BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ SEN
ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG HOA
ĐẾN NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT NAM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ SEN
ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRUNG HOA
ĐẾN NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Toán giải tích
Mã số: 60 46 01 02
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vi Thái Lang
HÀ NỘI - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trang
1
2
1.1 Đặc điểm chính trị, xã hội Trung Hoa cổ - trung đại
1.2 Các đặc điểm cơ bản của triết học Trung Hoa cổ - trung đại
1.3 Các học thuyết có ảnh hưởng đến sự hình thành Nho giáo
Chương 2: Những tư tưởng cơ bản trong triết học nho giáo
2.1 Các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
2.2- Nội dung cơ bản của Nho giáo
2.3- Các giai đoạn phát triển của Nho giáo Trung Hoa, các học
2
4
4
11
11
14
17
giả tiêu biểu
Chương 3: Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền
19
văn hoá truyền thống của Việt Nam.
3.1 Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
3.2 Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hóa truyền
còn là biểu tưởng tự hào về truyền thống văn hoá dân tộc, là nguyên khí tinh
thần độc lập, từ cường của một dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn
hoá.
Tìm hiểu về Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đến truyền thống văn
hóa Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế nên em có hứng thú đặc biệt với đề
tài "Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hoá truyền thống
của Việt Nam".
2. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu và nghiên cứu vê nho giáo Trung Hoa.
- Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hoá truyền thống của Việt
Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
--Nghiên cứu lịch sử triết học trung hoa cổ - trung đại.
-Nghiên cứu những tư tưởng cơ bản trong triết học nho giáo.
-Nghiên cứu những ảnh hưởng đến Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-Nho giáo Trung Hoa.
-Nho giáo Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh.
Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm.
6. Cấu trúc tiểu luận.
Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát lịch sử Trung Hoa.
Chương 2: Nhừng tư tưởng cơ bản trong triết học nho giáo.
Chương 3: Ảnh hưởng của nho giáo Trung Hoa đến nền văn hoá
truyền thống của Việt Nam.
1.1.3. Hoàn cảnh lịch sử phát sinh các học thuyết triết học :
Trung Hoa thời cổ có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ thứ III tr.CN
kéo dài tới tận cuối thế kỷ III tr.CN, với sự kiện Tần Thuỷ Hoàng thống nhất
Trung Hoa bằng uy quyền bạo lực mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến.
Trong khoảng 2000 năm đó, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm hai thời
kỳ lớn : 1. Thời kỳ từ thế kỷ IX tr.CN trở về trước; 2. Thời kỳ từ thế kỷ VIII
tr.CN đến cuối thế kỷ III tr.CN.
Trong thời kỳ thứ nhất : những tư tưởng triết học ít nhiều đã xuất hiện,
nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống.
Thời kỳ thứ hai : còn gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc là giai
đoạn chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ (với các sứ quan cát cứ khắp nơi)
sang giai đoạn hình thành quốc gia phong kiến tập quyền. Nhà Chu bị phân rã
làm 7 quốc gia khác nhau : Tần, Sở, Tề, Ngụy, Hàn, Triệu, Yên. Tần Thuỷ
Hoàng - vua nước Tần đã tiêu diệt 6 nước thống nhất giang sơn hình thành
nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên. Dưới thời thịnh vượng của nhà Chu,
đất đai thuộc về nhà Vua thì nay quyền sở hữu tối cao về đất đai ấy bị một
tầng lớp mới, tầng lớp địa chủ chiếm làm tư hữu. Một sự phân hoá sang hèn
dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lúc này ở vào tình trạng hết sức đảo
lộn. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung
Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Trong tình hình đó,
một loạt học thuyết chính trị - xã hội và triết học đã xuất hiện và hầu hết đều
có xu hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội.
Điều đó trở thành nét đặc trưng chủ yếu của triết học Trung Hoa cổ đại. Chính
trong thời kỳ loạn lạc này đã xuất hiện những nhà tư tưởng vĩ đại, hình thành
nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh, được tồn tại và phát triển theo
suốt bề dầy lịch sử phát triển của đất nước Trung Hoa.
không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn
vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối
lập, mâu thuẫn thống nhất, trong Âm có Dương và trong Dương có Âm.
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự
biến hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh
tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái
âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn,
tốn, ly, khôn và đoài).
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng
đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và
thúc đẩy lẫn nhau.
Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó,
người xưa đặt ra "thuyết âm dương".
Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu
thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi
phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
Nói chung, cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài,
hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại,
hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ,
cây cỏ, đều được qui vào âm dương.
Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa
xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có:
Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.
Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ;
Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý
1.3.2 Thuyết Ngũ hành :
Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn
đã giới thiệu trong thuyết âm dương, nhưng bổ xung và làm cho thuyết âm
dương hoàn bị hơn.
Ngũ hành là : Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.
Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ cho 5 chất phối hợp
nhau mà tạo nên.
Theo tính chất thì thuỷ là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống. Hoả
là lửa thì bùng cháy, bốc lên.
Mộc là gỗ, là cây thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim là kim loại, thuận chiều hay đổi thay.
Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp
đỡ nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc. Trên cơ sở
sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hoá, tương thừa, tương vũ. Tương sinh,
tương khắc, chế hoá, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hoá phức tạp
của sự vật.
Luật tương sinh: Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trưởng.
Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau,
nương tựa lẫn nhau.
Theo luật tương sinh thì thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ
sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi. Thúc
đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng. Trong luật tương sinh của ngũ hành
còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ vệ hai phương diện: Cái sinh
ra nó và cái nó sinh ra, tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thuỷ thì kim là
mẹ của thuỷ, thuỷ lại sinh ra mộc vậy mộc là con của Thuỷ.
Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biều hiện cái ý
thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau.
Ví dụ: Mộc khắc thổ nhưng thổ sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như
nếu mộc khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là km tất nhiên nổi dậy
khắc mộc kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là bản thân cái bị có đầy đủ
nhân tố chống lại cái khắc nó.Cho nên, mộc khắc thổ là để tạo nên tác dụng
chế ức, mà duy trì sự cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự giữ gìn thế
cân bằng trongthiên nhiên.
Cũng trong bảng quan hệ chế hoá, chúng ta thấy mộc sinh hoả; nếu chỉ
nhìn hành mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là
hoả, nhưng nhờ có hoả mạnh, hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc
mộc. Như vậy mộc sinh con là hoả, nhưng nhờ có con là hoả mạnh mà hạn
chế bớt kim làm hại mộc do đó mộc giữ vững cương vị.
1.3.3 Thuyết Bát quái : Là lý thuyết triết học giải thích thế giới được
tạo thành bởi 8 nhóm sự vật, hiện tượng khác nhau.
Tiên thiên Bát quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lý hay Lẽ
Trời. Vì lúc đó chưa có chữ viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để diễn tả.
Sử dụng vạch liền, vạch liên tục, tức vạch Lẽ, gọi là Cơ để tượng trưng cho
phần Dương.
Sử dụng vạch đứt đoạn, tức vạch Chẳn, gọi là Ngẫu để tượng trưng cho
phân Âm.
Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng 2 vạch Dương và Âm
gọi là Dương Nghi và Âm Nghi.
Tứ Tượng : Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Toàn
Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là đã lớn). Đặt một vạch Âm lên
trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới, nên gọi là Thiếu
Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thì
thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta
có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm.
Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm,
trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia.
2.1.1 Tư Thư : là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa
được Chu Hy thời nhà Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa
và Khổng giáo. Chúng bao gồm : Đại học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử.
C Đại học : Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên,
khi bước vào bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh
vác việc nước.
Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời
nói của Khổng Tử.
Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải
sửa cái đức của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ
chí thiện. Muốn được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều) : cánh vật,
trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cái gốc của
đạo quân tử là sự “tu thân”. Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ
dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến
thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa của mình làm gốc”).
C Trung Dung : Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra. Tử Tư là học trò
của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng
Tử.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về
đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở
mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh
nhân.
Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên
trong Kinh Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp
với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư.
C Luận Ngữ : là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử
ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc
nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu
rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương
về chính trị của Mạnh Tử vô cùng mới mẽ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm
cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được. Có
thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này.
2.1.2 Ngũ Kinh :
C Kinh Thi : sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói
nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục
mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và
trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "học Kinh Thi chưa?", người con
trả lời "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra
sao" (sách Luận Ngữ).
C Kinh Thư : ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có
trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo
gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
C Kinh Lễ : ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại
mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói:
"Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ).
C Kinh Dịch : nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại
dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,... Đời Chu, Chu Văn Vương đặt
tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải
thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời
Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Hoán từ và Hào từ cho
dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.
C Kinh Xuân Thu : ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của
Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục
đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác
C Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm
điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
C Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ
nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
- Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha.
- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"
C Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người
phụ nữ phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.
- Công: khéo léo trong việc làm.
- Dung: hòa nhã trong sắc diện.
- Ngôn: mềm mại trong lời nói.
- Hạnh: nhu mì trong tính nết.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân :
· Đạt Đạo. Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà
người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. "Đạt đạo trong thiên hạ có năm
điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách
Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng
hữu". Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt
nhất là "trung dung". Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ
còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là
Tam tòng.
· Đạt Đức. Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng". Khổng
giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà
thôi.
Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư,
lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà
không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo
đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường).
2.3- Các giai đoạn phát triển của Nho giáo Trung Hoa, các học giả tiêu
biểu :
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự
đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã
hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 tr.CN) phát triển tư tưởng của Chu
Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà
người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca
Mầu Ni, Giê-xu,... người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng
tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép
do các học trò của ông để lại. Khó khăn nữa là thời kỳ "đốt sách, chôn Nho"
của nhà Tần, hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời đã làm cho việc tìm
hiểu tư tưởng Khổng Tử càng khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời
sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.
2.3.1 Nho giáo nguyên thủy : Thời Xuân Thu , Khổng Tử đã san định,
hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,
Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên
chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. Sau khi Khổng Tử mất,
học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ. Học trò xuất
sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà
soạn ra sách Đại Học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi