1
MỞ ĐẦU
Sự ra đời của tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” vào tháng 2
năm 1848 đã đánh dấu sự ra đời của của nghĩa xã hội khoa học – hệ thống lý
luận khoa học soi đường chỉ lối cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh
lịch sử của mình là lật đổ chế độ tư bản, giải phóng giai cấp, giải phóng dân
tộc và giải phóng nhân loại. Sự hình thành và phát triển các nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa xã hội khoa học không phải ngay từ đầu đã hoàn thiện, mà đó
là một quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Nó gắn chặt với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cùng với những
hoạt động không mệt mỏi của Mác, Ăngghen và Lênin.
Trong toàn bộ hệ thống lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học đã đề cập một
cách đầy đủ, toàn diện đến các vấn đề của cách mạng xã hội chủ nghĩa như:
giai cấp lãnh đạo, lực lượng tiến hành, hình thức, biện pháp đấu tranh…để
thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Một trong những
vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của cách mạng xã
hội chủ nghĩa đó là vấn đề liên minh giai cấp.
Lý luận về liên minh giai cấp là một nội dung quan trọng trong hệ thống
lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học. Nó cho phép chúng ta nhận thức sâu sắc về
tính tất yếu khách quan, nội dung liên minh giai cấp, cùng các hình thức
phong phú đa dạng và những phương hướng giải quyết vấn đề liên minh giai
cấp trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Sự hình thành và phát triển lý luận về liên minh giai cấp trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình gắn liền với thực tiễn phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, gắn với những đặc điểm của thời đại, với những
đặc thù của các dân tộc và là sự phát triển tất yếu của tư tưởng nhân loại.
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển lý luận về liên minh giai
cấp là cơ sở để chúng ta khẳng định tính đúng đắn khoa học của lý luận chủ
nghĩa xã hội khoa học, khẳng định tính đúng đắn về chủ trương, chính sách
nửa cuối thế kỷ XIX và là nhu cầu cấp thiết của phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế. Do vậy, trong mỗi thời kỳ lịch sử, gắn với mỗi sự kiện trọng đại
của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Mác - Ăngghen đã tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn và khái quát thành lý luận để tiếp tục chỉ đạo hoạt động
của phong trào.
Sự hình thành và phát triển tư tưởng của Mác - Ăngghen về liên minh
giai cấp được thể hiện trong nhiều tác phẩm của các ông, kể cả những tác
phẩm viết chung và riêng, trong đó tiêu biểu là những tác phẩm: “Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản” (1848); “Ngày mười tám tháng sương mù của
Luipônapáctơ”(1852); “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” (1850); “Nội chiến ở
Pháp” (1871); “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức”(1894).
4
Trong mỗi tác phẩm, Mác – Ăngghen đều đề cập đến vấn đề liên minh
giai cấp ở những góc độ khác nhau, nội dung khác nhau và gắn với nhu cầu
của phong trào công nhân ở những giai đoạn khác nhau. Nó hợp thành một
tổng thể thống nhất về tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng phục vụ cho
cách mạng vô sản.
Ngay trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, mặc dù chưa
sử dụng đến thuật ngữ “liên minh giai cấp”, song những tư tưởng mầm mống
về liên minh giai cấp cơ bản đã được hình thành. Khi luận giải về sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân, Mác - Ăngghen cho rằng: giai cấp công nhân
muốn thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình thì phải liên kết với các
lực lượng khác có chung kẻ thù để chống lại kẻ thù của mình. Cụ thể, trong
tác phẩm này Mác - Ăngghen đã chỉ rõ nhiệm vụ của giai cấp công nhân ở
mỗi nước Châu Âu phải liên hiệp với các lực lượng tiến bộ khác để chống giai
cấp tư sản trước hết ở nước mình như: ở Pháp, công nhân phải liên hiệp với
các lực lượng dân chủ xã hội; ở Thụy Sỹ, công nhân phải ủng hộ phái cấp
tiến; ở Ba Lan, công nhân phải ủng hộ nhóm đã làm cuộc khởi nghĩa của
bước nào, và cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của giai cấp tư sản
trước khi đông đảo nhân dân đứng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản,
tức là nông dân và tiểu tư sản nổi dậy chống chế độ tư sản” [1; 30]
Cùng với việc chỉ ra vai trò của khối liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác trong cách mạng vô sản,
Mác - Ăngghen còn phân tích làm rõ tính tất yếu khách quan của sự liên minh
đó. Trong các tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “Ngày 18 tháng sương
mù của Luibônapactơ” , “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức”, Mác - Ăngghen
đã khẳng định: liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
các tầng lớp lao động khác là một tất yếu khách quan, nó xuất phát từ nhu cầu
tập hợp lực lượng trong xã hội để chống lại sự liên kết bóc lột của giai cấp tư
sản, từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và từ nhu cầu giải phóng của
6
chính nông dân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội. Thực tế lịch sử đã
chứng minh: bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào trong lịch sử, giai cấp
lãnh đạo muốn lật đổ được sự thống trị của giai cấp cũ đã lỗi thời, lạc hậu,
phản động đều phải tập hợp được lực lượng xung quanh mình. Ngay bản thân
giai cấp tư sản, khi tiến hành cách mạng lật đổ chế độ chuyên chế phong kiến,
giai cấp tư sản cũng phải tập hợp được nông dân, thợ thủ công…để tạo thành
lực lượng áp đảo sự chống đối của quý tộc phong kiến.
Trong xã hội tư bản, Mác đã phân tích bản chất hiếu chiến, bóc lột của
giai cấp tư sản, thực chất các chính phủ tư sản ở Châu Âu (nhất là ở Pháp và
Đức) để chỉ ra rằng: bản thân giai cấp tư sản cũng đã liên kết với nhau để bóc
lột lao động trong xã hội, để chống lại nó một mình giai cấp công nhân thôi
thì không đủ lực lượng. Do vậy, giai cấp công nhân trong quá trình đấu tranh
chống lại giai cấp tư sản phải chủ động liên minh với các giai tầng khác để
chống lại kẻ thù chung. Hơn nữa, trong xã hội tư bản, giai cấp nông dân và
các tầng lớp lao động khác cũng bị áp bức bóc lột hết sức nặng nề nên giai
tất yếu khách quan. Mác khẳng định: Chỉ có sự sụp đổ của tư bản mới có thể
nâng được nông dân lên, chỉ có một chính phủ chống chủ nghĩa tư bản, một
chính phủ vô sản mới có thể giải thoát nông dân khỏi tình trạng khốn cùng về
kinh tế và thoái hoá về mặt xã hội.
Như vậy, ngay sau khi ra đời, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học đã
phác họa được những vấn đề cơ bản về lý luận liên minh giai cấp giữa giai
cấp vô sản với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác; đã chỉ ra vai
trò to lớn cũng như tính tất yếu cả về kinh tế và chính trị của quá trình liên
minh đó. Tuy nhiên, do điều kiện chuyên chính vô sản chưa hiện hữu trên
thực tế, nên những tư tưởng của Mác - Ăngghen về liên minh giai cấp mới chỉ
dừng lại ở góc độ tập hợp lực lượng để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư
sản. Và lý luận về liên minh giai cấp cùng với các nguyên lý khác của chủ
nghĩa xã hội khoa học đã từng bước thâm nhập vào phong trào công nhân,
8
thức tỉnh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế, tạo ra bước phát
triển mới trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Đến những năm 70 của thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh của công
nhân đã phát triển mạnh mẽ và họ đã đạt được những chiến tích mà trước đây
họ chưa thực hiện được. Lợi dụng mâu thuẫn trong chính phủ tư sản, đứng
trước vận mệnh sống còn của dân tộc, công nhân Pari (Pháp) cùng với nhân
dân vũ trang đã đứng lên lật đổ chính phủ tư sản phản động lập nên Công xã
Pari - một hình thức chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới. Mặc dù chỉ
tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi 72 ngày (18.03 đến 28.05.1871) song
Công xã Pari đã đi vào lịch sử như là một mốc son chói lọi trong trang sử hào
hùng của giai cấp công nhân Pháp nói riêng và giai cấp công nhân thế giới nói
chung. Thắng lợi của Công xã Pari chứng tỏ giai cấp công nhân Pháp đã giải
quyết thành công vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc. Nghĩa là, cùng một lúc
vừa đánh đuổi bọn xâm lược Phổ, vừa đập tan bộ máy cai trị của giai cấp tư
quyền, bảo vệ những thành quả của cách mạng vô sản. Tư tưởng này đã được
được rút ra từ thực tiễn Công xã Pari. Trong khi giành chính quyền và xây
dựng xã hội mới, công nhân Pari đã mải mê, say sưa với chiến thắng mà quên
đi nhiệm vụ xây dựng khối liên minh công nông vững chắc, khi bọn Chie từ
Vécxây quay lại đàn áp Công xã thì công nhân Pari hầu như “chỉ có một
mình” chống chọi lại với lực lượng quân đội hùng mạnh của chính phủ tư sản.
Khi họ vừa nhận ra sự đơn độc của mình và vội vàng ra lời hiệu triệu nông
dân và công nhân ở các thành phố khác bảo vệ Công xã thì sự thể đã rồi.
Trên một số việc làm (mặc dù đã là quá muộn) đã tỏ rõ ra là nắm được
tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông thôn và dựa vào Cương lĩnh của
mình trên những vấn đề đó, như Mác đã nói: “Công xã có đầy đủ lý do để nói
với nông dân rằng, thắng lợi của Công xã là hy vọng duy nhất của các anh”
[2; 457]. Tuy nhiên, Công xã đã không làm được điều đó, càng không thể làm
được khi quân Phổ và bọn phản động ở Véc xây đã kéo về xiết chặt vòng vây
đối với Công xã.
10
Cũng trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, Mác - Ăngghen đã chỉ ra
rằng: việc xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và các tầng lớp lao động khác là một tất yếu khách quan, nhưng phải
được đặt dưới sự lãnh đạo của các chính đảng vô sản. Đó là điều kiện tiên
quyết nhất để giải phóng không chỉ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân mà
còn là mục tiêu giải phóng toàn xã hội, giải phóng con người. Để xây dựng
được khối liên minh vững chắc thì chính quyền vô sản phải có chính sách ưu
đãi cụ thể với nông dân, dần đưa họ từ sản xuất nhỏ, manh mún lên sản xuất
lớn; các chính sách với nông dân phải được tiến hành từng bước, linh hoạt,
mềm dẻo phải trên cơ sở giáo dục, tuyên truyền thuyết phục là chủ yếu, phải
để người nông dân “tự suy nghĩ trên luống cày của họ”.
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức”, Ăngghen chỉ ra
dõn vo lm n trong hp tỏc xó, ng nhiờn rung t l t liu sn xut
ch yu ca h cng phi chuyn thnh ti sn ca hp tỏc xó. õy l mt quỏ
trỡnh phc tp, tuyt i khụng c dựng cng bc m phi bng giỏo dc,
bng nờu gng v s giỳp ca xó hi nhng ngi nụng dõn t giỏc
vo hp tỏc xó.
Trong tỏc phm ny, ngghen cng ch rừ mc ớch ca vic lụi cun,
ci to nụng dõn l em li li ớch cho h, ci to h thnh nhng ngi
lao ng mi. ng nhiờn, i vi cỏc tng lp nụng dõn khỏc nhau, cỏch
lm cng phi khỏc nhau cho phự hp vi i tng y.
