MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI
I. Biến đổi xã hội: khái niệm và các yếu tố giải thích
Biến đổi là một nhân tố phổ quát trong đời sống xã hội. Không có xã hội nào
không trải qua biến đổi. Đó là quá trình mà qua đó các giá trị, chuẩn mực, thiết
chế, quan hệ xã hội và hệ thống phân tầng biến đổi theo thời gian”. (Beth
B.Hess, Elizabeth W. Markson, Peter J. Stein. 1992, tr. 429)
Sự biến đổi được thúc đẩy hay kìm hãm bởi những người chiếm giữ các vị
thế trong hệ thống xã hội. Một số vị thế có tác động nhiều hơn lên các vị thế khác,
vì thế những người chiếm giữ các vị thế này là một tác nhân quan trọng của sự biến
đổi.
Sự biến đổi trong các xã hội về cơ bản diễn ra thông qua hai quá trình- kiến
tạo và truyền bá. Kiến tạo là sự tạo thành một nhân tố mới thông qua việc kết hợp
hai hay nhiều hơn các nhân tố đang tồn tại và sự tạo thành các quy tắc sử dụng mới
như một sự kết hợp duy nhất. Kiến tạo bao gồm cả mặt vật chất và phi vật chất- văn
hoá và cấu trúc xã hội. Tốc độ biến đổi xã hội thông qua kiến tạo gắn chặt với sự
phức tạp của nền tảng văn hoá và xã hội. Khi nền tảng trở nên phức tạp và đa dạng
hơn, số lượng các nhân tố cũng như là cách kết hợp chúng cũng tăng lên đáng kể.
Vì thế, xã hội càng phức tạp và đa dạng thì sự biến đổi diễn ra càng nhanh.
Các nhà xã hội học chia các nhân tố ảnh hưởng đến biến đổi xã hội thành
những nhân tố có nguồn gốc bên trong và bên ngoài:
Nhân tố bên trong: nói đến những nhân tố bắt nguồn từ bên trong một xã hội
cụ thể và dẫn đến những thay đổi quan trọng trong tổ chức và cấu trúc xã hội của nó
một cách đơn lẻ hay dựa trên sự kết hợp. Các nguồn lực bên trong quan trọng nhất
của biến đổi xã hội là cách mạng công nghệ/kỹ thuật, tư tưởng, xung đột văn hoá và
bất bình đẳng cấu trúc.
Nhân tố bên ngoài: tất cả mọi xã hội đều tồn tại trong môi trường tự nhiên và
văn hoá xã hội nhất định. Không có xã hội nào thích ứng hoàn toàn với môi trường
của nó bởi cả hai cùng biến đổi không ngừng. Một trong những nhân tố bên ngoài
của biến đổi xã hội là quá trình truyền bá - đó là khi các nhóm với nền văn hoá khác
nhau giao tiếp và trao đổi với nhau thông tin và tư tưởng.
Parsons giải thích biến đổi xã hội xuất phát từ hai nguồn: nó có thể từ bên
những cố gắng đầu tiên phân tích xã hội học chủ đề này đã được thúc đẩy bởi nhu
cầu giải thích hai làn sóng biến đổi lớn đang diễn ra trên khắp châu Âu lúc này. Đó
là quá trình công nghiệp hoá và sự mở mở rộng nền dân chủ và các quyền công dân,
được thức tỉnh từ sau các cuộc cách mạng ở Pháp và ở Mỹ. Auguste Comte, trong lý
thuyết về động thái xã hội của mình, cho rằng các xã hội đã và đang phát triển thông
qua những giai đoạn có thể dự báo được dựa trên sự phát triển của tri thức nhân
loại. Herbert Spencer thì đưa ra lý thuyết về sự biến đổi mang tính cách mạng dựa
trên sự tăng trưởng dân số và những khác biệt cấu trúc. Còn Karl Marx thì đưa ra
quan niệm cho rằng những biến đổi xã hội mạnh mẽ nhất đều mang bản chất cách
mạng, như là hệ quả của các cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các giai cấp kinh
tế
2
Xu hướng chung của các lý thuyết về biến đổi xã hội giữa thế kỷ XIX là đều
hướng tới chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa không tưởng. Trong suốt thế kỷ này các lý
thuyết về biến đổi xã hội đã nảy nở và trở nên phức tạp hơn, song tất cả chúng đều
không vượt qua được các công thức đã có từ trước.
Trong thế giới hiện đại, chúng ta đều biết rằng xã hội không bao giờ tĩnh tại,
rằng những biến đổi chinh trị, xã hội và văn hoá diễn ra thường xuyên. Các biến đổi
có thể khởi nguồn từ phía chính phủ, thông qua các hoạt động lập pháp và hành
pháp (như một quy định mới về sự trả tiền bình đẳng hay tuyên bố một cuộc chiến
tranh); bởi các công dân được tổ chức trong những phong trào xã hội (như công
đoàn, nữ quyền,...); từ sự truyền bá văn hoá (như trong các hành động xâm chiếm
quân sự, di cư, chủ nghĩa thực dân); hay bởi các hậu quả dự kiến hoặc không dự
kiến được của sự phát triển công nghệ. Một số biến đổi xã hội mạnh mẽ nhất trong
thế giới hiện đại lại diễn ra bởi sự xuất hiện của ô tô, của thuốc kháng sinh, của vô
tuyến truyền hình, của máy vi tính và gần đây nhất là của mạng internet, với các yếu
tố cấu thành những xã hội thông tin đang đến gần. Những biến đổi xã hội cũng có
lựa chọn này sẽ gắn kết với số phận của nó. Vì vậy, phúc lợi, hoặc các hành động
tích cực, hoặc sự thâm hụt chi tiêu có thể là tốt với một số người, nhưng lại là xấu
đối với tất cả. Sự sinh tồn xã hội là chìa khóa để hiểu các hậu quả chứ không phải
để hiểu những mục tiêu của biến đổi xã hội.
Nhìn chung các quan điểm chức năng luận, tiến hoá luận hay xã hội học về
biến đổi xã hội cho đến lúc này đều mang hàm ý bảo thủ, thể hiện nhu cầu của xã
hội và đều bảo vệ trạng thái ổn định của nó hơn là các ước muốn cá nhân.
Những truyền thống Mác–xít và lý thuyết xung đột lại phát triển các tuyến lý
giải khác, cho dù họ có chia sẻ những giả thuyết được xem là quan trọng của thuyết
chức năng luận. Lý thuyết Mác-xít về biến đổi xã hội mang tính tích cực hơn, khi
nhấn mạnh khả năng của con người có thể ảnh hưởng tới số phận riêng của họ thông
qua hành động chính trị. Các lý thuyết xung đột (không nhất thiết là mác-xít) giải
thích biến đổi xã hội như là hệ quả của cuộc đấu tranh giành ưu thế giữa các giai
cấp, các sắc tộc hay các nhóm khác, hơn là vì mục tiêu tìm kiếm sự đồng thuận.
Daniel Bell trong tác phẩm Cultural Contraditions of Capitalism (1976) đã trở lại
với cách tiếp cận xung đột khi đề xuất rằng những biến đổi trong thế giới hiện đại
đang gia tăng là do mâu thuẫn giữa ba “lĩnh vực” của thực tiễn xã hội, đang vận
hành trên những nguyên tắc và những mục tiêu khác nhau. Đó là: cấu trúc kinh tếkỹ thuật (khoa học, công nghiệp và kinh tế); hệ thống chính trị; và văn hoá. Vào thế
kỷ XIX, các nhà lý luận nhìn nhận biến đổi xã hội như một quá trình tổng thể thuần
nhất, ở đó mỗi khía cạnh của xã hội có thể thay đổi lẫn cho nhau. Còn ngày nay,
chúng ta biết rằng, như mô hình của Bell đưa ra, biến đổi thường không đều và
mang tính bộ phận. “Trễ văn hoá (cultural lag) là một hiện tượng phổ biến, ở đó sự
phát triển của văn hoá thường bị trễ so với sự phát triển trong công nghệ, chính trị
hoặc kinh tế”.
Đối với các nghiên cứu thực nghiệm về biến đổi xã hội thì tình hình cũng
không đơn giản. Các số liệu lịch sử thì thường xuyên không đầy đủ hoặc đầy định
kiến sai lệch. Những nghiên cứu dài hạn về các biến đổi đang diễn ra thì quá tốn
kém và rất khó khăn. Những số liệu thống kê chính thức và các nghiên cứu lặp (như
kiểu trưng cầu dư luận của Gallup) hay các nghiên cứu panel là những công cụ mà
sinh viên học về biến đổi xã hội bắt buộc phải sử dụng.
Thứ hai, đó là sự mở rộng quyền lựa chọn của cá nhân. Trong xã hội tiền
công nghiệp truyền thống, con người thường xem đời sống được định hình bằng các
tác động ngoài sự kiểm soát của con người - thần thánh, ma quỷ hay chỉ đơn thuần
là số mệnh. Khi sức mạnh truyền thống giảm sút, con người trong xã hội hiện đại
xem đời sống của mình như một loạt các tuỳ chọn hay chọn lựa cá nhân, mà Berger
mô tả là quá trình cá nhân hoá.
Thứ ba là sự đa dạng hoá các khuôn mẫu niềm tin. Trong xã hội tiền công
nghiệp, niềm tin tôn giáo và các yếu tố truyền thống khác có khuynh hướng củng cố
sự tuân thủ của cá nhân. Nhưng hiện đại hoá đã thúc đẩy thế giới quan duy lý, khiến
5
cho các giá trị và tiêu chuẩn văn hoá không còn là bất biến. Hơn nữa, sự phát triển
của đô thị, của các tổ chức xã hôi phi chính thức, và sự hoà nhập các dòng di cư,
v.v… tất cả đều nuôi dưỡng trong xã hội hiện đại một sự đa dạng về niềm tin và
hành vi vượt quá những thực tiễn thông thường của xã hội truyền thống.
Thứ tư là sự định hướng tương lai. Trong các xã hội tiền công nghiệp, con
người hướng về quá khứ để tìm sự chỉ dẫn. Còn trong xã hội hiện đại, con người có
khuynh hướng nhìn về tương lai với hi vọng những đổi mới và khám phá mới sẽ
làm đời sống tốt hơn. Tính hiệu quả khuyến khích sự chấp nhận các khuôn mẫu xã
hội mới trong chừng mực sự đổi mới cho phép người ta dễ dàng đạt mục tiêu hơn.
Vì thế mà xã hội hiện đại sẵn sàng tán thành những biến đổi xã hội mà các xã hội
tiền công nghiệp truyền thống thường phản kháng.
Có thể thấy “tính mở” là một đặc trưng nổi bật của xã hội hiện đại, nó cho
phép các cá nhân có nhiều lựa chọn hơn. Địa vị cá nhân thường dựa trên phần
thưởng và nỗ lực cá nhân, chứ không phải dựa trên dòng dõi, gia đình. Trong xã hội
đó, ưu thế về nghề nghiệp được coi là một chỉ báo quan trọng của di động xã hội, là
cơ sở để xác định vị thế xã hội của một cá nhân. Một lý do quan trọng của di động
nghề nghiệp là công nghiệp hoá có khuynh hướng khuyến khích dòng nhập cư từ
nông thôn vào thành phố, tạo nên sự biến đổi trong cấu trúc nghề nghiệp, từ đó dẫn
Khác với tiếp cận chức năng, tiếp cận xung đột coi phân tầng là một cấu trúc
gây chia rẽ hơn là liên kết. Họ cho rằng phân tầng là một cơ chế để một số người
bóc lột những người khác, chứ không phải là phương tiện thúc đẩy những mục tiêu
tập thể. Họ cho rằng, trong một xã hội, các cá nhân và nhóm luôn tìm cách lợi dụng
vị trí của mình nhằm trục lợi, do đó trong xã hội, sự phân tầng diễn ra gay gắt hơn
rất nhiều so với cách quan niệm của các nhà chức năng luận. Nói cách khác, hệ
thống phân tầng của bất kỳ xã hội nào đều là kết quả của xung đột và nhượng bộ
giữa các nhóm cạnh tranh.
Theo Marx, sự phát triển của phân công lao động và sở hữu sẽ hình thành các
giai cấp khác nhau bên trong một xã hội: sự bất bình đẳng của các giai cấp này dựa
trên vị thế khác nhau của chúng trong quá trình sản xuất của xã hội, nhưng trước hết
là trên sự chiếm hữu hay không chiếm hữu các tư liệu sản xuất như nguyên liệu,
máy móc hay đất đai. Những đối kháng về mặt quyền lợi này sẽ thể hiện thành các
cuộc đấu tranh giai cấp. Khi bộ phận phụ thuộc càng nhận thức được những lợi ích
tập thể của họ và nghi ngờ tính hợp pháp trong việc phân phối nguồn lực thì họ
càng dễ tham gia vào những xung đột công khai chống lại bộ phận thống trị.
Tuy nhiên, lịch sử của chủ nghĩa tư bản hiện đại cho thấy cấu trúc tầng lớp
không phát triển trong một hình thức trật tự và chính xác như vậy. Giai cấp tư sản
kiểm soát mọi khía cạnh trong hệ thống sản xuất, còn giai cấp công nhân thì không
kiểm soát khía cạnh nào. Tuy nhiên, giữa hai giai cấp này, có những nhóm mà vị trí
của họ không rõ ràng - là những người quản lý và công nhân cổ trắng. Wright cho
rằng những người này ở vị trí giai cấp mang tính mâu thuẫn vì họ có khả năng ảnh
hưởng đến một số khía cạnh của sản xuất, nhưng không có quyền kiểm soát các
khía cạnh khác. Có những chứng cứ chắc chắn cho thấy rằng, rõ ràng quy mô của
tầng lớp trung lưu cũ - chủ cửa hiệu và thợ thủ công, đã giảm (Gagliani 1981; cf.
Stein-metz and Wright 1989), và một tầng lớp "trung lưu mới" những nhà quản lý,
chuyên gia và những người lao động trí óc đã phát triển để chiếm giữ những không
gian còn bỏ trống. Và đây cũng chính là tâm điểm lý luận của trường phái Tân
7
quan trọng của quyền lực, nó có thể ảnh hưởng tới sự phân tầng. Sự phân chia giai
cấp, theo Weber, không chỉ bắt nguồn từ sự kiểm soát hay không kiểm soát các tư
liệu sản xuất, mà còn từ những khác biệt kinh tế không liên quan trực tiếp đến tài
sản. Những nguồn lực đó bao gồm kỹ năng, bằng cấp, và chúng tác động mạnh đến
loại công việc mà người ta có thể kiếm được dựa trên những khác biệt kinh tế đó.
Chính những ý tưởng mà Marx và Weber phát triển trở thành cơ sở cho hầu
hết những phân tích xã hội học về giai cấp và phân tầng xã hội. Những hệ quả của
8
phân tầng xã hội dẫn đến việc hình thành những giai cấp/tầng lớp mới, trong đó
người ta ghi nhận sự phát triển mạnh của tầng lớp trung lưu.
Các nhà kinh tế học đã tổng hợp lại 6 đặc trưng của tầng lớp trung lưu: (1)
Nền tảng giáo dục của họ thường rất tốt (2) Họ có cơ sở kinh tế cơ bản và tri thức
lập nghiệp (3) Họ tương đối giàu có, chấp nhận phát triển kinh tế, có khả năng lôi
kéo, thường thì có thể đem đến cơ hội việc làm cho tầng lớp nghèo (5) Họ rất dễ trở
thành một lớp chuyên gia và tầng lớp có trình độ chuyên nghiệp (6) Họ có một phần
tài sản cố định. Những người ưu tú có trí tuệ, thu nhập cao, biết nhìn về tương lai,
làm ra của cải, phần lớn làm trong các ngành thương nghiệp, tiền tệ, chứng khoán,
công nghệ thông tin và nghệ thuật, v.v... trong số đó có các học giả, chuyên gia, luật
sư, bác sỹ, giám đốc doanh nghiệp, v.v...
3. Sự xuất hiện giai cấp trung lưu mới ở một số quốc gia trong quá trình hiện đại
hoá
Ở các nước tư bản phát triển, thông thường người ta phân biệt hai loại giai
cấp trung lưu: giai cấp trung lưu cũ và giai cấp trung lưu mới. Giai cấp trung lưu cũ
chủ yếu chỉ những nhà thầu khoán và chủ nông trại, còn giai cấp trung lưu mới là
những ông chủ và các chuyên gia, chẳng hạn như nhóm quản lý và chuyên gia.
Đối với nhiều thế hệ, hệ thống giai cấp Mỹ được ủng hộ bằng niềm tin cho
rằng giai cấp trung lưu đang tăng dần. Sự tăng trưởng nhanh chóng của các nghề lao
động trí óc sau Thế chiến II- lôi kéo hàng triệu người Mỹ ra khỏi các công việc lao
giả chỉ ra những đặc trưng khá lý thú về họ như sau. Thứ nhất, họ lớn lên và trưởng
thành trong môi trường chính trị những năm 1980, họ duy trì và chia sẻ một bản sắc
tập thể như là một lực lượng xã hội định hướng cải cách. Thứ hai, họ hiểu bản than
họ như là một bộ phận của “nhân dân” hoặc của “cơ sở” hơn là một bộ phận của
giới có quyền lực và ảnh hưởng. Thứ ba, họ có xu hướng nhịn nhận lịch sử và xã
hội với sự chú ý đặc biệt đến các quyền và phúc lợi của con người nói chung hơn là
chỉ nhằm vào lợi ích của một nhóm nhỏ của giới thượng lưu quyền lực. Thứ tư,
bằng nhãn quan xã hội rộng lớn của mình, họ có thể hiểu rõ hơn tình trạng của các
nhóm xã hội thiểu số như phụ nữ, lao động nước ngoài, người tàn tật, người nghèo,
tù nhân, người đồng tính, những người ly khai từ miền bắc và những người xã hội
chủ nghĩa. Họ cố gắng thu hút chứ không loại trừ những nhóm thiểu số này. Thứ
năm, họ có thể duy trì tinh thần chủ quyền quốc gia của họ, khác với sự chấp nhận
một thái độ phục tùng vào nhà nước quyền lực. Thứ sáu, họ ủng hộ và tôn trọng
những người lãnh đạo thà giữ vững nguyên tắc hơn là thỏa hiệp với những nhượng
bộ phi lý và không thể chấp nhận được. Thứ bảy, họ ưa chuộng những cải cách cấu
trúc tương ứng với những tiêu chuẩn toàn cầu hơn là theo đuổi chủ nghĩa địa
phương và thiên kiến dân tộc. Nói tóm lại, nhóm “middling grassroots” này là
những người tích cực nhất trong việc dẫn dắt và hỗ trợ các phong trào dân chủ và
cải cách xã hội ở Hàn Quốc.
Tại Trung Quốc, tác giả Lục Học Nghệ (2002) cho rằng xã hội Trung Quốc
đương đại có 10 giai tầng xã hội được phân tầng theo ba tiêu chí cơ bản là: nguồn
lực tổ chức (chính trị), nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hoá. Sự phân hoá thành
người giàu-người nghèo, tầng lớp có lợi thế-tầng lớp yếu thế, đều căn cứ ở việc họ
không có, hoặc có một, hai hay cả ba nguồn lực này với các mức độ khác nhau.
Nghiên cứu của tác giả này là một gợi ý rất quan trọng để các nhà nghiên cứu tiếp
10
tục thực hiện các phân tích của mình trên các lĩnh vực phân tầng xã hội và biến đổi
cơ cấu xã hội ở các nước đang phát triển.
bình ổn. Nó còn là một người tiên phong về đạo đức và là một lực lượng then chốt
cho sự phát triển của một xã hội dân sự. Giai cấp này định hình các chuẩn mực đạo
đức của xã hội (theo nghĩa là hệ tư tưởng của nó) bởi giai cấp này chiếm ưu thế
trong hệ thống tư pháp, trong các tổ chức tôn giáo cũng như trong tổ chức chính trị.
11
Nó còn đảm nhận những chức năng đặc thù như: đảm bảo năng suất lao động cao,
sáng tạo và sắp xếp tri thức và thông tin; định hình cơ cấu tiêu dùng. Và cuối cùng
nhưng không kém phần quan trọng là giai cấp trung lưu với tư cách là một chỉnh thể
được xem là lực lượng khuếch trương tự do chính trị, dân chủ.
4. Sự xuất hiện của tầng lớp doanh nhân và vai trò của họ trong các xã hội
chuyển đổi.
