TIỂU LUẬN xây DỰNG nền QUỐC PHÒNG TOÀN dân NGANG tầm với sự NGHIỆP CÁCH MẠNG TRONG THỜI kỳ đổi mới HIỆN NAY - Pdf 39

1

XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN NGANG TẦM VỚI SỰ
NGHIỆP CÁCH MẠNG TRONG THỜI KỲ MỚI
Dựng nước phải đi đôi với giữ nước - đó là bài học sâu sắc từ lịch sử, là quy
luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, quy luật ấy được vận dụng, sáng tạo trong điều kiện hoàn cảnh mới, nâng lên
một tầm cao trí tuệ. Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trên cơ sở, thành tựu to lớn qua 20 năm đổi
mới đất nước đã nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh của dân tộc ta. Đứng trước yêu
cầu của tình hình nhiệm vụ cách mạng, với những diễn biến phức tạp, mau lẹ của
tình hình thế giới, khu vực và trong nước yêu cầu khách quan đòi hỏi Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh ngang tầm
với sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.
1. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nền quốc phòng
toàn dân trong thời kỳ mới
Quốc phòng là hoạt động của một nước nhằm bảo vệ nền độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân bằng sức mạnh tổng hợp của đất
nước. Nền quốc phòng bao gồm tổng thể hoạt động đối nội, đối ngoại về quân
sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của Nhà nước và của nhân dân để
phòng thủ đất nước, tạo sức mạnh toàn diện, cân đối trong đó sức mạnh quân
sự là đặc trưng để giữ vững hoà bình, ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động gây
chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược của địch.
Nền quốc phòng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định đó là nền quốc phòng
toàn dân, mang tính chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát triển
theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường ngày càng
hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước.



1 ,
3


3

Trung thành, nhất quán quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
khẳng định tính tất yếu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Người nói: “Ngày xưa
các Vua Hùng đã có công dựng nước. Ngày nay, Bác cháu ta phải cùng nhau
giữ lấy nước”. Ngay trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), khi tuyên bố với
nhân dân thế giới và toàn thể quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
long trọng tuyên bố: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” 1. Đề
cập đến vấn đề quốc phòng, theo Hồ Chí Minh đã khái quát: “Bất kỳ hoà bình
hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, phải
chuẩn bị trước”2 và Người chỉ rõ: “Trong điều kiện hoàn cảnh nào thì chúng
ta cũng phải ra sức củng cố quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân
vững mạnh là điều kiện để bảo đảm cho chúng ta bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng
đánh thắng mọi kẻ thù trong mọi tình huống. Cho nên khi Tổ quốc được độc
lập phải tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân” 3. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, bảo vệ Tổ quốc không phải là hành động nhất thời, không chỉ bó
hẹp là chống chiến tranh ngoại xâm giữ nước; mà là hành động có mục đích,
có kế hoạch, thường xuyên được chuẩn bị chu đáo, tạo sự ổn định, hoà bình
vững chắc lâu bền để xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng nền quốc phòng
toàn dân vững mạnh, là điều kiện để chúng ta đảm bảo giữ vững sự ổn định hoà
bình, độc lập, kịp thời ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu xâm lược của các
thế lực thù địch. Cho nên, bất kỳ hoà bình hoặc chiến tranh ta cũng phải nắm
vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước, phải nhìn xa, trông rộng, thấy
trước âm mưu, thủ đoạn kẻ thù để chủ động chuẩn bị trước về mọi mặt nhằm tăng
cường sức mạnh đất nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ nước.

1954 - 1975 cho thấy nhờ tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở
miền Bắc đủ mạnh để bảo vệ nền độc lập và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc; miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh, giữ vai trò quyết
định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Từ 1975 đến 1986 khi cả nước đã độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa
xã hội, với quan điểm đúng trong chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
toàn diện vững mạnh góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ độc lập,


5

chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Từ 1986 đến nay, cùng với việc lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới,
Đảng luôn chú trọng xây dựng nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong thời kỳ mới. Thực hiện bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới từng bước thắng lợi.
Thực tiễn lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng mấy
chục năm qua khẳng định vấn đề quy luật của cách mạng Việt nam là xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với việc thường xuyên củng cố, xây dựng
nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Đó là cơ sở thực tiễn, là kinh nghiệm
quý khẳng định đòi hỏi khách quan của yêu cầu tăng cường quốc phòng, xây
dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong thời kỳ mới.
Tính khách quan của nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững
mạnh, ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới là do
đòi hỏi của thực tiễn, sự phát triển với diễn biến mau lẹ, phức tạp của tình
hình thế giới, trong nước liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc
trong những năm qua và hiện nay.
Trên thế giới, sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ,
chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, so sánh

chống phá. Với mục tiêu “chiến thắng không cần chiến tranh”, thực hiện “triệt
phá kẻ thù cũ”, Mỹ và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện “Diễn biến
hoà bình”, bạo loạn lật đổ; chống phá nước ta bằng nhiều thủ đoạn thâm hiểm,
tạo nên một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam như Đảng đã chỉ ra.
Tình hình trong nước, bên cạnh những thành tựu rất quan trọng về kinh
tế - xã hội đặt được như: Chính trị - xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng khá
cao liên tục trong nhiều năm, đời sống nhân dân được nâng lên, lòng tin của
nhân dân được củng cố...Song vẫn còn những biểu hiện cần quan tâm như:
còn một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức


7

lối sống, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân xảy ra ở nhiều nơi, việc tranh chấp
khiếu kiện kéo dài, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và ổn định xã hội dễ bị
kẻ thù lợi dụng.
Mặt khác, xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngang tầm yêu cầu nhiệm
vụ trong giai đoạn hiện nay, do đòi hỏi của chính thực trạng nền quốc phòng
toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân của ta những năm qua đặt ra.
Theo đánh giá của Đảng ta, nhiệm vụ quốc phòng an ninh, những năm
qua đã đạt những ưu điểm, kết quả là: tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn
định, quốc phòng và an ninh được tăng cường, các lực lượng vũ trang nhân
dân làm tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm
an ninh quốc gia. Sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân được phát
huy; quân đội và công an được điều chỉnh theo yêu cầu mới; kết hợp quốc
phòng và an ninh với kinh tế và đối ngoại có nhiều tiến bộ.
Song, theo Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng toàn quân lần thứ VII
nhận định: Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới, sự nghiệp xây dựng quốc phòng củng cố quân đội còn
bộc lộc những yếu kém, khuyết điểm cần khắc phục là: nền quốc phòng toàn

tình hình thế giới và trong nước mà đặc biệt là thực trạng nền quốc phòng
toàn dân, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp đổi mới, trong xác định
đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc đã được hình
thành và phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam giai
đoạn 1986 - 2006. Đặc biệt, là giai đoạn hiện nay đất nước tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Nội dung xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn
hiện nay

1

ĐCSVN Văn kiện ĐHĐB Toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, H. 2006, tr. 22.


9

Kế thừa quan điểm về xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng qua
các kỳ Đại hội VI, VII và VIII, yêu cầu của tình hình thực tiễn trực tiếp đặt ra,
Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định đúng những nội dung yêu cầu xây dựng
nền quốc phòng toàn dân trong giai đoạn hiện nay tập trung ở việc xác định
phương hướng, mục đích, quan điểm chỉ đạo xây dựng, nội dung xây dựng và
những giải pháp nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp
ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Về phương hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân: Nghị quyết 07 Bộ
Chính trị, Nghị quyết Đại hội VII toàn quân xác định phương hướng xây dựng
nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, ngày
càng hiện đại. Nền quốc phòng toàn dân theo quan điểm của Đảng là nền
quốc phòng của nhân dân , do nhân dân, vì nhân dân, khẳng định sự nghiệp
xây dựng nền quốc phòng không phải là của riêng ai, riêng tổ chức nào mà là
của toàn dân. “Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại

quốc phòng của đất nước, đặc biệt coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị tinh
thần, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, xây dựng “thế trận lòng dân”, nhằm
phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước. Chú trọng ở các hướng chiến lược
các vùng trọng điểm, địa bàn chiến lược.
Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mà nòng cốt là quân đội
nhân dân. Thực hiện xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và
từng bước hiện đại.
Xây dựng và phát triển nền công nghiệp quốc phòng độc lập tự chủ với
bước đi thích hợp, trên cơ sở khai thác sự phát triển khoa học công nghệ,
thành tựu của sụ nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chủ động phòng ngừa và làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình”,
bạo loạn lật đổ, của các thế lực thù địch.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự lãnh
đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an
nhân dân.


11

Để thực hiện mục tiêu phương hướng trên, Đại hội IX đã xác định những
quan điểm cơ bản để chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng
toàn dân như sau:
Một là,về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Đại hội IX khẳng định: “Bảo
vệ Tổ quốc chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn
hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự
nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc”1.
Quan điểm của Đảng xác định bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa có nội
dung rất rộng: Bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ thành quả cách mạng to lớn

lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trong đó sức mạnh dân
tộc bao giờ cũng giữ vai trò quyết định nhất trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, phải hết sức coi trọng phát huy sức mạnh thời đại và kết hợp sức
mạnh thời đại với sức mạnh dân tộc.
Ba là, về kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, Đại hội IX khẳng
định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh
với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”3.
Sự kết hợp này đòi hỏi hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế, phải được
đánh giá bằng kết quả tổng hợp về kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường, quốc
phòng và an ninh. Mọi hoạt động quốc phòng, an ninh phải được đánh giá
bằng hiệu quả răn đe, ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu hành động chống phá
của các thế lực thù địch, giữ vững hoà bình ổn định để phát triển kinh tế - xã
hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, về phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối
ngoại, Đại hội IX khẳng định: phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với
hoạt động đối ngoại là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi, là bài
học thành công của cách mạng Việt Nam. Việc phối hợp này phải thực hiện
trong mối liên hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường, giữ vững bản sắc dân tộc. Theo ý nghĩa đó, Đảng khẳng định: “ Thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá,
đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy


13

của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển”4. Đồng thời, Đảng cũng khẳng định nhiệm vụ đối ngoại là: Tiếp tục giữ
vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh
phát triển, kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng

trị tinh thần, về kinh tế, khoa học kỹ thuật. Trong đó mỗi tiềm lực có vai trò vị
trí quan trọng của nó trong mối quan hệ biện chứng khăng khít với nhau.
Thứ nhất, xây dựng tiềm lực về chính trị tinh thần là khả năng về chính
trị tinh thần có thể huy động nhằm tạo thành sức mạnh thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng an ninh. Đây là nhân tố cơ bản tạo tiềm lực quốc phòng là nền
tảng chính trị tinh thần tạo sức mạnh quân sự, nó quyết định hiệu quả việc sử
dụng phát huy các tiềm lực khác, nó là ưu thế tuyệt đối của chiến tranh chính
nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Do đó, tiềm lực chính trị tinh thần giữ vai trò vị trí đặc
biệt quan trọng trong xây dựng tiềm lực quốc phòng. Nội dung xây dựng tiềm
lực chính trị tinh thần hiện nay là xây dựng chế độ chính trị ngày càng vững
mạnh; tiếp tục cải cách hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
nhằm không ngừng tăng cường pháp chế đi đôi với phát huy dân chủ; phát
huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; không ngừng giác ngộ cách
mạng, giác ngộ chính trị cho nhân dân, xây dựng lòng tin vững chắc của nhân
dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tạo nên sự nhất trí cao của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân trong nhiệm vụ xây dựng củng cố quốc phòng, xây dựng
phát triển đất nước.
Thứ hai, xây dựng tiềm lực về kinh tế là khả năng nền kinh tế có thể khai
thác huy động để phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh.
Đây là nhân tố cơ bản tạo nên tiềm lực quốc phòng, là cơ sở vật chất của nền
quốc phòng toàn dân, giữ vai trò quyết định đến tiềm lực quốc phòng (vì nền
quốc phòng chỉ mạnh khi có nền kinh tế mạnh độc lập tự chủ). Nội dung xây
dựng tiềm lực kinh tế của ta trong giai đoạn hiện nay phải đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời, với
chăm lo củng cố quan hệ sản xuất; tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ công bằng
xã hội; kết hợp xây dựng kinh tế với tăng cường quốc phòng trên từng địa


15


phòng toàn dân (bố trí lực lượng, thế trận chiến lược) đáp ứng yêu cầu xây
dựng kinh tế đất nước và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chiến tranh đặt ra.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân.
Vấn đề xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, thể hiện việc
tổ chức bố trí lực lượng của toàn dân trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến
lược bảo vệ Tổ quốc đáp ứng yêu cầu bảo vệ trong thời bình và khi chiến
tranh xảy ra. Xây dựng thế trận quốc phòng phải tiến hành trên nhiều nội
dung như: Xây dựng cơ sở chính trị xã hội, thế trận lòng dân; phân vùng
chiến lược bảo vệ Tổ quốc; xây dựng hậu phương từng vùng chiến lược và
hậu phương chiến lược quốc gia; xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực
phòng thủ vững chắc; tổ chức các lực lượng vũ trang sẵn sàng đối phó mọi
tình huống; tổ chức hệ thống phòng thủ dân sự bảo vệ nhân dân bảo vệ kinh
tế; kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng linh tế với cải tạo địa hình xây dựng các
công trình quân sự...
3. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới; cùng với những thành tựu đạt
được trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội; tư duy bảo vệ Tổ quốc của Đảng thể
hiện rõ sự phát triển và đổi mới mạnh mẽ. Chúng ta ngày càng nhận thức sâu
sắc đầy đủ và toàn diện hơn về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình; về
những yếu tố cấu thành và những chủ trương, biện pháp tạo nên sức mạnh
quốc phòng của đất nước trong điều kiện mới. Chúng ta cũng ngày càng thấy
rõ hơn vai trò quan trọng của an ninh và đối ngoại, sự cần thiết kết hợp chặt
chẽ giữa quốc phòng với an ninh và đối ngoại, giữa quốc phòng, an ninh, đối
ngoại với xây dựng kinh tế.
Bởi vì, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa không chỉ là đối phó với hành
động vũ trang xâm lược của kẻ địch từ bên ngoài mà còn phải đặc biệt chăm lo


17

18

Trên cơ sở đó phương châm chỉ đạo về bảo vệ Tổ quốc chỉ rõ: kiên
định các nguyên tắc chiến lược, đi đôi với vận dụng linh hoạt sách lược, tranh
thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước, dư luận quốc tế, phân hoá, cô
lập các phần tử chống đối ngoan cố nhất, các thế lực chống phá Việt Nam
hung hăng nhất, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa
là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai
phạm. Giáo dục, lôi kéo nhưng người lầm đường không để hình thành tổ chức
đối lập dưới bất cứ hình thức nào. Xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an
ninh, không để bị động, bất ngờ.
Hiện nay, trong điều kiện hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn, chủ
nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, sức mạnh bên trong của đất
nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ và sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất
của Nhà nước mà lực lượng vũ trang làm nòng cốt.
Trong tình hình mới, các thế lực thù địch thay đổi chiến lược và
phương thức chống phá nhân dân ta, sử dụng phương thức phi vũ trang là chủ
yếu, lợi dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để can
thiệp vào nội bộ nước ta với chiến lược hết sức nguy hiểm “diễn biến hoà
bình” kết hợp bạo loạn lật đổ. Do vậy, phương thức đấu tranh phi vũ trang
ngày càng giữ vị trí quan trọng. Đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
tư tưởng, văn hoá là những phương thức cần quan tâm nhiều trong sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc.
Cần nhận thức rõ, trong thời kỳ đổi mới, mối quan hệ biện chứng giữa
hai lĩnh vực kinh tế-xã hội với quốc phòng- an ninh đã được nhìn nhận một
cách toàn diện và sâu sắc hơn. Mục tiêu của sự kết hợp ấy là khai thác, sử
dụng có hiệu quả nhất nguồn lực tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi




20

hiện đại hoá đất nước; chủ động tích cực tham gia quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới, góp
phần nâng cao vị thế, uy tín của nước ta.
Vấn đề phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ
cấp bách hàng đầu, không coi nhẹ nguy cơ “tự diễn biến” đồng thời sẵn sàng
đánh thắng các loại hình chiến tranh xâm lược.
Tư duy về quốc phòng và an ninh có sự phát triển, gắn quốc phòng với
an ninh, gắn xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân với an ninh
nhân dân trên phạm vi quốc gia cũng như trên từng địa bàn tỉnh, thành phố,
đặc biệt là trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam
Bộ; xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc.
Chúng ta nhận thức rõ hơn: nền quốc phòng toàn dân là nền quốc phòng
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mang tính chất toàn diện, độc lập tự
chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Điều đó thể hiện mối quan hệ đồng bộ giữa xây dựng, củng cố, bố trí lực
lượng quốc phòng với tăng cường công tác quản lý nhà nước về quốc phòng của
các cấp và thường xuyên duy trì, điều hành các hoạt động đấu tranh quốc phòng.
Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh tổng hợp của quốc gia để bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam là sức mạnh tổng hợp của quốc phòng-an ninh; xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt cho nền quốc phòng toàn dân
bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân không những để sẵn sàng
chống chiến tranh xâm lược mà trước hết là để phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi mọi
nguy cơ dẫn đến chiến tranh; đồng thời đối phó thắng lợi các tình huống khác, do
vậy quan niệm về nền quốc phòng toàn dân ngày càng toàn diện hơn.

sàng đánh thắng chiến tranh hiện đại trong bất kỳ tình huống nào.


22

Đấu tranh quốc phòng trong tình hình mới, phải quán triệt quan điểm,
chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại; nắm vững nguyên tắc chiến lược,
vận dụng sáng tạo sách lược phù hợp với từng đối tượng, chú trọng “thêm
bạn, bớt thù”. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, chủ động, tích cực
phòng thủ vững chắc, bảo vệ từ xa; chủ động giải quyết tình huống kịp thời,
nhanh gọn, không để mở rộng, kéo dài, kẻ địch lợi dụng tạo cớ can thiệp. Khi sử
dụng lực lượng vũ trang, nhất là quân đội phải tuân theo đúng quy định của Bộ
Chính trị và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Phát huy sức mạnh tại chỗ, lấy cơ sở để
giải quyết là chủ yếu, chú ý vận dụng phù hợp các biện pháp giáo dục, kiên trì
vận động thuyết phục đi đôi với xử lý nghiêm bằng biện pháp hành chính và
pháp luật.
Ba là, thống nhất đánh giá đối tượng, đối tác trong xây dựng nền quốc
phòng toàn dân
Cần thấu suốt các vấn đề mà Nghị quyết Trung ương 8 khoá IX về
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã xác định: Những ai chủ
trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị
hợp tác, bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất
kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.
Đó là nguyên tắc, là tiêu chí để xác định đối tượng, đối tác của ta trong
xây dựng và đấu tranh quốc phòng. Tuy nhiên giữa đối tượng và đối tác ngày
nay luôn có sự đan xen. Trong khi đối tượng là đấu tranh, nhưng vẫn có
những mặt cần tranh thủ, hợp tác; ngược lại là đi tác trong quan hệ làm ăn,
nhưng vẫn có những mặt đối lập phải cảnh giác và đấu tranh. Do vậy, đối
tượng và đối tác có thể chuyển hoá cho nhau, nên cần đánh giá một cách

mạnh các hoạt động gây mất ổn định chính trị. Lợi dụng những sơ hở của ta,
chúng có thể gây bạo loạn ở một số vùng, khu vực, thực hiện âm mưu chia cắt
đất nước. Trường hợp dựng được ngọn cờ, tạo được thời cơ và những yếu tố cần


24

thiết, chúng có thể lật đổ chế độ theo kiểu “cách mạng nhung” như đã tiến hành
gần đây ở một số nước hoặc tạo cớ để can thiệp vũ trang. Địa bàn cần đề phòng
là các vùng biên giới, ven biển, những nơi nhạy cảm về chính trị, nơi tập trung
đông dân tộc thiểu số, nhiều đồng bào theo đạo…
Ngoài ra, trong trường hợp Lào và Campuchia có biến động lớn, xảy ra
bạo loạn, đảo chính, mất ổn định về chính trị sẽ có tác động trực tiếp đến quốc
phòng, an ninh của nước ta. Tình hình khu vực biên giới sẽ hết sức phức
tạp, các thế lực thù địch gây xung đột vũ trang, đòi xét lại các vấn đề tồn
tại về lịch sử…Khi cần thiết chúng có thể sử dụng địa bàn Thái Lan, lợi
dụng Campuchia làm bàn đạp gây chiến tranh chống Việt Nam. Trên Biển
Đông- Trường Sa, các nước trong khu vực do tranh chấp chủ quyền, khai
thác tài nguyên…có thể xảy ra xung đột vũ trang; các thế lực thù địch bên
ngoài khu vực có thể lợi dụng thời cơ để can thiệp vũ trang gây cho tình
hình phức tạp hơn. Trong nội địa, do sơ hở, mất cảnh giác, lực lượng
khủng bố, hoặc do thế lực thù địch lợi dụng tiến hành, lấy cớ “chống
khủng bố” chúng có thể tiến hành can thiệp vũ trang và tiến hành chiến
tranh xâm lược.
4. Một số giải pháp chủ yếu xây dựng nền quốc phòng toàn dân
trong giai đoạn hiện nay
Đại hội X đã chỉ rõ mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân của ta
là: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an nuinh nhân dân vững mạnh toàn
diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn

tăng cường bồi dưỡng, hướng dẫn để phát huy vai trò làm tham mưu trong tổ
chức thực hiện xây dựng và quản lý công tác quốc phòng. Tiếp tục nghiên cứu
xây dựng quy chế quan hệ phối hợp, hiệp đồng giữa các ban ngành, các cấp,
nhất là trong xử lý các tình huống. Chấp hành nghiêm Quy định 107/TTG của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status