BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
=====***=====
VŨ THỊ TRANG
VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG TRONG
SGK TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC VÀ
Ý NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin dành những lời đầu tiên trong bài luận văn nhỏ của mình để đƣợc
bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của tôi tới các thầy cô giáo, những
ngƣời đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh đã
tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện cho tôi học tập
nghiên cứu, giúp đỡ đóng góp ý kiến để luận văn của tôi đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn Vũ Thị Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình của TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Tác giả luận văn Vũ Thị Trang
2.2. Vẻ đẹp nội dung của văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt
bậc Tiểu học 24
2.2.1. Không gian cảnh sắc thiên nhiên miền núi 24
2.2.2. Con người miền núi 27
2.2.3. Không gian đất và người giàu bản sắc văn hóa dân tộc 32
2.3. Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật của văn bản văn xuôi Ma Văn Kháng trong
SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học 35
2.3.1. Ngôn từ giản dị và giàu hình ảnh 36
2.3.2. Biện pháp tu từ 38
Chƣơng 3. Ý NGHĨA GIÁO DỤC CỦA VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG
ĐỐI VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG VIỆT 42
3.1. Ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Tiểu học 42
3.1.1. Giáo dục tình yêu và ý thức bảo vệ không gian núi rừng của
đất nước 42
3.1.2. Giáo dục tinh thần gắn kết cộng đồng và ý thức giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc 45
3.2. Bồi dƣỡng kĩ năng cảm thụ và năng lực tƣ duy Văn cho học sinh 47
3.3. Định hƣớng khai thác giá trị nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Ma
Văn Kháng đối với dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học 52
3.3.1. Thiết kế giáo án dạy 52
3.3.2. Đề xuất, kiến nghị 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1.Tầm quan trọng của môn Tiếng Việt và những văn bản văn xuôi của
đƣợc giảng dạy độc lập nhƣ một môn học riêng mà nó đƣợc tích hợp thông
qua các giờ dạy học môn Tiếng Việt. Với tƣ cách là ngữ liệu để dạy học các
phân môn của Tiếng Việt, các văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng có tác
dụng tích cực trong việc làm giàu tâm hồn, làm phong phú tình cảm, rèn
luyện tính cách, nhân cách con ngƣời; có ý nghĩa giáo dục rất lớn về thẩm mĩ,
về lòng yêu con ngƣời, yêu quê hƣơng đất nƣớc… Từ đó, mang đến cho học
sinh những bài học nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc.
1.2. Thực tế dạy học văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng trong môn
Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học, các trích đoạn văn xuôi của Ma
Văn Kháng đƣợc phân bố giảng dạy ở các phân môn: Tập đọc, Tập làm văn,
Chính tả. Mỗi văn bản văn xuôi ấy vừa bồi dƣỡng năng lực học Văn cho học
sinh, lại vừa là công cụ để các em học tập phần Tiếng Việt. Với ngôn từ giản
dị, trong sáng, những trích đoạn văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK
Tiếng Việt trở thành những văn bản mẫu cho học sinh rèn luyện khả năng sử
dụng tiếng Việt. Tiếp cận với tác phẩm của Ma Văn Kháng, học sinh không
chỉ lĩnh hội đƣợc những tri thức về xã hội, tự nhiên, con ngƣời mà còn hiểu
biết đƣợc văn hóa, phong tục tập quán của con ngƣời, đặc biệt là những phong
tục tập quán của ngƣời miền núi. Mỗi trang văn của ông nhƣ là bài ca về tình
ngƣời, tình đời, về vẻ đẹp của tâm hồn con ngƣời. Trƣớc khi trở thành nhà
văn, Ma Văn Kháng đã là một thầy giáo. Ngƣời thầy giáo vùng cao ấy đã từng
bao năm đứng trên bục giảng, dạy học sinh từng nét chữ, từng điều hay, lẽ
3
phải. Vì vậy, hơn ai hết, ông am hiểu sâu sắc ý nghĩa giáo dục của văn học đối
với học sinh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Văn xuôi Ma Văn Kháng trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý
nghĩa giáo dục đối với học sinh”.
2. Lịch sử vấn đề
chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài Văn xuôi Ma Văn Kháng trong sách
giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. Hi
vọng rằng, đề tài sẽ góp một tiếng nói tiếp tục khẳng định giá trị của văn xuôi
Ma Văn Kháng đối với việc rèn luyện tiếng Việt nói riêng và việc giáo dục
toàn diện nhân cách cho học sinh Tiểu học nói chung.
3.Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là cắt nghĩa, lý giải đặc sắc nội dung, nghệ thuật
hàm chứa trong các văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng trong sách giáo khoa
Tiếng Việt bậc Tiểu học. Từ đó, làm rõ ý nghĩa giáo dục to lớn của những sáng
tác này đối với học sinh Tiểu học nhƣ: giáo dục tình yêu quê hƣơng đất nƣớc;
tinh thần đoàn kết dân tộc; tình yêu văn hóa giống nòi; niềm tự hào và ý thức giữ
gìn bản sắc dân tộc; bồi dƣỡng năng lực sử dụng tiếng Việt…
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật của văn xuôi Ma Văn
Kháng đƣợc giảng dạy trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học.
- Kết quả nghiên cứu sẽ ứng dụng thiết thực vào việc dạy học các văn
bản này trong môn học Tiếng Việt ở Tiểu học.
5.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là sáng tác văn xuôi của Ma
Văn Kháng trong SGKTiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối
với học sinh.
- Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ làm rõ những vấn đề sau
5
+ Lí giải, cắt nghĩa đặc sắc nội dung và nghệ thuật hàm chứa trong các
sáng tác văn xuôi của Ma Văn Khángtrong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học.
+ Làm rõ ý nghĩa giáo dục của những sáng tác văn học này đối với học
sinh Tiểu học.
6.Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Mang trong mình chức năng giáo dục to lớn, tác phẩm văn học có mặt
trong mọi bậc học của giáo dục phổ thông. Với tƣ cách là một lĩnh vực văn
hóa, văn học đƣợc coi là một nội dung quan trọng của chƣơng trình Tiếng
Việt ở Tiểu học. Văn học dẫn dắt, mở cửa cho trẻ em ngay từ những bƣớc
chập chững đầu tiên đi vào thế giới của các giá trị phong phú chứa đựng trong
tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Sự tiếp xúc thƣờng xuyên với tác phẩm văn học
đƣợc chọn lọc sẽ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, sự nhạy cảm, năng lực cảm thụ
văn học… vốn là những tố chất ban đầu của năng khiếu nghệ thuật. Tiếp xúc
với các tác phẩm văn học, trẻ học tiếng mẹ đẻ: học cách phát âm đúng, tích
lũy vốn từ ngữ nghệ thuật, học những mẫu câu hoàn hảo, sinh động, giàu sức
biểu cảm. Từ đó, các em biết yêu mến, trân trọng tiếng nói dân tộc. Văn học
còn góp phần phát triển trí tuệ, tình cảm, đạo đức, làm phong phú đời sống
tinh thần cho trẻ em.
Mục đích của dạy học Tiếng Việt trong nhà trƣờng là dạy học sinh biết
giao tiếp bằng tiếng Việt, có văn hóa trong môi trƣờng giao tiếp của lứa tuổi.
Vì vậy, những vấn đề lý thuyết về hoạt động giao tiếp ngôn ngữ chính là tiền
đề cơ sở mà bất kì giáo viên dạy học Tiếng Việt nào cũng phải nắm vững.
Việc dạy học tiếng Việt thông qua ngữ liệu là các văn bản văn xuôi viết về
dân tộc và miền núi của nhà văn Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt Tiểu
7
học, đòi hỏi ngƣời giáo viên và học sinh phải hiểu hết giá trị của lớp ngôn từ
tiếng Việt- ngôn từ văn hóa, đã đƣợc nhà văn gửi gắm trong mỗi tác phẩm.
Đó là cơ sở cho thấy môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng hàng đầu ở nhà
trƣờng phổ thông, đặc biệt là ở nhà trƣờng Tiểu học.
Thực tế việc dạy các phân môn có sử dụng những trích đoạn văn xuôi Ma
Văn Kháng làm ngữ liệu còn nhiều hạn chế. Về phía học sinh, vốn tiếng Việt
của các em còn rất ít, về phía giáo viên chƣa tìm ra phƣơng pháp để nâng cao
kết quả giờ học. Việc dạy của giáo viên vẫn bám vào phƣơng pháp dạy dập
khuôn. Đây là nguyên nhân làm cho học sinh hoạt động không tích cực, sinh
học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học cộng với thực tế
cuộc sống của các em để trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và
sống động. Trong sách giáo khoa lớp 5, có sử dụng trích đoạn Hạng A Cháng
của Ma Văn Kháng làm ngữ liệu cho bài văn tả ngƣời. Đó là trích đoạn đặc
sắc, ấn tƣợng, vì nhà văn sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, phong phú, phong
cách miêu tả giàu tình cảm. Đoạn văn có bố cục rõ rang, dễ hiểu. Tuy nhiên,
việc vận dụng hết cái đẹp, cái hay của đoạn trích cho bài học vẫn chƣa thực
sự tốt, đoạn văn sử dụng nhiều biện pháp tu từ, so sánh, nhân hóa, giáo viên
chƣa có phƣơng pháp giúp học sinh hiểu đƣợc cách miêu tả hay là nhƣ thế
nào, chỉ hƣớng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò, hoặc dùng văn mẫu
để học sinh tự sao chép.
1.2. Vài nét về tiểu sử nhà văn Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1/12/1936, tại
phƣờng Kim Liên, quận Đống Đa (nay là quận Ba Đình), Hà Nội. Ông lớn
lên từ làng ven thành Đồng Lầm, vùng đất chân lấm, tay bùn nghèo khổ và
lam lũ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Sƣ phạm Hà Nội, ông xung phong lên
Tây Bắc “đi theo tiếng gọi của Đan cô, Paven Corsaghin… xung phong đi
9
đến những vùng khó khăn của đất nước, đi như một viên đạn thẳng đầu”.
Hơn hai mƣơi năm sống và làm việc ở vùng núi ấy, ông đã cố gắng hòa nhập
với môi trƣờng mới, gắn bó và làm việc hết khả năng và coi đây là quê
hƣơng thứ hai của mình.
Cái tên Ma Văn Kháng vừa là tên gọi hàng ngày, dùng trong các giấy tờ,
vừa là bút danh đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của tác giả đối với miền đất
ấy. Nhiều ngƣời nhìn bút danh Ma Văn Kháng đã nghĩ ông là ngƣời dân tộc
thiểu số, nhƣng ông cho biết, đây là bí danh, đồng thời cũng là tình cảm mà
ông dành cho mảnh đất mà ông đã gắn bó một chặng đƣờng không nhỏ của
cuộc đời. Nhà văn đã có lần chia sẻ: bút văn Ma Văn Kháng ra đời trong một
hoàn cảnh đặc biệt. Một lần nhà văn bị ốm nặng, ông đƣợc ông Nho, chủ tịch
11 năm ròng trong nghề này ở nơi vùng cao biên giới đã tích tụ trong Ma
Văn Kháng một vốn liếng quý giá vô ngần, chín dần qua năm tháng mãi về
sau, trở thành trầm tích, thành mỏ vàng trữ lƣợng luôn dồi dào. Ông ghi chép,
nhập tâm mài sắc sự hiểu biết hiền minh, lão thực mà khoan dung về các loại
ngƣời trong xã hội, đặc biệt về các loại học trò lớp lớp trên vùng cao các dân
tộc anh em; về các thầy cô miền xuôi, miền ngƣợc chung lƣng đấu cật dựng
lớp, mở trƣờng, khai tâm ánh sáng của văn minh, văn hóa nơi vùng sâu, vùng
xa, hẻo lánh; về những nhà quản lý sự nghiệp các cấp với chân dung muôn
hình nhiều vẻ.
Hơn hai mƣơi năm công tác tại miền núi là quãng đời tuổi trẻ sôi nổi
nhất của ông. Nhƣ một ngƣời cán bộ thực thụ, ông trực tiếp tham gia, trải qua
nhiều đợt tiễu phỉ, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thƣ kí, làm
báo, viết văn… Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi trong
giai đoạn gian khổ nhất. Có thể thấy, thời trai trẻ của nhà văn là cuộc dấn thân
say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cƣớc khi là
11
chiến sĩ quân đội, lúc là anh cán bộ, ông giáo, nhà báo. Nhà văn “đi như một
viên đạn thẳng vào đời bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy”. Và cũng chính sự
sôi nổi, nhiệt tình, say mê làm việc ấy mà nhà văn đã tích lũy đƣợc nhiều tƣ
liệu quý giá. Là một chàng trai Hà Nội gốc, nhƣng Ma Vă Kháng lại có nhiều
duyên nợ với mảnh đất Tây Bắc. Chàng trai Hà thành ấy hiểu thấu đáo đƣợc
lối sống và phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc thiểu số trên mảnh
đất địa đầu Tổ quốc ấy. Nhà văn đã từng bộc bạch: “Sống cùng đồng bào dân
tộc, tôi thấm dần lịch sử đau đớn, trầm luân, khổ ải cùng khát vọng mãnh liệt
và sức sống tiềm ẩn muốn vươn lên tự giải phóng ra khỏi mọi rằng buộc, áp
lực của họ. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt đó có những bi kịch, những lầm
lạc của cả đời người, của cả một cộng đồng” [6, 414]. Những năm tháng của
nhà văn với đồng bào dân tộc đã cung cấp chất liệu để Ma Văn Kháng viết lên
hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết nổi tiếng nhƣ: Đồng bạc trắng hoa xòe,
Trong sự nghiệp của Ma Văn Kháng, truyện ngắn chiếm một ví trí đặc
biệt quan trọng. Ông có nhiều sáng tác truyện ngắn đạt giải thƣởng trong
nƣớc, quốc tế và đƣợc dịch ra tiếng nƣớc ngoài nhƣ: Truyện ngắn Xa Phủ
đoạt giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn
nghệ 1967 – 1968; Tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ đạt giải thƣởng của
Hội Nhà văn Việt Nam 1995; Giải cây bút vàng cho truyện San Cha Chải
trong cuộc thi truyện ngắn và kí năm 1996 – 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà
văn tổ chức.
Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn, Ma Văn Kháng còn rất
thành công ở thể loại tiểu thuyết. Từ Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa
xòe (1978), Mùa lá rụng trong vườn (1982), Vùng biên ải (1983) đến Đám
cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Bóng đêm
(2011), Bến bờ (2012)… Trong đó, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn đạt
giải thƣởng Hội Nhà văn năm 1984. Ma Văn Kháng còn vinh dự nhận đƣợc
13
giải thƣởng văn học Đông Nam Á năm 1998 và giải thƣởng Nhà nƣớc về văn
học nghệ thuật năm 2001, giải thƣởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
(đợt 4, 2012) cho cụm tác phẩm: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời; Gặp gỡ
ở La Pan Tẩn; Giải thƣởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009 với tiểu thuyết
Một mình một ngựa… Với những thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự
khẳng định đƣợc vị thế của mình trong nên văn học Việt Nam đƣơng đại. Tên
tuổi của Ma Văn Kháng ngày càng đƣợc đông đảo bạn đọc biết đến bởi không
chỉ vốn hiểu biết dồi dào, phong cách thể hiện mới mẻ mà còn là “một đời văn
cần mẫn”, “một đời văn sáng tạo”.
Nhƣ vậy, nhìn một cách tổng quát, quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng
chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trƣớc, chủ yếu viết về cuộc sống, phong tục
của ngƣời dân miền núi; giai đoạn sau, viết về những đa đoan, phức tạp của
đời sống thành thị thời hậu chiến. Cùng với sự thay đổi về đề tài sáng tác, Ma
Văn Kháng cũng có những thay đổi đáng kể, những bƣớc đột phá về tƣ duy
chữ “sáng tạo”, không thể không kể đến ý thức về sự đổi mới. Với trƣờng hợp
Ma Văn Kháng, một trong những biểu hiện thuyết phục nhất của sự sáng tạo,
có lẽ chính là cuộc bứt phá đặc biệt, gắn với mốc thời gian khi nhà văn giã
biệt Lào Cai, trở về với cuộc sống thành thị. Những sáng tác sau này của Ma
Văn Kháng hƣớng tới phát hiện, khám phá, phản ánh chính cuộc sống mới,
với đầy đủ những góc cạnh của cuộc sống thành thị thời hậu chiến. Sự thành
công của Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Cỏ dại,
Trốn nợ… đã một lần nữa khẳng định cho sự tìm tòi sáng tạo của cây bút cần
mẫn, say mê, quyết liệt tự làm mới mình.
Không chỉ thể hiện ở nội dung đề tài, sự sáng tạo còn là một yếu tố hàng
đầu đối với trong việc lựa chọn hình thức thể hiện. Sự sáng tạo ấy biểu hiện ra
ở mọi phƣơng diện của hình thức nghệ thuật. Có thể dẫn ra những ví dụ về
15
cách tổ chức ngôn từ, xây dựng hình tƣợng nhân vật hay lựa chọn giọng điệu
trong văn xuôi Ma Văn Kháng. Đánh giá về Ma Văn Kháng, giới nghiên cứu,
phê bình đều thống nhất thừa nhận ông nhƣ một cây bút văn xuôi có “bút lực
sung mãn, cƣờng tráng”. Nhận định ấy, trƣớc hết có thể đƣợc minh chứng qua
số lƣợng tác phẩm khá đồ sộ. Với văn nghiệp gần tám nghìn trang in, hàng
trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết, ba truyện viết theo lối hồi kí - tự
truyện, Ma Văn Kháng xứng đáng là một trong những cây bút có sức viết dồi
dào nhất trên văn đàn Việt hiện nay. Chỉ dừng lại trong địa hạt văn xuôi,
nhƣng sáng tác của Ma Văn Kháng cũng khá phong phú, gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tự truyện – hồi ký. Ma Văn Kháng đã khẳng định mình nhƣ một
tài năng đa dạng.
Cây bút văn xuôi ấy còn đƣợc biết đến nhƣ một sức viết bền bỉ. Nhìn vào
mốc thời gian ra đời những tác phẩm của ông, ta thấy gần nhƣ không có
khoảng ngắt quãng nào đáng kể. Viết cần mẫn, say mê, Ma Văn Kháng đã để
lại một văn nghiệp không chỉ lớn về quy mô, đa dạng về thể loại mà còn đều
đặn và liền mạch. Quan trọng hơn, chất lƣợng sáng tác của nhà văn có thể
Phân môn
Khối lớp
Trang
1
Mùa đông trên rẻo cao (Trích
từ truyện ngắn Dưới những
bóng cau, NXB Thanh niên,
1972)
Chính tả
Lớp 4 (tập 1)
165
2
Mùa thảo quả (Trích từ tiểu
thuyết Gió rừng, NXB Thanh
niên, 1977)
Tập đọc
Lớp 5 (tập 1)
113
3
Hạng A Cháng (Trích từ
truyện ngắn Người con trai
họ Hạng, NXB Thanh niên,
1972)
Tập làm văn
Lớp 5 (tập 1)
119
17
b. Nhận xét
Nhìn vào bảng thống kê trên, ta nhận thấy, số lƣợng sáng tác của Ma
vi rộng đó là bao gồm cả những tác phẩm văn học thông thƣờng (cho ngƣời
lớn) đã đi vào phạm vi văn học thiếu nhi nhƣ Đôn-ki-hô-tê của M. Xéc-van-
tex, Rô-bin-xơn Cờ-ru-xô của Đ. Đi-phô, Gu-li-vơ du kí của Gi. Xuýt-tơ, Túp
lều bác Tôm của H. Bi-sơ-xtâu…
Trên thế giới, từ lâu đã có một bộ phận sáng tác văn học dành cho thiếu
nhi. Những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này là những cuốn sách có nội dung
giáo khoa, đạo lý ở sách học vần, sách bách khoa, sách về các quy tắc ứng xử
trong xã hội xuất hiện ở Châu Âu vào các thế kỉ XIV – XVI và đặc biệt phát
triển vào thời kì Khai sáng. Tính giáo huấn đƣợc ngƣời ta coi là một trong
19
những đặc điểm quan trọng của văn học thiếu nhi. Bởi vậy, cho đến giữa thế
kỉ XIX, những tác phẩm viết dành riêng cho thiếu nhi vẫn nằm ngoài phạm vi
của văn học, trong khi đó, những tác phẩm văn học viết cho ngƣời lớn lại đi
vào phạm vi đọc của trẻ em, nhất là những loại viết theo môtip phônclo, loại
cổ tích và một số tiểu thuyết và truyện thuộc thể loại phiêu lƣu.
Thế kỉ XX, văn học thiếu nhi phát triển khá đa dạng và phức tạp. Ở
nhiều nƣớc phát triển, nó ít nhiều bị chi phối bởi xu hƣớng thƣơng mại, bị pha
trộn bởi sự bành trƣớng của văn học đại chúng. Ở Việt Nam, thế kỉ XX mới
phát triển văn học thiếu nhi. Đến nay đã có sự phân nhánh của thơ cho thiếu
nhi (bên cạnh thơ cho ngƣời lớn), hoặc trong văn xuôi viết cho thiếu nhi đã
hình thành các loại truyện: truyện sinh hoạt, truyện cổ tích (những sáng tác
hiện đại theo lối cổ tích), truyện loài vật, truyện lịch sử…
Văn học thiếu nhi Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ, phong phú và
đa dạng từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt từ sau 1986. Công cuộc
đổi mới toàn diện đất nƣớc đã đem một không khí mới cho văn học nƣớc nhà,
trong đó có bộ phận văn học thiếu nhi. Sáng tác cho các em từ những năm đầu
thời kì đổi mới đến nay, đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Các nhà văn
lớp trƣớc nhƣ Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn Quỳnh… mặc dù tuổi cao nhƣng
vẫn cần mẫn viết cho các em, tự đổi mới chính mình trong việc mở rộng đề tài