Kh¸i niÖm doanh nh©n
Khái niệm về tầng lớp doanh nhân/giới nghiệp chủ đã được nhà kinh tế
Joseph Schumpeter phát triển. Đó là những người có khả năng lĩnh hội những phát
minh kỹ thuật và những phương pháp quản lý mới, cũng như ứng dụng chúng vào xí
nghiệp hoặc công việc kinh doanh của mình. Họ là những người có khả năng dự
kiến được lợi ích tiềm tàng do những đổi mới đem lại, đề xướng được nội dung đổi
mới và sẵn sàng thực hiện những việc mạo hiểm, mà sự nỗ lực có thể thất bại và dẫn
tới thua thiệt. Họ không nhất thiết phải là người quản lý của các công ty, tiến hành
đổi mới hoặc là người cung cấp vốn đầu tư (cho công ty đó). Họ là người cải cách,
quản lý doanh nghiệp của mình; hoặc là người bỏ vốn ra, có thể thuê người quản lý
hoặc vay vốn từ ngân hàng. Schumpeter cũng đặt câu hỏi về sự cần thiết của tầng
lớp doanh nhân trong các nền kinh tế công nghiệp phát triển cao độ, bởi trong các
nền kinh tế đó, việc đổi mới có khuynh hướng trở thành thông lệ. Mà đổi mới hiện
nay không chỉ là đặc quyền của các nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển, đổi
mới đã phát huy giá trị của nó ở tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước
đang phát triển. Nhiệm vụ của các nước đang phát triển là phải tìm kiếm vốn và
những tài năng quản lý để đầu tư và khai thác nhà máy mới. Và như vậy giới doanh
theo Schumpeter là kẻ không chấp nhận sự sẵn có, không chấp nhận lối mòn, mà
ngược lại, luôn tìm kiếm ý tưởng mới, lề lối mới. Chính nhờ lối tư duy và hành
động “khác người” đó của doanh nhân mà họ chính là động lực của nền kinh tế, tạo
ra những bước đột phá trong nền kinh tế của một xã hội.
Giống như tình hình Trung Quốc, các tầng lớp xã hội mới ở Việt Nam đều là
sản phẩm của chính sách mở cửa, đặc biệt là tầng lớp chủ doanh nghiệp. Việc xây
dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại khiến cho một số công nhân viên chuyển sang
các ngành nghề khác; cải cách kết cấu chế độ sở hữu tạo điều kiện cho sự phát triển
của kinh tế tư nhân; và cải cách khoa học công nghệ, cải cách giáo dục đã làm cho
lượng lớn nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp lựa chọn nghề mới. Có thể nói sự ra
đời của các tầng lớp xã hội mới đã hình thành từng bước, lấy chính sách Đổi mới,
mở cửa làm thời cơ, lấy chính sách của Đảng làm hướng dẫn, lấy cơ chế thị trường
làm động lực, lấy dòng lưu động hợp lý làm biện pháp.
Có một số lý thuyết cố gắn giải thích về vai trò của tầng lớp doanh nhân trong
xã hội.
Khi coi doanh nhân đóng vai trò chủ yếu trong quá trình phát triển của tư bản
(Marx) và phát triển kinh tế (Schumpeter), lý thuyết kinh tế tân cổ điển đã phân tích
vai trò của tầng lớp này dựa trên các phân tích vi mô - lý thuyết về doanh nghiệp.
Nhà kinh tế học Harvey Leibenstein lại có một lối giải thích khác về vai trò của
doanh nhân. Ông chia doanh nhân thành hai loại. Một là loại quản lý thông thường,
loại kia là loại sáng tạo hiểu theo nghĩa của Schumpeter. Theo ông, doanh nhân là
người “lấp các khiếm khuyết”, hay kẽ hở của thị trường. Doanh nhân phải dùng óc
sáng tạo và trí tưởng tượng để bù vào các kẽ hở đó. Trong mọi nền kinh tế, đặc biệt
13
là nền kinh tế chậm phát triển, doanh nhân thường thiếu các thông tin cần thiết để
tính toán sắp đặt công việc làm ăn. Nhưng đây không phải là vai trò độc nhất của
doanh nhân. Họ còn là người “lấp đầy các yếu tố sản xuất” (input-completing),
trong trường hợp thị trường thiếu các yếu tố sản xuất cần thiết hoặc tình trạng cung