được khẳng định là giữ vị trí trọng tâm trong đường lối phát triển của Đảng. §ổi
mới chính trị không tách rời đổi mới kinh tế mà theo yêu cầu và đặc điểm tiến
trình phát triển kinh tế, từ đó thể hiện sâu sắc nội dung cốt lõi của mối quan hệ
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
15
Vic nht quỏn vi phỏt trin kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha
cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo9.
Trờn lnh vc chớnh tr, vic i mi v th ch, t chc, ni dung v phng
thc hot ng c thc hin ng b trong cỏc c quan ng, Nh nc v cỏc
t chc on th khỏc thuc h thng chớnh tr theo hng dõn ch húa; khc phc
v loi b c ch tp trung quan liờu, hnh chớnh mnh lnh, x cng, giỏo iu,
tỏch ri chớnh tr vi kinh t. ỏnh giỏ nh hng tớch cc ca i mi chớnh tr i
vi kinh t, ngh quyt hi ngh TW 3 khúa VIII nhn nh: nhng kt qu i mi
h thng chớnh tr, i mi t duy, chớnh sỏch, phỏp lut n t chc hot ng ca
b mỏy Nh nc, tuy mi l bc u, song ó to nn tng vng chc cho i
mi v phỏt trin kinh t - xó hi, gi vng quc phũng an ninh10.
Nh vy vic kt hp cht ch ngay t u i mi chớnh tr, ly i
mi kinh t lm trng tõm, ng thi tng bc i mi chớnh tr, chỳng ta v
thỳc y c nn kinh t ca t nc phỏt trin theo quy lut khỏch quan,
va to nờn s nng ng, tớch cc trong t duy, t tng v i sng tinh
thn núi chung ca xó hi, lm cho con ngi c thc s t do v cú iu
kin phỏt huy tớnh ch ng, sỏng to ca mỡnh. Cỏc trỡnh ú cú quan h bin
chng vi nhau, to lờn sc mnh giỳp chỳng ta cú c s thc hin thnh
cụng s nghip i mi ton din t nc.
Mt s vn nhm gii quyt mi quan h gia i mi kinh t v i
mi chớnh tr nc ta hiện nay
Quỏ trỡnh i mi ca chỳng ta hn 25 nm qua ó t c nhiu thnh
tu quan trng. Tuy nhiờn, nn kinh t ca t nc phỏt trin cha vng chc, h
thng chớnh tr cũn nhiu bt cp, i mi chớnh tr v h thng chớnh tr cha theo
kp ũi hi phỏt trin ca xó hi v i mi kinh t. ũi hi phỏt huy vai trũ lónh
o, hng dn ca chớnh tr i vi kinh t, m bo nh hng xó hi ch
9
ng Cng sn Vit Nam, Vn kin i hi i biu ton quc ln th XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.73.
ng Cng sn Vit Nam, Vn kin Hi ngh ln th 3 BCH Trung ng khúa VIII, Nxb CTQG, H.1997, tr.38
lý, tỏc ng ca nh nc vo hot ng kinh t ch yu thụng qua chin lc
phỏt trin, quy hoch, k hoch mang tớnh nh hng, hng dn, thụng qua
h thng ũn by nh s m bo v mt phỏp lut, c ch chớnh sỏch ti
chớnh, tin t chớnh sỏch u t, chớnh sỏch thu nhp, bng cỏc cụng c qun lý
v mụ v sc mnh kinh t cu Nh nc Vỡ vy cn y mnh vic xõy
dng Nh nc phỏp quyn xó hi ch ngha, hon thin h thng phỏp lut,
12
ng Cng sn Vit Nam, Vn kin i hi i biu ton quc ln th XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.75
19
chế độ chính sách, tạo môi trường chính trị, pháp lý, thuận lợi cho kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển. Cần triệt để xóa bỏ cơ
chế quản lí hành chính, tập trung quan niêu, cơ chế bao cấp, xin – cho, xóa bỏ
tình trạng độc quyền, đặc quyền, đặc lợi, tình trạng nhà nước can thiệp vào công
việc sự vụ, làm thay doanh nghiệp và công dân. Ở đây, viÖc tiếp tục đẩy mạnh cái
cách hành chính, chấn chỉnh tổ chức, tinh giảm bộ máy hành chính, xóa bỏ mọi rào
cản, chống quan liêu, tham nhũng, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, xây dựng
thể chế kinh tế thị trường, phát triển các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con
người là yêu cầu cấp thiết, bức xúc hiện nay.
Ba là, đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của §ảng đối với kinh tế. Văn kiện
Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: “Toàn bộ thành tựu và khuyết điểm của công cuộc
đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng ta. Sự lãnh đạo
và hoạt động của Đảng là nhân tố quyết định những thành tựu của công cuộc đổi
mới”13. §ai héi §¹i biÓu toµn quèc lÇn thø XI §¶ng ta coi trọng “Hoàn thiện nội
dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách
nhiệm trong việc thực hiện chức năng lãnh đạo của các cấp uỷ đảng; tăng cường
dân chủ trong Đảng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thợng TNG, vận dụng của đảng ta trong đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị