TIỂU LUẬN TRIẾT học học THUYẾT NGUYÊN tử của đê mô CRIT và ý NGHĨA của nó đối với CUỘC đấu TRANH GIỮA HAI ĐƯỜNG lối TRIẾT học - Pdf 39

HỌC THUYẾT VỀ NGUYÊN TỬ CỦA ĐÊMÔCRÍT
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH
GIỮA HAI ĐƯỜNG LỐI TRIẾT HỌC
Triết học (Philosophia) theo tiếng Hy Lạp cổ là tình yêu sự thông thái xuất hiện đồng thời ở Hy Lạp, Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại. Sự xuất hiện của
triết học đánh dấu một bước phát triển lớn của tư tưởng nhân loại từ cảm nhận vũ
trụ một cách trực quan đến thế giới quan dựa trên các tri thức mang tính khái
quát hoá, trừu tượng hoá của tư duy.
Ở thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Hy Lạp cổ đại đã phát triển rực rỡ về
kinh tế, chính trị, văn hoá. Tuy vậy trong xã hội Hy Lạp chứa đựng nhiều mâu
thuẫn, mâu thuẫn không chỉ ở giai cấp chủ nô và nô lệ, mà ngay cả ở giữa các
tầng lớp khác nhau của giai cấp chủ nô, giữa những bảo vệ nền dân chủ chủ nô
và những lực lượng chống lại nó. Điều đó cũng được thể hiện trong lĩnh vực tư
tưởng, triết học: giữa những người theo phái duy vật, tiêu biểu là Đêmôrcít và
những người theo lập trường chủ nghĩa duy tâm, tiêu biểu là Platon.
Đêmôcrít (460 - 370 TCN) - nhà triết học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng với học
thuyết nguyên tử cổ điển về cấu tạo vật chất. Sinh ra trong một gia đình quý tộc
giàu có ở Ápđe - một thành phố thuơng mại lớn thuộc vùng Tơraxơ, Đêmôcrít
có được những thuận lợi lớn trong việc du học ở nhiều nước. Thuở nhở, ông học
thần học và thiên văn học dưới sự hướng dẫn của những gia sư người Batư. Sau
đó ông trở thành học trò xuất sắc của Lơxíp - người sáng lập thuyết nguyên tử cổ
điển. Ông còn là học trò của Anaxago - người đã đưa ra một sự giải thích đúng
đắn về hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Ông đã tới Ai cập để có thêm kiến
thức về hình học, tới Batư để nghiên cứu chiêm tinh học, tới Ấn độ để tiếp xúc
với các nhà triết học thuộc trường phái Dygambara và sau đó trở về Aten để
tham gia buổi diễn thuyết của nhà triết học duy tâm Xôcrát - người mà ông
không đồng quan điểm.
Vốn là người không màng đến tiền tài và danh vọng, Đêmôcrít giành toàn
bộ cuộc đời cho việc nghiên cứu khoa học và triết học. Ông đã viết đến 70 tác
phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, đạo đức học, tâm lý học,
toán học, vật lý học, sinh vật học, ngôn ngữ học, mỹ học, kỹ thuật và cả âm
nhạc. Tiếc rằng, trong những công trình đồ sộ ấy của ông, người ta chỉ sưu tầm

chất, không có mùi vị, âm thanh và màu sắc. Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn và
không có một chất lượng nào cả. Các nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, trật
tự và tư thế. Bởi vậy, người ta có thể phân biệt nguyên tử này với nguyên tử khác
bằng "cấu trúc" (hình thức), bằng "tính kế tiếp" (trật tự) và bằng "sự xoay đặt"
(tư thế) của chúng. Các nguyên tử kết hợp với nhau thì tạo thành sự vật và tính
muôn hình muôn vẻ của sự vật được quyết định bằng hình thức cấu tạo, trật tự