Do quan nim rng trớ thc khụng phi l mt giai cp nờn Mỏc ngghen khụng s dng thut ng liờn minh gia cụng nhõn vi nụng dõn
v trớ thc, m ch s dng cỏc thut ng liờn minh gia giai cp cụng
nhõn vi giai cp nụng dõn v cỏc tng lp lao ng khỏc. Tuy nhiờn, chỳng
ta nờn hiu rng trong cỏc tng lp lao ng khỏc ó bao hm c trớ thc
cỏch mng. Trờn thc t, Mỏc - ngghen rt coi trng trớ thc, cho õy l lc
lng i din cho trớ tu ca thi i, i din cho s phỏt trin ca vn minh
12
và là lực lượng rất nhạy cảm về chính trị. Mác - Ăngghen cho rằng: trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, giai cấp vô sản phải biết tranh thủ lôi kéo trí thức
về phía mình, ít nhất cũng không được đẩy họ về phía kẻ thù; các ông còn cho
rằng nếu không có trí thức thì cách mạng vô sản khó có thể thành công được.
Tóm lại, những tư tưởng của Mác - Ăngghen về liên minh giai cấp đã
được đề cập đến rất sớm và khá sâu sắc, đặc biệt là tư tưởng về liên minh giai
cấp trong đấu tranh giành chính quyền. Các ông đã đề cập đến tính tất yếu của
liên minh giai cấp trong cách mạng vô sản, vai trò của liên minh giai cấp, nội
dung của liên minh giai cấp, cơ sở của liên minh giai cấp, mục tiêu của liên
minh giai cấp...Những tư tưởng này là cơ sở, tiền đề cho các nhà mác xít chân
chính sau này kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.
1.2. Lênin và các Đảng Cộng sản bảo vệ, phát triển lý luận chủ nghĩa
nông dân” (1905), “Sơ thảo đề cương về vấn đề ruộng đất”, “Nhà nước và
cách mạng” (1917), “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky” (1918),
“Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Chính sách kinh tế
mới” (1921), “Sáng kiến vĩ đại” (1920)...
Trong những tác phẩm trên, Lênin không chỉ phê phán, đấu tranh không
khoan nhượng với những tư tưởng cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế mà còn trung thành bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác, trong đó có lý luận về liên minh giai cấp như: tính tất yếu của liên minh
giai cấp trong cách mạng vô sản; phát triển lý luận của Mác - Ăngghen về liên
minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; làm rõ những nội
dung, mục tiêu của liên minh cũng như việc đề ra một số giải pháp để củng cố
khối liên minh giữa công nhân với nông dân và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Trước đây Mác - Ăngghen mới chỉ nêu lên tính tất yếu khách quan và
những cơ sở tất yếu của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân trong cách mạng nói chung. Trong giai đoạn cách mạng mới, khi
14
vấn đề cách mạng vô sản đã chín muồi, Lênin đã làm rõ hơn từng giai đoạn của
quá trình liên minh (cả trước và sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền).
Phát triển tư tưởng của Mác - Ăngghen, Lênin cho rằng: Trước khi giai
cấp vô sản giành được chính quyền thì cả giai cấp vô sản và giai cấp nông dân
đều bị giai cấp tư sản áp bức bóc lột đến cùng cực; muốn thoát khỏi tình cảnh
ấy buộc họ phải liên minh lại với nhau để chống lại kẻ thù chung. Sau khi đã
giành được chính quyền, thiết lập được chuyên chính vô sản thì vấn đề liên
minh với giai cấp nông dân là “vấn đề có tính nguyên tắc” trong mọi hoạt
động của giai cấp vô sản, để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, thực hiện
thành công sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Do vậy, liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân là “nguyên tắc tối cao
đến khá rõ đến tư tưởng về liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và trí thức; một sự phát triển khá đặc sắc của Lênin so với quan
điểm của Mác - Ăngghen. Sự phát triển đó là đòi hỏi khách quan của thời đại
mới đặt ra. Trong thực tiễn cách mạng Nga những năm 20 của thế kỷ XX,
Lênin còn mạnh dạn sử dụng cả những chuyên gia tư sản vào quá trình phát
triển kinh tế, Lênin “sẵn sàng đổi một tá những người cộng sản mà dương
dương tự đắc lấy một chuyên giai tư sản”, sẵn sàng trả lương rất cao cho các
chuyên gia tư sản để tận dụng họ vào trong quá trình phát triển đất nước.
Một cống hiến rất lớn của Lênin vào lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học
về liên minh giai cấp, đó là đã làm rõ nội dung của quá trình liên minh. Theo
Lênin, quá trình liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân phải
tòan diện trên cả ba nội dung cơ bản: kinh tế, chính trị và quân sự.
Liên minh trong lĩnh vực kinh tế là quá trình hợp tác giữa công nhân
với nông dân và các đại biểu khoa học, giới kỹ thuật để phát triển sản xuất,
mang lại lợi ích cho cả công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác
trong xã hội. Theo Lênin, đây vừa là vấn đề trọng tâm đảm bảo cho khối liên
minh vững bền, vừa là con đường để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình đó, khối liên minh một mặt xây dựng những cơ sở kinh tế đặc
16
trưng của chủ nghĩa xã hội mang lại lợi ích cho nhân dân lao động, mặt khác
phải dần dần xoá bỏ từng bước giai cấp tư sản và địa chủ - mầm mống gây ra
áp bức bất công trong xã hội.
Liên minh trong lĩnh vực chính trị là sự liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động xã hội khác đấu tranh
thiết lập cho được chuyên chính vô sản, sau đó sử dụng chính quyền chuyên
chính vô sản thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình
liên minh, giai cấp công nhân phải luôn giữ vai trò lãnh đạo thông qua chính
đảng của mình. Lênin khẳng định: do vai trò kinh tế của nó trong sản xuất
cỏch mng xó hi ch ngha thỏng Mi Nga khụng phi ch giai cp cụng
nhõn chim s ụng m l ch giai cp cụng nhõn ó lụi kộo c, thc
hin c vai trũ lónh o i vi ụng o qun chỳng nhõn dõn, ch c
s ng h ca ụng o nụng dõn nghốo v b phỏ sn. [6; 219]
K tha nhng t tng ca ch ngha Mỏc - Lờnin v vn liờn minh
giai cp trong cỏch mng vụ sn. Trong quỏ trỡnh xõy dng ch ngha xó hi
hin thc, cỏc ng cng sn ó vn dng sỏng to lý lun v liờn minh giai
cp vo trong nhng iu kin lch s c th v ó sỏng to ra nhiu hỡnh thc
liờn minh giai cp mi nh: cỏc hi liờn hip cụng nụng, cỏc t chc chớnh
quyn nhõn dõn v mt trn t quc...Nhiều Đảng Cộng sản còn có những
phát triển khối liên minh công nông thành khối liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức (Việt Nam); có Đảng Cộng sản
lại khẳng định rằng, trí thức nằm trong thành phần giai cấp công nhân, nên chỉ
cần sử dụng thuật ngữ liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
là đầy đủ (Trung Quốc); rất nhiều Đảng Cộng sản luôn coi vấn đề liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân là một nguyên tắc bất di bất
dịch trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội...
Túm li, cú th bng nhng thut ng khỏc nhau, cỏc hỡnh thc liờn
minh khỏc nhau, song thc cht cỏc khi liờn minh ú u l s liờn minh
gia giai cp cụng nhõn vi giai cp nụng dõn v cỏc tng lp lao ng khỏc
nhm tp hp lc lng tin hnh thnh cụng s nghip xõy dng ch ngha
18
xã hội, chủ nghĩa cộng sản vì mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội và giải phóng con người.
Quá trình phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học về liên minh giai
cấp là một tất yếu lịch sử, nó xuất phát từ thực tiễn phát triển của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế và thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực
tiễn đã chứng minh: ở đâu, lúc nào xây dựng được khối liên minh vững chắc
nửa phong kiến với hơn 90% dân số là nông dân, ngay từ rất sớm, chủ tịch Hồ
Chí Minh đã xác định “công nông là chủ cách mệnh…công nông là cái gốc
Cách mệnh.” [7; 266]
Trước yêu cầu bức xúc phải giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc và
nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các
lực lượng của dân tộc bao gồm các giai cấp, các tầng lớp nhằm chống đế
quốc, song Người luôn luôn quán triệt quan điểm “công nông là cái gốc cách
mệnh”, luôn đặt lợi ích dân tộc gắn liền với lợi ích của công nông: “Trong khi
liên lực với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút
lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp.” [8; 3]
Nhờ vận dụng lý luận về liên minh công nông và các tầng lớp lao động
khác của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công lao to lớn
trong tổ chức lực lượng cơ bản, tạo thành động lực của cách mạng, giành
thắng lợi rực rỡ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, vấn đề tổ chức chính quyền,
giữ gìn và xây dựng chính quyền nhà nước là vấn đề cốt tử. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã vận dụng quan điểm của Lênin về “nguyên tắc cao nhất của chuyên
chính vô sản” vào điều kiện Việt Nam, khi Người khẳng định: “Nhà nước ta
là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai
cấp công nhân lãnh đạo.” [9; 586]
Công cuộc gìn giữ chính quyền, gìn giữ và bảo vệ thành quả của cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được thể hiện qua công cuộc kháng
chiến trường kỳ, gian khổ. Trong cuộc kháng chiến kiến quốc này, Chủ tịch
20
Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vai trò của nông dân, với tư cách là người bạn
đồng minh trung thành của giai cấp công nhân. Người khẳng định: Nước ta là
một nước nông nghiệp. Hơn chín mươi phần trăm nông dân ta là trung, bần,
cố nông…Nói tóm lại, nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một
xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập. Họ cũng không có khả nǎng xây
dựng một chế độ xã hội mới. Dưới thời đế quốc Pháp thống trị, các nhà yêu
nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái
Học, v.v., đã kêu gọi nhân dân, trong đó có nông dân, đấu tranh chống đế
quốc Pháp để giữ nước nhưng chưa có ai đề ra đường lối cách mạng dân chủ
triệt để, khả dĩ tập hợp nông dân chống địa chủ phong kiến, giành lại ruộng
đất, để cứu nước và cứu lấy mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người Cộng sản Việt Nam thấu hiểu
điều mong muốn thiết tha nhất của nông dân. Từ khi thành lập, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã chủ trương "lãnh đạo dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng
đánh trúng bọn đại địa chủ và phong kiến". Đường lối cách mạng dân tộc dân
chủ đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho phong trào nông
dân từng bước xích lại gần với phong trào công nhân. Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng còn chỉ rõ mục tiêu, nội dung và đối tượng của liên
minh trong từng thời kỳ nhằm từng bước thực hiện mục tiêu chủ yếu trước
mắt là giải phóng dân tộc. Nhờ kết hợp thực hiện đúng đắn hai khẩu hiệu
chiến lược "độc lập dân tộc" và "người cày có ruộng" với việc giải quyết yêu
cầu cụ thể của từng cuộc đấu tranh trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng đã
lãnh đạo nông dân đi theo giai cấp công nhân đấu tranh, từng bước giành lại
những quyền lợi thiết thân cho dân tộc và giai cấp; đồng thời Đảng giáo dục
để loại bỏ dần những hành động tiêu cực trong phong trào nông dân như cục
bộ, địa phương, hẹp hòi, mê tín dị đoan, v.v..
Đảng coi trọng khả nǎng cách mạng của tầng lớp trí thức. Đế quốc Pháp
thống trị nước ta vừa làm phân hoá, mai một tầng lớp trí thức phong kiến,
đồng thời tạo ra tầng lớp trí thức mới - trí thức tư sản. Nhưng một mặt do chế
22
độ chuyên chế về chính trị, độc quyền về kinh tế, nên tầng lớp này không có
cơ sở kinh tế - chính trị để phát triển. Mặt khác, do truyền thống yêu nước của
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời. Các giai cấp công nhân, nông dân và trí thức cách mạng trở thành người
làm chủ đất nước và tham gia xây dựng chính quyền. Đảng hết sức quan tâm
giải quyết quyền lợi của nông dân và nhân dân lao động khi có điều kiện. Sau
Cách mạng Tháng Tám, cǎn cứ vào chủ trương của Chính phủ lâm thời, ngày
20-11-1945, ủy ban nhân dân Bắc Bộ đã ra thông tư giảm tô 25%. Ngày 14-71949, Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô và từng bước thực hiện cải cách ruộng
đất, Đảng đã chia cho nông dân 177.000 ha ruộng đất, trong đó có 18.400 ha
ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp, 39.600 ha ruộng đất của đại địa chủ và
119.000 ha ruộng đất công.
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết
liệt, tháng 10-1953, Đảng phát động phong trào quần chúng đòi triệt để giảm
tô và thực hiện cải cách ruộng đất. Tuy có phạm một số sai lầm, nhưng Đảng
đã lãnh đạo nông dân các tỉnh miền Bắc giành thêm 456.000 ha ruộng đất từ
tay địa chủ. Chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, phong kiến ở các tỉnh
miền Bắc bị xoá bỏ. Quyền sở hữu ruộng đất của nông dân lao động được
Nhà nước thừa nhận. Cũng trong thời gian này, từ tỉnh Quảng Trị đến các tỉnh
ở Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương, nông dân đã được
chia cấp hơn 750.000 ha ruộng đất. ở nhiều nơi địa tô phong kiến đã giảm, có
nơi chỉ còn 15%. Thành quả về cách mạng ruộng đất có ý nghĩa hết sức to
lớn. Nó làm tǎng thêm nguồn sức mạnh của nhân dân trong quá trình cách
mạng. Thành quả ấy chẳng những động viên cổ vũ giai cấp nông dân mà cả
giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức, bởi lẽ giai cấp công nhân và phần lớn
trí thức đều xuất thân từ giai cấp nông dân và nhân dân lao động, chẳng
những họ có kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến đại địa chủ, đại tư sản
làm tay sai, mà còn có quan hệ gia đình, xã hội hết sức gần gũi với nông dân.
24
Phần đất người nông dân được chia không chỉ là lợi ích riêng của họ mà
người công nhân, người trí thức ít nhiều đều có lợi ích chung. Vì vậy, vấn đề
nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp của cách mạng. Trong mối quan hệ giữa
hai địa bàn chiến lược này, Đảng coi trọng cả hai địa bàn, nhưng đánh giá
thành phố là địa bàn xung yếu, vì nếu phong trào công nhân và nhân dân lao
động (lao động chân tay và trí óc) ở thành phố yếu thì khởi nghĩa quần chúng
không thể trở thành tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi.
Trong khi khẳng định vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân, động lực
cách mạng là các giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, Đảng ta
hết sức quan tâm xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, coi đó là một trong
những nguyên nhân thắng lợi của cách mạng. Đảng ta xác định liên minh
công, nông và trí thức là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất. Tổng kết
công tác mặt trận, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng ta chỉ rõ:
"Mặt trận dân tộc thống nhất lấy liên minh công nông và lao động trí thức làm
nòng cốt và do giai cấp công nhân lãnh đạo". Khối liên minh này được củng
cố vững chắc bao nhiêu thì Mặt trận dân tộc thống nhất càng có điều kiện mở
rộng bấy nhiêu. Có thể nói, không củng cố được liên minh công, nông và trí
thức thì cũng không thể có Mặt trận dân tộc thống nhất.
2.2. Những bước phát triển mới của liên minh công, nông và trí thức
trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tư tưởng về liên
minh công nông được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ từ tầm quan trọng của
nông nghiệp, nông dân trong phát triển cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông
nghiệp như “hai chân của nền kinh tế nước nhà”. Người đã chỉ rõ: Nước ta là
một nước nông nghiệp, muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói
chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không
phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông