QUAN ĐIỂM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM
“HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH
TƯ TƯỞNG - LÝ LUẬN HIỆN NAY
Một trong những phát kiến được xem là thành tựu vĩ đại nhất của triết học nhân loại
là Mác và Ăngghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cống hiến này của các công
lần đầu tiên được trình bày trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”. Ở trong tác phẩm này tuy
chưa phải là sự khái quát một cách đầy đủ và có hệ thống về chủ nghĩa duy vật lịch sử,
nhưng những nội dung cơ bản của nó như: vấn đề con người, mối quan hệ biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, v.v…đã được Mác và Ăngghen trình bày khá toàn
diện và hoàn chỉnh.
1. Vài nét sơ lược về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
C.Mác và Ph. Ăngghen viết chung tác phẩm này (nhưng Mác viết là chủ yếu) trong
giai đoạn đang chuyển lập trường từ thế giới quan duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách
mạng sang thế giới quan duy vật và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Viết tác phẩm này cũng
chính là một bước chuẩn bị cho tác phẩm
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”.
Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát
triển rất mạnh mẽ, và đã bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản
và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt và quyết liệt. Mặt khác phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân phát triển mạnh mẽ nổi bật là: Cách mạng tư sản ở các nước Châu Âu đã nổ
ra ngay từ những năm cuối của thế kỷ XVIII (cách mạng tư sản Anh; cách mạng tư sản
Pháp 1789…). Trong quá trình vận động của mình, cách mạng tư sản đã bộc lộ rất nhiều
điểm yếu. Trong khi đó, nước Đức những năm 40 của thế kỷ XIX, mới đang ở đêm trước
của cách mạng tư sản. Trung tâm của cách mạng chuyển về Đức. Song trong nội bộ nước
Đức, giai cấp tư sản lại yếu hèn cả về kinh tế lẫn chính trị. Thực tế đó đặt ra câu hỏi giai
cấp nào sẽ lãnh đạo cách mạng Đức? Mặt khác, giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử
của mình và trong tất cả các giai cấp hiện tại đang đối mặt với giai cấp địa chủ phong kiến
chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất. Đương nhiên để hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình, giai cấp vô sản không những cần phải phát triển nhanh cả về số lượng và chất
lượng, mà còn phải có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học.
2. Cấu trúc và nội dung cơ bản của tác phẩm
Tác phẩm: “Hệ tư tưởng Đức”, nhưng còn có phụ đề là “Phê phán triết học Đức hiện
đại qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc, B.Bauơ, Stiếcnơ và phê phán chủ nghĩa xã hội
Đức thông qua các nhà tiên tri khác nhau của nó”. Đây là một tác phẩm lớn gồm hai tập:
Tập I: “Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoiơbắc,
B.Bauơ, Stiếcnơ” gồm 3 chương:
3
3
Chương I: Về Phoiơbắc. Sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy
tâm.
Chương II: Thánh Brunô (biệt danh của Bauơ)
Chương III: Thánh Maxơ (biệt danh của Stuyếcnơ).
Tập II: “Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức thông qua các nhà tiên tri khác nhau của
nó” gồm 5 chương:
Chương I: Phê phán những cơ sở triết học của “chủ nghĩa xã hội chân chính”.
Chương II và Chương III đến nay không còn.
Chương IV: Trào lưu chủ nghĩa xã hội ảnh hưởng ở Pháp, Bỉ.
Chương V: Phê phán các quan điểm chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của Cunman.
Trong 2 tập này, phần phê phán Phoiơbắc: các quan điểm triết học của C.Mác và
Ph.Ăngghen được thể hiện một cách tập trung nhất, vì: Trong các tác phẩm trước đây như
“gia đình thần thánh”; “vấn đề do thái”…các ông đã phê phán Bauơ, Stuyếcnơ, còn đối với
Phoiơbắc thì vẫn được ca ngợi. Đến nay, bằng phê phán Phoiơbắc, C.Mác và Ph.Ăngghen
làm rõ được quan điểm của mình khác với quan điểm của Phoiơbắc ra sao và các ông đã
xây dựng quan điểm mới đó như thế nào.
Như vậy, qua kết cấu và nội dung của tác phẩm, Mác và Ăngghen muốn chỉ ra rằng,
triết học Mác cũng có tiền đề lý luận là triết học của Hêghen và triết học của Phoiơbắc,
muốn tuỳ tiện của bất kỳ ai.
Vấn đề là ở chỗ, con người với tính cách là tiền đề của lịch sử là con người hiện thực
chứ không phải con người theo quan niệm duy tâm hay trừu tượng siêu hình. Tính hiện
thực của nó được quy định trước hết bởi hoạt động sản xuất vật chất và đó cũng chính là
tiêu chuẩn phân biệt con người với súc vật. Mác và Ăngghen viết: “ Có thể phân biệt con
người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản
thân con người bắt đầu bằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất
ra những tư liệu sinh hoạt của mình” và “như thế là con người đã gián tiếp sản xuất ra đời
sống vật chất của mình”3.
Tuy nhiên, ý nghĩa của hoạt động sản xuất đó không chỉ cần thiết cho sự tồn tại thể
xác của các cá nhân mà còn tạo ra các quan hệ xã hội và phương thức sinh hoạt của họ.
Như các ông chỉ rõ, phương thức con người sản xuất “nó là một phương thức hoạt động
nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự hoạt động của họ, một
phương thức sinh sống nhất định của họ” 4. Cuối cùng, Mác và Ăngghen đã đi đến khẳng
định: “ Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn
1
2
3
4
C.Mác và Ph.ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.1995, tr.28.
Sdd, tr. 29.
Sdd, tr. 29.
Sdd, tr. 30.
5
5
6
Sdd, tr. 40.
. C.Mác và Ph.ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.1995, tr.30.
6
6
khi xem xét, đánh giá thời đại này hơn thời đại khác không phải ở việc họ làm ra cái gì, mà
là xem họ đã làm ra cái đó bằng cách nào và với những tư liệu lao động nào. Trong tác
phẩm “Hệ tư tưởng Đức” hai ông đã viết: “Hoạt động sống của họ là như thế nào thì họ là
như thế ấy. Do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ
sản xuất ra cũng như với cách họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là như thế nào điều đó
phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”.7
Trong phương thức sản xuất, hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn có
mối quan hệ biện chứng với nhau, mối quan hệ đó được các ông gọi là mối quan hệ “song
trùng”. Nghĩa là, trong quá trình sản xuất con người phải luôn đồng thời giải quyết cả hai
mối quan hệ, đó là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa con
người với con người. Các ông viết: “Như vậy là sự sản xuất ra đời sống – ra đời sống của
bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ
cái – biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là
quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là
trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì”8.
Thực chất mối quan hệ giữa con người với tự nhiên chính là biểu hiện của lực lượng
sản xuất trong một phương thức sản xuất nhất định, và mỗi lực lượng sản xuất bao giờ
cũng có hai yếu tố cơ bản thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, không tách rời nhau đó
là tư liệu sản xuất và người lao động (trong đó người lao động luôn giữ vai trò quyết định).
Trong sản xuất người lao động phải giải quyết mối quan hệ với tư liệu sản xuất-lĩnh vực tự
nhiên quyết định quan hệ hạn chế của con người với nhau, và quan hệ hạn chế của con
người với nhau lại quyết định quan hệ của con người với giới tự nhiên”.9
Trong thực tiễn đời sống đã cho thấy, nếu con người khám phá, chinh phục và cải tạo
giới tự nhiên theo đúng quy luật khách quan của nó, không làm nghèo nàn đi giới tự nhiên,
mà làm phong phú thêm giới tự nhiên và làm cho giới tự nhiên phục vụ tích cực nhu cầu
đời sống xã hội, thì cũng sẽ tạo ra mối quan hệ tốt hơn giữa con người với con người. Điều
này hầu như chỉ được đảm bảo và phát triển trong những chế độ xã hội ưu việt, xã hội vì
con người, mà thời đại ngày nay chế độ xã hội ấy không thể là xã hội nào khác ngoài xã
hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì, xã hội tư bản chủ nghĩa do bản chất
bóc lột của nó, tất cả chỉ vì giá trị thặng dư “m”, nên các nhà tư bản luôn bất chấp quy luật,
bất chấp luân thường đạo lý để làm giàu, kể cả việc đối xử tàn ác với tự nhiên và với người
lao động; chính vì thế mà làm cho mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội
tư bản chủ nghĩa không thể phát triển tốt được. Hiện nay, tuy xã hội xã hội chủ nghĩa còn
đang non yếu, thành tựu đạt được về mọi mặt chưa nhiều, sự khủng hoảng trầm trọng trong
quá trình phát triển theo hình xoáy ốc đã và đang làm cản trở, hạn chế nhiều mặt của chế
độ xã hội mới; song với bản chất ưu việt của nó, giai cấp lãnh đạo và quần chúng nhân dân
thường xuyên quan tâm tới việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng
như giữa con người với con người một cách hài hoà; những con người trong chế độ xã hội
này không chỉ biết có khai thác, chinh phục và cải tạo giới tự nhiên, mà còn biết bảo vệ
9
. Sđd, tr.44.
8
8
giới tự nhiên, coi giới tự nhiên như người mẹ hiền của mình. Những năm gần đây hàng loạt
vấn đề mang tính toàn cầu đang gây nên nỗi lo lắng, kinh hoàng cho nhân loại như, thủng
9
9
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mặc dù luôn có mối quan hệ biện chứng với
nhau, nhưng không phải là quan hệ đồng nhất, mà giữa chúng còn có mâu thuẫn biện
chứng-mâu thuẫn của các mặt đối lập trong một phương thức sản xuất. Đó là, mâu thuẫn
giữa yếu tố thuộc về nội dung với yếu tố thuộc về hình thức của một sự vật hiện tượng,
giữa cái thường xuyên vận động, biến đổi với cái ít vận động, biến đổi…Nhưng, để một
phương thức sản xuất nhất định và một nền sản xuất xã hội tồn tại và phát triển được, thì
quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, phải luôn đề ra mục tiêu, tiêu chí phù hợp cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Tất cả những vấn đế này đều mang tính khách quan và phổ biến ở mọi thời kỳ lịch sử xã
hội loài người. “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan
hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ – tức những quan hệ
sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực
lượng sản xuất vật chất của họ”. 12 Nếu xét biểu hiện mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất ở mặt xã hội, thì đó là mâu thuẫn giữa lực lượng tiến bộ và lực lượng bảo
thủ, trì trệ. Do vậy, mâu thuẫn về mặt kinh tế luôn được coi là cội nguồn, gốc rễ của mọi
mâu thuẫn xã hội, là một trong những động lực sâu xa của sự vận động và phát triển của xã
hội. Bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, chế độ xã hội nào muốn phát triển không thể không giải
quyết mâu thuẫn khách quan này. Theo Mác và Ăngghen: “Tất cả mọi xung đột trong lịch
sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” 13.
Việc giải quyết mâu thuẫn đó không nhất thiết phải đợi đến lúc nó diễn ra gay gắt, mà phải
là giải quyết thường xuyên và kết hợp tốt với đột biến để kịp thời tạo ra sự nhảy vọt về
chất. Bởi vì, “ngoài ra, không cần thiết là mâu thuẫn đã phải đẩy đến cực độ ở trong một
nước, mới gây ra những xung đột ở trong nước ấy”. 14 Đặc biệt trong xã hội có giai cấp,
những mâu thuẫn này càng gay gắt, phức tạp; muốn giải quyết các mâu thuẫn đó không
mọi chế độ xã hội, mọi thời kỳ lịch sử.
Như vậy, Mác và Ăngghen đã phát hiện ra quy luật khách quan của sự phát triển sản
xuất vật chất, cũng có nghĩa là quy luật khách quan của toàn bộ lịch sử xã hội và đó chính
là quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, để vận dụng quy luật đó vào thực tiễn, để phát huy vai trò của mâu thuẫn
biện chứng đó vào phát triển xã hội, đòi hỏi giai cấp lãnh đạo (giai cấp thống trị) phải có
nhận thức đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất, có các biện pháp, chính sách, chiến lược… phù hợp; tránh chủ quan, nóng vội, duy ý
chí làm cho quan hệ sản xuất không theo kịp hoặc vượt trước sự phát triển của lực lượng
sản xuất, tất cả những hành vi đó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm trì
trệ sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Mặt khác, nếu ta hiểu lực lượng sản xuất như một
yếu tố biểu hiện về mặt trình độ, sức sản xuất xã hội, thì quan hệ sản xuất biểu hiện về mặt
bản chất chế độ xã hội, do vậy khi nhìn vào các giai đoạn phát triển của xã hội, khi đánh
giá các thời đại lịch sử, cũng như xây dựng và phát triển đất nước chúng ta phải thấy rõ cả
hai vấn đề này.
Ba là, Về kết cấu của xã hội
16
C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H.1995, tr.15.
11
11
Trong “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ kết cấu khách quan, tất yếu
của xã hội, theo các ông đó chính là kết cấu được tạo nên bởi những yếu tố và những mối
liên hệ tất yếu, khách quan; trong đó nổi bật là mối liên hệ giữa “xã hội công dân”, cơ cấu
xã hội, nhà nước, pháp quyền và kiến trúc thượng tầng tư tưởng. “Khái niệm “xã hội công
. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.1995, tr. 42.
Sđd, tr.54.
Sđd, tr.54
12
12
Ngoài ra, trong tác phẩm này, Mác và Ăngghen đã sử dụng quan niệm duy vật về
lịch sử vào việc giải thích một cách đúng đắn về ý thức xã hội. Theo đó, nếu như “ ý thức
không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức” thì “chính con người khi
phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với
sự tồn tại hiện thực của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình”. “Sự sản xuất ra
những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với
hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con người”20. Trên cơ sở đó các ông đã nhấn
mạnh: “Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức”21.
Trên đây là những nội dung cơ bản của quan điểm duy vật về lịch sử với tư cách là
hệ thống lý luận trong “Hệ tư tưởng Đức”. Vì vậy, có thể nói, với Hệ tư tưởng Đức, Mác
và Ăngghen đã tạo nên một cuộc cách mạng trong triết học.
4. Ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh tư tưởng – lý luận hiện nay
Trước hết, cần khẳng định rằng, “Hệ tư tưởng Đức” là một tác phẩm triết học rất
quan trọng của Mác và Ăngghen, viết trong thời kỳ chủ nghĩa Mác đang trong giai đoạn
hình thành. Đây là tác phẩm chín muồi đầu tiên của chủ nghĩa Mác, có quy mô lớn nhất
trong quá trình hình thành triết học Mác, đánh dấu bước tiến mới của C.Mác, Ph.Ăngghen
trong việc phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như chủ
nghĩa cộng sản khoa học… Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản của thế giới quan
mới đẫ được trình bày khá hoàn chỉnh, dĩ nhiên là phù hợp với trình độ lúc bấy giờ. Mặc
dù trong tác phẩm này, các ông còn sử dụng hệ thống thuật ngữ cũ, nhưng các ông đã đưa
vào trong đó những nội dung mới; mặt khác, các ông cũng đã bổ sung những thuật ngữ
có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, và học thuyết đó sẽ đi vào phong trào công nhân
như là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh lịch
sử của mình.
Chỉ bằng việc các thế lực phản động và những kẻ thù của chủ nghĩa Mác tìm mọi
cách để ngăn cản việc xuất bản tác phẩm này, chúng ta cũng có thể thấy được vai trò và
ảnh hưởng to lớn của tác phẩm đối với đời sống xã hội đương thời. Và mặc dù tác phẩm
“Hệ tư tưởng Đức” cùng với quan niệm duy vật về lịch sử của Mác và Ăngghen được trình
bày trong tác phẩm đã ra đời cách đây hơn 160 năm, nhưng hiện nay những tư tưởng, quan
điểm cơ bản đó vẫn đúng, vẫn giữ nguyên giá trị. Song đồng thời, nó cũng là một trong
những trung tâm chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch và bọn cơ hội, xét lại.
Trong đó, các luận điểm xuyên tạc họ cho rằng triết học Mác chẳng có gì đặc biệt, đó
chẳng qua chỉ là “sự lắp ghép tinh vi”, là phép cộng giản đơn giữa phép biện chứng của
Hêghên và chủ nghĩa duy vật của Phoiơbăc; Mác và Ăngghen không có sáng tạo gì mới cả.
Những vấn đề triết học lịch sử – xã hội, hay là quan điểm duy vật lịch sử của Mác chỉ là sự
“gán ghép” một cách sống sượng chủ nghĩa duy vật vào lý giải các vấn đề xã hội mà thôi
và sự lý giải đó cũng chỉ là những quan điểm chủ quan của Mác và Ăngghen, v.v… Đứng
trên quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử – cụ thể và phát triển chúng ta thấy rằng, các
lý lẽ phản bác, xuyên tạc từ trước đến nay đều thiếu sức nặng, không mấy thuyết phục,
không vượt qua được những lập luận đanh thép mà Mác và Ăngghen đã nêu ra trong tác
phẩm. Hơn nữa, Mác và Ăngghen luôn nhấn mạnh rằng triết học các ông luôn là hệ thống
mở, cần tiếp nhận nó không phải như một tín điều hay những giáo lý mà phải với thái độ
phê phán khoa học, nó cần không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện; triết học
14
14
của các ông chỉ là kim chỉ nam cho nhận thức và hành động, nó cần phải vận dụng một
cách sáng tạo trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Ăngghen viết: “Lý luận của chúng
H.1999, t 36, tr 785.
15
15
học – công nghệ…Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định, nước
ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước; đại hội chỉ rõ vấn đề phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng
quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa: “Nếu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp”. 24 Như vậy,
Đảng ta xác định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là quá trình gắn liền
với sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà còn là điều kiện để phát triển lực lượng sản
xuất đó, và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là để tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất. Kế thừa tư tưởng đổi mới của các kỳ đại hội trước, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định
hướng xã hội chủ nghĩa”.25
Tóm lại, “Hệ tư tưởng Đức” là một tác phẩm luận chiến có giá trị to lớn về nhiều
mặt mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã dày công xây dựng để sáng tạo ra những tư tưởng không
chỉ có ý nghĩa trong thời đại của các ông, mà còn cho cả các thế hệ giai cấp vô sản và nhân
loại tiến bộ sau này. Thông qua tác phẩm này, chúng ta càng có thêm cơ sở lý luận khoa
học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đồng thời, trang bị cho
chúng ta phương pháp tiếp cận các vấn đề xã hội, đó là phải đi từ sản xuất vật chất, từ đời
sống hiện thực phong phú, sinh động; trang bị cho chúng ta một thế giới quan mới - thế
giới quan duy vật biện chứng trong xem xét và cải tạo thế giới.