3

kết hợp và tư thế của các nguyên tử kết hợp với nhau. Khi các nguyên tử đã kết
hợp lại tách rời nhau ra thì sự vật cũng không còn.
Vũ trụ hay thế giới này, trong quan niệm của Đêmôcrít, là vật chất đang
vận động và về thực chất, đó là sự vận động của các nguyên tử trong chân
không. Sự vận động của các nguyên tử là vĩnh hằng, trong quá trình vận động
trong chân không, chúng kết hợp với nhau - một sự kết hợp không diễn ra một
cách ngẫu nhiên, tuỳ tiện, mà theo tính tất yếu để tạo nên các sự vật khác nhau
và cũng trong quá trình vận động ấy, các nguyên tử đã kết hợp lại có thể tách rời
nhau. Cũng theo một tính tất yếu như vậy để làm cho một sự vật nào đó biến
mất.
Coi nguyên tử là vật chất đang vận động trong chân không, còn chân
không mặc dù không phải là nguyên nhân của vận động, nhưng là điều kiện cần
thiết, không thể thiếu cho sự vận động của nguyên tử, Đêmôcrít - như Đêôgien
Laécxơ, nhà triết học Hy Lạp (nửa đầu thế kỷ thứ III), người duy nhất để lại cho
chúng ta một tác phẩm đồ sộ gồm 10 tập có giá trị như một công trình tập hợp
của thời kỳ cổ đại về lịch sử triết học, trong đó trình bày tiểu sử và học thuyết
của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, từ các nhà duy vật đầu tiên thuộc trường
phái MiLê đến Xếchtút Empiriquýt - "Về cuộc đời, học thuyết và những châm
ngôn của các nhà triết học nổi tiếng.... đã thừa nhận nguyên tử và chân không là
cơ sở ban đầu của hết thảy sự vật".XXX.

đoán tương đối chính xác về sự phụ thuộc ấy khi thừa nhận mức độ nặng, nhẹ
tương đối của nguyên tử là do kích thước lớn, bé của nó quy định. Chẳng hạn,
ông cho rằng, nguyên tử nhẹ nhất là các nguyên tử lửa - các nguyên tử hình cầu,
có kích thước nhỏ bé nhất và nhẵn nhụi nhất, các nguyên tử cấu thành linh hồn
con người và tạo ra không khí.
Không chỉ đưa ra một quan niệm mới về hình thức và kích thước của các
nguyên tử, về sự phụ thuộc của trọng lượng nguyên tử vào kích thước của nó,
Đêmôcrít còn đưa ra một quan niệm độc đáo về sự tồn tại của cái gọi là "nguyên
tử hình học (amerơ)" hay "nguyên tử toán học". Trước Đêmôcrít, nhiều nhà triết
học Hy Lạp cổ đại (các nhà triết học trong liên minh Pitago, các nhà triết học
thuộc trường phái Êlê) đã nghiên cứu toán học. Và cả các nhà triết học cùng thời
với ông, như Anaxago (500 - 428 TCN) và Lépkíppơ (500 - 440 TCN) - người
đồng quan điểm với Đêmôcrít về nguyên tử và cùng với Đêmôcrít xây dựng
thuyết nguyên tử cổ điển, người thừa nhận sự tồn tại của cái gọi là "chân không
tuyệt đối" với tư cách là điều kiện cho sự vận động của các nguyên tử cũng đã
lấy toán học làm đối tượng nghiên cứu. Song, so với các nhà triết học ấy,
Đêmôcrít là một trí tuệ toán học lớn hơn nhiều và sự nghiên cứu toán học của
ông cũng khác họ. Đêmôcrít nghiên cứu toán học, như sau này Arixtốt nhận
định, là để "làm xoay chuyển toán học", để đi đến một quan niệm độc đáo về các
nguyên tử vật chất, về cấu tạo và hình thức của các nguyên tử vật chất có quảng
tính.
Với quan niệm độc đáo về cái gọi là các "nguyên tử hình học" và khi bày
tỏ sự nhất trí với quan điểm của Dênôn (490 - 430 TCN) - nhà triết học có tài
hùng biện, người nổi tiếng với học thuyết được trình bày bằng thơ và dưới hình
thức đối thoại hết sức độc đáo và tồn tại duy nhất, vĩnh viễn và bất động với tư
cách tồn tại có quảng tính, có một đại lượng bất biến, không tăng, không giảm và
do vậy, mang tính vật thể, rằng tính có thể phân chia được của không gian đến
vô cùng sẽ dẫn tới điều nhảm nhí, tới chỗ biến nó thành một đại lượng bằng
không mà từ đó, không thể xây dựng được gì, Đêmôcrít đã phát hiện ra sự tồn tại


nếu thừa nhận mọi đại lượng có quảng tính đều có thể phân chia được tới vô hạn
thì hoá ra phải thừa nhận là một đại lượng hữu hạn được tạo nên từ vô số số hạng
có giá trị bằng không. Đó là một điều nhảm nhí, phi lý. Để tránh được cái phi lý
ấy, theo ông, phải thừa nhận rằng giữa tính vô hạn và tính hữu hạn, giữa tính có
thể phân chia được và tính không thể phân chia được của nguyên tử và các vật
thể vật chất có mối tương quan nhất định. Mối tương quan đó như thế nào thì
ông chưa giải thích được do hạn chế của trình độ khoa học đương thời - điều mà


7

chỉ ngày nay chúng ta mới biết được là do tính lượng tử độc đáo của không gian
quy định.
Khi lý giải quan niệm của Đêmôcrít về sự tồn tại của các nguyên tử hình
học, các điểm toán hoc - amerơ, nhà triết học Nga - V.Ph.Asmuxơ cho rằng, với
quan niệm ấy, Đêmôcrít đã cứu toán học thoát ra khỏi mâu thuẫn mà Dênôn đã
vấp phải, song ông lại tạo ra một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa tư duy toán
học và trực quan cảm tính, giữa hệ tiền đề toán học đã được thừa nhận và lôgic
mệnh đề. Rằng ngày nay, người ta đã chứng minh được rằng, về mặt lôgic thì sự
tồn tại của các "nguyên tử hình học" không có gì là mâu thuẫn, song điều đó vẫn
không thể khắc phục được mâu thuẫn mà người ta đã vấp phải khi xác định cấu
trúc của không gian vật lý, hiện thực - mâu thuẫn hiện vẫn còn là vấn đề nan giải
của khoa học hiện đại.
Quan niệm của Đêmôcrít về sự tồn tại của các nguyên tử hình học ngay
khi mới ra đời đã phải hứng chịu sự phê phán kịch liệt của các nhà triết học và
toán học đương thời và sau đó, nó còn tiếp tục bị phê phán bởi các nhà toán học
và triết học sống ở những thời đại sau ông, đặc biệt là của Arixtốt. Và do vậy,
quan niệm này của ông đã bị rơi vào quên lãng trong một thời gian khá dài cho
tới khi nó được Êpiquya khôi phục khi phát triển thuyết nguyên tử cổ điển của
ông về cấu tạo vật chất. Sau Êpiquya, quan niệm đó của Đêmôcrít lại một lần

nguyên tử cũng là vô hạn. Phương hướng vận động và tốc độ vận động ban đầu
của nguyên tử bị quy định bởi sự tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau của
các nguyên tử và do vậy, đến lượt mình, tính đa dạng về phương hướng và tốc độ
vận động của nguyên tử đã dẫn đến tính đa dạng về phương thức kết hợp và
đụng độ lẫn nhau của các nguyên tử. Theo đó, tính đa dạng của vũ trụ này được
quy định và là hệ quả tất yếu của sự vận động vĩnh hằng, sự vận động vốn có,
vận động trong chân không của các nguyên tử vật chất.
Khác với các nhà triết học thuộc trường phái Ioni - những người cũng đã
nói tới sự vận động vĩnh hằng của các nguyên thể vật chất đầu tiên, song do chịu
sự ảnh hưởng của thuyết vật hoạt luận, nên thế giới (vũ trụ) trong quan niệm của
họ, là cái nằm trong sự vận động vĩnh hằng, bởi thế giới, theo họ, là một thực thể
hữu sinh, Đêmôcrít đã giải quyết vấn đề theo một cách hoàn toàn khác. Ông cho
rằng, các nguyên tử vật chất thường là không có sinh khí, những nguyên tử vật
chất có sinh khí chỉ có trong thể xác động vật và con người. Sự vận động vĩnh
hằng trong chân không của các nguyên tử vật chất là sự vận động tự thân, tự nó.
Sự vận động vĩnh hằng của nguyên tử - đó là sự đụng độ, sự xô đẩy, sự kết hợp,
sự tách rời, sự xoay đặt và sự rơi xuống của các nguyên tử được sinh ra bởi cơn
lốc, bởi dòng xoáy nguyên tử ban đầu. Hơn nữa, các nguyên tử còn có sự tự vận
động ban đầu của riêng nó, sự vận động được sinh ra bởi sự chuyển động theo
nhiều hướng khác nhau của nó. Nguyên tử vận động theo nhiều hướng khác nhau
và trong quá trình vận động ấy, chúng kết hợp với nhau, đụng độ lẫn nhau để
hình thành nên những dòng xoáy, cơn lốc nguyên từ và chính những dòng xoáy,
cơn lốc nguyên tử này đã tạo nên vũ trụ. Trong quá trình vận động xoay tròn


9

theo dòng xoáy, cơn lốc nguyên tử, những nguyên tử vật chất có trọng lượng
càng nặng, càng ở gần trung tâm; những nguyên tử có trọng lượng càng nhẹ,
càng ở xa trung tâm của dòng xoáy, cơn lốc nguyên tử hình thành nên các vòng

thể vật chất. Mọi vật thể đều được tạo ra trong quá trình vận động của các


10

nguyên tử vật chất trong chân không, các nguyên tử này có tính bền vững, nên
các vật thể vật chất này không dễ dàng bị huỷ hoại, cũng không dễ dàng thay
đổi. Vận động xoáy lốc của nguyên tử là vĩnh viễn, là tất yếu nên mọi vật thể
sinh ra cũng là tất yếu. Mặt trời và mặt trăng cũng được sinh ra một cách tất yếu
từ sự vận động xoáy lốc của các nguyên tử hình tròn, đồng nhất và trơn tru.
Trong vũ trụ có nhiều thế giới, các thế giới này đều được tạo nên từ sự vận động
của các nguyên tử trong chân không và chúng chỉ khác nhau về số lượng và cấu
trúc, một số thế giới thì không có mặt trời, mặt trăng, số khác thì lại có nhiều mặt
trời, mặt trăng hơn thế giới mà chúng ta đang sống.
Với học thuyết nguyên tử của mình, Đêmôcrít đã có những cống hiến to
lớn cho triết học. Trong quan niệm về tự nhiên, ông phủ nhận các quan điểm duy
tâm, bảo vệ và phát triển các quan điểm duy vật. Từ sự quan sát các hiện tượng
tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và mong muốn giải thích
chúng một cách khoa học, ông quan niệm thế giới được tạo thành bởi các nguyên
tử. Về nhân bản học và nhận thức luận, theo Đêmôcrít, bản thân các sinh vật và
con người đều được cấu tạo từ các nguyên tử và khoảng không. Ông định nghĩa
con người như một động vật nhưng về bản tính có khả năng học được bất cứ cái
gì, có chân tay, cảm giác và sự năng động trí tuệ làm trợ giúp cho mọi cái.
Đêmôc rít khẳng định nguyên tử luôn luôn vận động biến đổi, chúng luôn vận
động trong khoảng không tựa như những hạt bụi chuyển động trong không khí
mà chúng ta nhìn thấy được qua những tia nắng mặt trời. Như vậy, quan niệm
của Đêmôcrít đã giải thích thế giới như một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự
vật vận động và biến đổi không ngừng. Nhìn chung trong học thuyết nguyên tử
của mình, Đêmôcrít đã đóng góp cho triết học Hy Lạp cổ đại thế giới quan duy
vật tự phát, quan điểm biện chứng sơ khai. Mặc dù xuất hiện trong điều kiện các

bấy giờ. Những hạn chế này được thể hiện ở một số điểm, cụ thể là:
Trước hết, học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít mới chỉ là những quan niệm
hết sức thô sơ, tự phát, những tư tưởng biện chứng hết sức chất phác, ngây thơ.
Ông đã hoàn toàn đúng khi khẳng định cả nguyên tử và chân không đều là những
cái tồn tại hiện thực, song ông đã sai lầm khi tách rời không gian khỏi vật chất và
coi không gian là có giới hạn, bởi ở ông, Không - tồn tại được coi là hư vô và cái
khoảng trống rỗng giữa các nguyên tử hay giữa các vật thể, cái Không - tồn tại
hoặc cái hư vô ấy là không gian.
Đêmôcrít đã có những phỏng đoán thiên tài về vận động, vận động gắn liền
với vật chất, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, nguyên nhân vận động từ bản
thân nó, những khoảng "chân không" là điều kiện của vận động, tuy vậy ông
chưa lý giải được nguồn gốc của vận động.
Trong các quan điểm về bản thể luận, về nhân bản học và nhận thức luận,
quan niệm về chính trị xã hội, chứng tỏ Đêmôc rít còn có những điểm duy tâm,
điều này thể hiện ở một số điểm. Trước hết, từ thuyết nguyên tử, Đêmôc rít đã đi
tới quan điểm sai lầm về thuyết quyết định luận. Ông thừa nhận sự ràng buộc,


12

tính tất nhiên và khách quan nhưng theo luật nhân quả, sự vận động theo một
quỹ đạo định trước, quan điểm này đưa vào lĩnh vực xã hội dẫn tới quan điểm
định mệnh. Thứ hai, theo Đêmôcrít và các nhà nguyên tử luận, bản thân các sinh
vật và con người, kể cả linh hồn, anh ta đều được cấu tạo từ các nguyên tử và
khoảng không. Linh hồn, thực chất theo quan điểm của Đêmôcrít không phải là
duy tâm, linh hồn thực chất là tổng thể các nguyên tử, nó là cơ sở của mọi sinh
khí và sức sống trong con người. Tuy nhiên khi đề cập đến linh hồn với tư cách
là một bộ phận của con người, Đêmôcrít đã rơi và quan niệm duy tâm khi giải
quyết những vấn đề về con người và về mặt xã hội .
Khi nghiên cứu học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, chúng ta cần khẳng

lối duy vật (tất nhiên) là duy vật thô sơ, chất phác. Đường lối này được thể hiện
rõ nhất trong bản thể luận, học thuyết nguyên tử luận. Dưới con mắt của
Đêmôcrít, mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều được tái tạo từ các nguyên tử
và khoảng không. Sự xuất hiện hay mất đi của vật này hay vật khác là kết quả
việc kết hợp hay phân tán của các nguyên tử. Mọi biến đổi của sự vật thực chất
là sự thay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng. Vũ trụ nói chung
là khoảng không vô cùng, vô tận trong đó chứa đựng vô số thế giới khác nhau
được cấu tạo từ vô vàn các loại nguyên tử. Không bàn đến vấn đề nguồn gốc của
các nguyên tử và vũ trụ nói chung, Đêmôcrít tìm cách giải thích sự hình thành
các thế giới khác nhau trong vũ trụ. Theo ông, các thế giới này được sinh ra đều
có căn nguyên của chúng. Nguyên tử tạo nên các hành tinh và trái đất. Lửa,
không khí, ánh sáng nhờ những luồng gió xoáy - do chuyển động các nguyên tử
theo hình xoáy tròn đã tạo ra bầu trời. Các hành tinh cũng thuộc về thế giới
chúng ta. Mỗi thế giới tựa như một hình cầu được khép kín bởi các nguyên tử có
hình cong. Các thế giới cũng nằm trong quá trình biến đổi, vận động không
ngừng.
Có thể nói, trong lịch sử triết học, Đêmôcrít là người đầu tiên đã vẽ nên một
cách tương đối hoàn chỉnh bức tranh nguyên tử về thế giới. Từ lập trường duy
vật và trên cơ sở kế thừa, phát triển quan niệm của Lơxíp về nguyên tử,
Đêmôcrít đã đi đến quan niệm khẳng định rằng, mọi vật thể trong thế giới đều
được tạo ra trong quá trình vận động của các nguyên tử trong chân không. Các
nguyên tử này dù sắp xếp thế nào cũng có những kẽ hở, chỗ trống, nên trong mỗi
sự vật cũng luôn có phần đặc, phần rỗng và do vậy, thế giới là sự thống nhất giữa
tồn tại (phần đặc, phần đầy) và Không - tồn tại (phần rỗng, chân không).
Ngược lại, triết học Platôn là hệ thống triết học duy tâm khách quan được
xây dựng dựa trên cơ sở phân chia thế giới thành hai loại thế giới ý niệm và thế
giới sự vật hiện tượng. Theo Platôn, thế giới ý niệm (các khái niệm) là có trước,
là cái nguyên mẫu, còn sự vật, hiện tượng là cái có sau, là sự mô phỏng, bản sao
của các ý niệm. Platôn cho rằng, các ý niệm là các khái niệm, những tri thức đã
được khách quan hoá, tồn tại vĩnh viễn, bất biến và luôn đồng nhất với bản thân

lên phía trước trong phát triển triết học duy vật ở Hy Lạp cổ đại. Nó đóng góp
tích cực cho kho tàng triết học Hy Lạp cổ đại và tư tưởng triết học thế giới dưới
góc độ bản thể luận và vũ trụ quan sơ khai, phản ánh thế giới đúng đắn, có tác
dụng thúc đẩy tiến bộ xã hội, sản xuất, văn hoá, khoa học trong xã hội chiếm hữu
nô lệ nói riêng và cho nhân loại nói chung. Nét nổi bật của triết học duy vật Hy
Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc thô sơ của nó. Nó giải thích tự nhiên trên quan
điểm thuần phác, theo Ăngghen, đó là “quan niệm về thế giới một cách nguyên
thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng”.


15

Cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học duy vật, duy tâm trong triết
học Phương Tây, khởi điểm trong triết học Hy Lap là nguồn gốc, động lực để
thúc đẩy triết học phát triển, đến giai đoạn triết học cổ điển Đức, cuộc đấu tranh
này lại được phát triển lên đỉnh cao mới: Chủ nghĩa duy vật PhoiBắc, triết học
duy tâm Hêghen - đây là sự phát triển vượt bậc, là tiền đề trực tiếp hình thành
nên triết học Mác, là cơ sở để chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng tạo
thành chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Hêghen (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức, ông coi nền
tảng thế giới quan triết học của mình là tinh thần tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối
được hiểu như đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên của con người. Mọi sự vật,
hiện tượng xung quanh ta, từ những sự vật tự nhiên cho đến những sản phẩm
hoạt động của con người, chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối. Tinh thần tuyệt
đối được hiểu như là thực thể sinh ra mọi cái trên thế gian. Con người là sản
phẩm, cũng là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đói. Hoạt động
nhận thức và cải tạo thế giới của con ngươì chính là công cụ để tinh thần tuyệt
đối nhận thức chính bản thân của mình.
Phoi ơ Bắc (1804 - 1872), Ban đầu chịu ảnh hưởng lớn của triết học
Hêghen, PhoiơBắc tham gia phái Hêghen trẻ tin rằng tôn giáo, các khái niệm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status