LUẬN án TIẾN sĩ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ HÀNG NÔNG sản của VIỆT NAM TRONG bối CẢNH hội NHẬP AFTA - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam cho đến nay về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với
hơn 80% dân số và 70% lực lượng lao động của cả nước sinh sống bằng nghề
nông. Sự phát triển của ngành sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển của cả nền kinh tế, tới an ninh lương thực quốc gia và sự ổn định
chính trị - xã hội của Việt Nam.
Trong quá trình chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản
lý điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), ngành
sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác ở Việt Nam đã thu
được những thành tựu khá ngoạn mục. Từ một nước thiếu lương thực thường
xuyên, Việt Nam chẳng những đã đảm bảo được an ninh lương thực quốc gia
mà còn trở thành một nước có số lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai thế giới.
Ngành sản xuất nông nghiệp đã đáp ứng được đầy đủ nhu cầu trong nước và
cung cấp nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ra nước ngoài với số lượng ngày
càng tăng, thu về một lượng ngoại tệ không nhỏ, phục vụ cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Tuy nhiên, nền sản xuất nông sản hàng hóa của Việt Nam hiện nay
vẫn còn đang ở trình độ thấp và phát triển thiếu ổn định. Lượng nông sản
hàng hóa tuy chưa nhiều và chưa đa dạng nhưng hiện tượng ứ đọng sản phẩm,
ách tắc trong khâu lưu thông thường xuyên diễn ra; giá cả hàng nông sản lên
xuống thất thường. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và đời
sống của hàng chục triệu hộ nông dân, tới sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp và tới cả nền kinh tế. Do vậy, vấn đề giải quyết "đầu ra" cho các nông
sản hàng hóa là vấn đề cấp bách, được bàn thảo thường xuyên tại các cuộc
họp, hội nghị của Đảng và Chính phủ. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập



3

Các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu về sự bất cập giữa khả năng
sản xuất, cung ứng hàng nông sản với việc tiêu thụ hàng nông sản ở thị trường
trong nước cũng như ở ngoài nước. Từ đó kiến nghị các biện pháp vừa đẩy
mạnh sản xuất hàng nông sản, vừa đổi mới cơ chế, chính sách đẩy mạnh lưu
thông, tiêu thụ hàng nông sản.
b) Các công trình khoa học nghiên cứu về sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế:
- Lê Xuân Đình: Nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc
tế, Tạp chí Cộng sản, số 11, 6/2000.
- Lương Văn Tự - Thứ trưởng Bộ Thương mại: Nông nghiệp Việt Nam
trước thách thức của hội nhập kinh tế, Tạp chí Cộng sản, số 11, 6/2001.
- PGS.TS Vũ Trọng Khải: Lợi thế và các bất lợi thế của nông sản Việt
Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, số 6/2001.
- TS. Phạm Văn Linh: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với việc đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta giai
đoạn 2001-2010, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 5/2002.
- Nguyễn Văn Nam: Ảnh hưởng của AFTA, WTO đến sản xuất và xuất
khẩu gạo của Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 6, 1999.
- Nguyễn Thanh Vân: Thương mại thế giới và xuất khẩu nông sản của
Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 1, 2001.
- TS. Bùi Thị Lý: Chính sách trợ cấp nông sản của các nước phát triển
và những tác động tới thương mại hàng nông sản của các nước đang phát
triển, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 9, 2004. Phân tích những rào
cản do trợ cấp ở các nước phát triển trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ
nông sản của các nước đang phát triển.
- Trần Mạnh Tảo: Các vòng đàm phán Uragoay về nông nghiệp và tác
động thực tiễn của chúng, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2, 2003.

5.02.05, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.


5

- Trung tâm thông tin thương mại: Một số vấn đề về sản xuất - mậu
dịch nông sản trên thế giới, 1993.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Sản xuất và thị trường một
số nông sản chủ yếu trên thế giới, Thông tin chuyên đề, số 2/1996 và số 2/1997.
- Kim Quốc Chính, Dự báo khả năng xuất khẩu gạo của Việt Nam
thời kỳ 2001 - 2010, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 1, 2001.
- Nguyễn Sinh Cúc: Sản xuất và xuất khẩu cà phê. Thực trạng và giải
pháp, Tạp chí Con số và sự kiện, số 8, 2002.
- Thái Sơn: Xuất khẩu cao su - những dấu hiệu khả quan, Báo Quốc
tế, số ra ngày 11 - 17/4/2002.
- Trần Đức Vui: Định hướng xuất khẩu chè của Việt Nam đến 2010,
Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 5(46), 2003,
- Hoàng Thịnh Lâm: Để phát triển tiêu thụ rau quả, Tạp chí Thương
mại, số 17, 2004.
Các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu về chiến lược cũng như về
các biện pháp tiêu thụ đối với từng mặt hàng như: lúa gạo, cà phê, cao su, dầu
dừa, hồ tiêu...
d) Các công trình khoa học nghiên cứu về sự hội nhập kinh tế quốc tế,
trong đó có sự hội nhập vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA của nước
ta:
- GS.TS Nguyễn Đình Hương, GS.TS Vũ Đình Bách: Quan hệ
thương mại Việt Nam - ASEAN và chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt
Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
- TS. Hoàng Xuân Thọ (Chủ nhiệm đề tài): Ảnh hưởng của việc gia

có công trình nào nghiên cứu riêng về thị trường tiêu thụ hàng nông sản trong
bối cảnh hội nhập AFTA dưới góc độ kinh tế chính trị. Vì vậy, đây là đề tài


7

độc lập, không trùng tên và nội dung với các công trình khoa học đã công bố
ở trong và ngoài nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích của luận án
Trên cơ sở hệ thống hóa và khái quát những vấn đề lý luận về thị
trường; chỉ rõ những đặc điểm và yếu tố tác động đến TTTTNS; đặc biệt là
những tác động của quá trình hội nhập AFTA đến thị trường này của Việt
Nam, luận án có mục đích đề xuất các giải pháp để mở rộng và phát triển
TTTTNS của Việt Nam nhằm ổn định sản xuất và kinh doanh hàng nông sản
trong bối cảnh hội nhập AFTA hiện nay.
* Nhiệm vụ của luận án
- Nghiên cứu làm rõ đặc điểm của TTTTNS của Việt Nam và những
tác động ảnh hưởng của quá trình hội nhập AFTA đến thị trường này.
- Phân tích thực trạng TTTTNS của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
AFTA và những vấn đề đang đặt ra cho thị trường này trong tiến trình hội
nhập AFTA hiện nay.
- Trên cơ sở phân tích những vấn đề nói trên, luận án đưa ra một số
quan điểm cơ bản và giải pháp để mở rộng và phát triển TTTTNS của Việt
Nam trong tiến trình hội nhập sâu hơn vào AFTA.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu thị trường tiêu thụ một số hàng nông sản
chủ yếu của ngành trồng trọt (lúa gạo, cây công nghiệp, rau quả...) từ khi Việt
Nam bắt đầu thực hiện lộ trình cắt giảm thuế theo CEPT/AFTA tức là từ năm
1996 đến nay.

9

Chương 1
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ HÀNG NÔNG SẢN
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP AFTA ĐẾN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ HÀNG NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM

1.1. ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ HÀNG NÔNG SẢN

1.1.1. Đặc điểm của thị trường tiêu thụ hàng nông sản
1.1.1.1. Khái niệm về thị trường và thị trường tiêu thụ hàng nông sản
Thị trường là yếu tố không thể thiếu được của nền sản xuất hàng hóa.
Sự xuất hiện và phát triển của thị trường không phải là ngẫu nhiên mà là kết
quả tất yếu của sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Trong xã hội nguyên thủy, vì trình độ sức sản xuất quá thấp, phân
công lao động chưa hình thành, sản phẩm lao động làm ra rất hạn chế, nên
không thể có sản phẩm dư thừa để trao đổi, do đó không có cơ sở vật chất để
hình thành thị trường. Với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công
lao động xã hội, sản phẩm lao động đã có dư thừa, việc trao đổi hàng hóa bắt
đầu xuất hiện, thị trường cũng theo đà đó mà hình thành. Chợ là hình thái thị
trường sớm nhất được hình thành.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động
xã hội, sản xuất và quan hệ trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường
cũng được phát triển toàn diện, trở thành khâu then chốt của hoạt động kinh tế
của con người, nối liền toàn bộ quá trình tái sản xuất, từ sản xuất đến tiêu dùng.
Cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển thị trường
chính là sự phân công lao động xã hội. Trong tác phẩm Bàn về cái gọi là thị
trường, V.I. Lênin đã chỉ rõ rằng: "Khái niệm thị trường hoàn toàn không tách


trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt


11

hàng nào, các quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất thế nào,
các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai, đều được
dung hòa bởi sự điều chỉnh giá" [48, tr. 11]. Thực ra, định nghĩa này chỉ là
khái quát các biểu hiện bên ngoài của các quá trình kinh tế chứ không vạch ra
được bản chất bên trong của các quá trình đó. Như C. Mác đã viết: "Thị
trường nghĩa là lĩnh vực trao đổi" [60, tr. 876], là nơi diễn ra sự tác động lẫn
nhau giữa người sản xuất và người tiêu dùng (bao gồm tiêu dùng cho sản xuất
và tiêu dùng cho cá nhân); hay có thể nói, thị trường giống như người môi
giới đóng vai trò trung gian, thu xếp điều hòa nhu cầu của người tiêu dùng và
sự hạn chế về kỹ thuật trong tay người sản xuất. Như vậy, thị trường là tổng
thể các yếu tố và điều kiện để thực hiện hàng hóa; các yếu tố và điều kiện này
liên hệ, tác động lẫn nhau theo những quy luật khách quan, phản ánh các
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Trên thị trường người bán là người sở hữu hàng hóa. Mục đích của họ
đến thị trường là để bán hàng. Vì vậy, đối với họ thị trường là tổng hợp những
điều kiện, yếu tố, môi trường để thực hiện giá trị của hàng hóa, nhằm thu về
chi phí sản xuất và lợi nhuận dưới hình thái tiền, để bảo tồn và tái sản xuất mở
rộng. Còn người mua là người có tiền, họ đến thị trường với mục đích mua
sắm hàng hóa để tiêu dùng. Đối với họ, thị trường là tổng hợp những điều
kiện, yếu tố, môi trường giúp họ có thể tìm thấy và thỏa mãn các nhu cầu mua
sắm hàng hóa dịch vụ cho tiêu dùng, phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Như vậy, thông qua thị trường cả người mua và người bán đều tìm thấy lợi
ích của mình ở việc thỏa mãn nhu cầu của phía bên kia. Chính điều quan
trọng ấy đã dẫn dắt họ gặp nhau và thực hiện được các quan hệ kinh tế, điều
hòa hợp lý các quan hệ lợi ích giữa họ với nhau. Mọi hoạt động của thị trường

người tiêu dùng giảm bớt nhu cầu về hàng hóa đó. Khi giá cả hạ xuống, nói
chung người sản xuất sẽ giảm bớt sản xuất mặt hàng này, còn nhu cầu của
người tiêu dùng về mặt hàng này sẽ tăng lên. Thông qua quá trình này, giá cả
điều tiết qui mô sản xuất của xí nghiệp, điều tiết sự phân bố tài nguyên giữa
các ngành và sự cân bằng cung - cầu của xã hội. Sự lên xuống của giá cả


13

giống như "bàn tay vô hình" điều tiết lợi ích của mọi người, chỉ huy hành
động của người sản xuất và tác động tới tâm tư của người tiêu dùng. Nhưng
giá cả chỉ có thể phát huy được tính điều tiết trên với tiền đề là có đủ tính đàn
hồi và thị trường có đầy đủ tính cạnh tranh, nếu không thì sự "điều tiết" của
giá cả thông qua quan hệ cung - cầu sẽ bị tổn hại. Ví dụ, dưới cơ chế tập trung
bao cấp trước đây, thể chế quản lý giá cứng nhắc, trong suốt thời kỳ dài giá cả
không hề thay đổi, thì giá cả ấy đã không phản ánh được giá trị của hàng hóa,
không phản ánh được quan hệ cung - cầu trên thị trường; và do đó đã mất đi
các chức năng cần có của giá cả. Tóm lại, tín hiệu của cơ chế thị trường là giá
cả thị trường. Sự biến động của giá phụ thuộc trước hết vào giá trị thị trường
của hàng hóa, giá trị (hay sức mua) của tiền và thông qua quan hệ cung - cầu,
cạnh tranh trên thị trường.
Việc thực hiện các hành vi mua bán hàng hóa trên thị trường đòi hỏi
phải có những phương tiện vật chất nhất định như: cửa hàng, kho tàng,
phương tiện vận chuyển, phương tiện đo lường, đường sá, thông tin, các dịch
vụ thanh toán, quảng cáo... Các điều kiện và phương tiện trên đây phục vụ
trực tiếp quá trình lưu thông và mua bán hàng hóa. Do đó mức độ hoàn hảo
hay không hoàn hảo của nó có ảnh hưởng lớn tới thời gian và quá trình mua
bán, đến nhịp độ hoạt động của thị trường. Thời gian và không gian để tiến
hành thuận lợi và có hiệu quả các hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ đều là
những điều kiện quan trọng đối với thị trường. Các yếu tố thuộc về môi

Khi nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp thương phẩm, tức
là các sản phẩm của nông nghiệp được sản xuất ra để mua bán trao đổi trên thị
trường, thì TTTTNS cũng xuất hiện.
TTTTNS là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán những sản
phẩm do các ngành nông nghiệp sản xuất ra, như sản phẩm của các ngành
chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng hải thủy sản, lâm nghiệp và các sản phẩm chế
biến từ các nguyên liệu của các ngành trên. Ở đây các yếu tố, các điều kiện,
các phương tiện và môi trường để thực hiện giá trị hàng nông sản cũng giống
như các thị trường hàng hóa thông thường khác.


15

Tuy nhiên, do sản xuất nông nghiệp và các nông phẩm có những tính
chất và đặc điểm khác biệt so với các ngành sản xuất khác nên thị trường tiêu
thụ nông sản cũng có một số những nét đặc trưng riêng.
1.1.1.2. Đặc điểm của thị trường tiêu thụ hàng nông sản
Đối tượng của TTTTNS chính là các nông sản hàng hóa. Tính chất khác
biệt của hàng nông sản làm cho thị trường nông sản có một số đặc điểm riêng.
* Hàng nông sản mang tính thời vụ và tính khu vực (vùng miền)
Ngành sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự
nhiên như đất đai, khí hậu, vị trí địa lí... Quy mô, sản lượng của các ngành sản
xuất nông nghiệp như trồng trọt luôn bị chi phối bởi giới hạn về đất đai, thời
tiết, sâu - dịch bệnh... Nông sản từ cây trồng lại có quy luật sinh trưởng và
phát triển tự nhiên, không giống như các sản phẩm công nghiệp. Ngay trong
cùng một loại cây, con, các giống khác nhau cũng có quy luật sinh trưởng
không giống nhau. Do đó quá trình tái sản xuất các nông sản luôn gắn liền và
phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng theo quy luật tự nhiên của cây trồng.
Phần lớn các nông sản được thu hoạch theo mùa - vụ, tập trung vào một số
thời gian nhất định trong năm. Tính chất tươi sống của đa số các loại nông sản


Giá cả hàng nông sản có tính không ổn định

Cũng như giá các loại hàng hóa khác, giá hàng nông sản được hình
thành trên cơ sở giá trị thị trường với sự tác động ảnh hưởng của quan hệ
cung - cầu. Tuy nhiên do tính chất thời vụ của nông sản, giá cả hàng nông sản
thường dao động nhiều hơn so với hàng công nghiệp. Đầu mùa vụ khi lượng
nông sản trên thị trường còn ít, giá nông sản có thể rất cao, đến chính vụ, do
nông sản nhiều, giá xuống rất thấp, nhiều khi thấp hơn cả chi phí sản xuất,
đến cuối vụ giá lại lên do lượng cung giảm dần. Thông thường giá ở chính vụ
bằng khoảng 50- 60% giá đầu vụ và bằng 55-65% so với giá cuối vụ [33, tr. 8].
Giá nông sản vào mùa nghịch còn có thể cao gấp 4-6 lần so với chính mùa.
Trong cơ chế thị trường sự biến động của giá cả luôn tác động làm
thay đổi quan hệ cung - cầu về hàng hóa theo xu hướng là cân bằng cung cầu. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng biệt của sản xuất nông nghiệp và
hàng nông sản nên tác động của giá nông sản đến quan hệ cung - cầu về nông


17

sản cũng có những nét đặc thù riêng.


Về cung - cầu và độ co giãn cung - cầu của hàng nông sản.

Cung về nông sản là khối lượng hàng nông sản mà những người sản
xuất kinh doanh bán ra thị trường ở một thời điểm nhất định. Do sản xuất
nông nghiệp mang tính mùa vụ và tính vùng rõ rệt nên cung về hàng nông sản
trên thị trường cũng mang tính mùa vụ và tính vùng. Trong khi đó, nhu cầu
tiêu dùng nông sản lại rải đều suốt năm và ở tất cả các vùng trong cả nước.
Điều đó gây ra tình trạng khối lượng nông sản cung ứng ra thị trường không

tăng năng suất. Nhưng ngay cả trong dài hạn, khả năng cung ứng hàng nông
sản vẫn bị hạn chế vì quỹ đất đai có hạn. Như vậy có thể thấy, sức cung của
hàng nông sản thấp hơn nhiều so với hàng công nghiệp, kể cả trong ngắn hạn
và trong dài hạn.
Cũng như cung về hàng nông sản, độ co giãn của cầu về nông sản
cũng có điểm khác biệt so với cầu hàng công nghiệp. Cầu về nông sản là khối
lượng hàng nông sản mà người tiêu dùng cần mua và có thể mua được với
một giá nhất định vào một thời điểm nhất định trên thị trường. Nhu cầu về
nông sản rất đa dạng: nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nhu
cầu tiêu dùng cho cá nhân, nhu cầu cho xuất khẩu ...
Trong các mặt hàng nông sản, lương thực thực phẩm là mặt hàng đáp
ứng nhu cầu cơ bản thiết yếu cho đời sống con người. Nhu cầu của từng
người về mặt hàng này tùy thuộc vào đòi hỏi sinh lý nhất định, vào thể trạng
của mỗi người. Dù giá nông sản có lên thật cao, vì sự sống, nhu cầu về lương
thực thực phẩm cũng không thể cắt giảm đáng kể. Điều này khác với nhu cầu
về các hàng công nghiệp: khi giá cả tăng cao người tiêu dùng có thể cắt giảm
đáng kể nhu cầu về các mặt hàng này.
Khi giá cả hàng nông sản xuống thấp, nhu cầu về nông sản cũng
không thể tăng đáng kể vì khả năng tiêu thụ có hạn của từng người.
Đối với các mặt hàng nông sản là nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến, độ co giãn của cầu có lớn hơn nhóm hàng lương thực thực phẩm. Tuy


19

nhiên nó cũng bị hạn chế bởi tính chất tươi sống khó bảo quản của hàng nông
sản và bị giới hạn bởi công suất máy móc chế biến. Nói chung độ co giãn của
cung - cầu hàng nông sản thấp hơn độ co giãn của cung - cầu hàng công
nghiệp. Vì thế giá cả hàng nông sản trồi sụt rất nhiều, nhất là trong ngắn hạn,
so với hàng công nghiệp. Nếu để thị trường tự do điều tiết, không có sự can

người tiêu dùng bị thiệt. Trong thương mại quốc tế, nếu Chính phủ cho nhập
nông sản hỗ trợ tiêu dùng thì nông dân nước đó bị thiệt.
Đối với những nông sản xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường quốc tế
có ảnh hưởng lớn đến thị trường nội địa. Những thay đổi về giá cả ở thị
trường nội địa thường là kết quả của sự biến động giá ở thị trường quốc tế.
Về mặt kinh tế, những đặc điểm của thị trường nông sản đặt ra một số
vấn đề cần giải quyết để cho thị trường vận động một cách bình thường như:
- Do nhu cầu về nông sản là một đòi hỏi của dân cư tất cả các vùng, nhất
là lương thực thực phẩm nên việc phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao
thông vận tải có ý nghĩa rất lớn đối với việc lưu thông hàng hóa ở khắp các
vùng.
- Do độ co giãn của cung - cầu nông sản có những đặc điểm riêng của
nó nên việc dự trữ thương mại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo
vệ lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng.
- Việc đáp ứng nhu cầu khách hàng ở tất cả các vùng về nông sản đòi
hỏi chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì hàng hóa mới đến được vùng cao, các
vùng sâu, vùng xa, vì chi phí lưu thông để đưa hàng đến các vùng này rất cao,
có lúc gấp nhiều lần giá trị của hàng hóa, trong lúc khả năng thanh toán của
dân cư ở những vùng này lại rất hạn hẹp.
- Do hàng nông sản được sản xuất ở rất nhiều vùng khác nhau, tính
chất của sản phẩm là hàng tươi sống, khó bảo quản, nên sự phát triển công
nghiệp chế biến và việc liên kết nông nghiệp với công nghiệp và thương mại
dịch vụ trên từng địa bàn, hình thành những tổ hợp nông công thương mại
dịch vụ trên từng vùng là một đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển
nông nghiệp hàng hóa.
1.1.2. Những nhân tố tác động đến việc mở rộng và phát triển thị
trường tiêu thụ hàng nông sản


21


22

v.v...
Sự chuyên môn hóa sản xuất trong nông nghiệp sẽ làm cho năng suất
lao động tăng lên, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ hơn, sản phẩm được
sản xuất ra nhiều hơn, chất lượng sản phẩm được nâng cao hơn do có điều
kiện ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới và do đó qui mô trao đổi tức
thị trường cũng phát triển. Mặt khác, do sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh
hưởng lớn từ sự tác động của các điều kiện tự nhiên như đất đai, thời tiết, sâu
bệnh... nên việc chuyên môn hóa sản xuất còn tạo điều kiện cho nông dân đúc
kết kinh nghiệm đối phó với những thất thường của thời tiết cũng như dịch bệnh,
kinh nghiệm chăm sóc cây trồng vật nuôi, hạn chế được những tổn thất do
thiên tai dịch bệnh gây ra, góp phần làm tăng năng suất lao động và sản lượng
nông sản, góp phần tăng cung cho thị trường mà không cần phải đầu tư thêm.
Thứ hai: Cơ cấu các ngành sản xuất nông nghiệp.
Vấn đề có tính chất quyết định cho việc phát triển sản xuất nông sản
hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, tạo được thế cạnh tranh, đứng
vững trên thị trường trong nước và quốc tế - đó là phải có một cơ cấu sản xuất
nông sản thích ứng với nhu cầu của thị trường, có khả năng khai thác tối đa
các tiềm năng nguồn lực, thế mạnh đặc thù của từng vùng, từng địa phương
(về đất đai, khí hậu, giao thông...) để sản xuất ra các loại nông phẩm phù hợp
với nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất. Đặc biệt trong điều kiện lưu
thông hàng hóa phát triển như hiện nay và sự "mở cửa" hội nhập với nền kinh
tế thế giới, một cơ cấu sản xuất nông sản không chỉ đòi hỏi phải phù hợp với
nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước mà còn phải phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng đối với từng loại nông sản. Miền Đông Nam Bộ có rất
nhiều khu công nghiệp lớn tập trung, với dân số đô thị chiếm 75-80% dân số
trong toàn vùng, nhu cầu về lương thực thực phẩm là rất lớn. Tuy nhiên vùng
này chỉ có thế mạnh về các loại cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày và

thể cạnh tranh với các nông sản ngoại nhập trong thời đại "mở cửa" hiện nay,


24

chứ chưa nói gì đến việc mở rộng thị trường ra nước ngoài. Có thể thấy rõ
điều đó trên thị trường trái cây ở nước ta trong những năm vừa qua. Giá thành
sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh
tranh của hàng nông sản, tới khả năng mở rộng thị trường trong điều kiện tự
do hóa thương mại. Cùng một chủng loại sản phẩm, nếu doanh nghiệp nào có
giá thành sản xuất rẻ hơn sẽ có ưu thế hơn trên thị trường. Hiện nay, ưu thế
cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới
chủ yếu là về giá do sử dụng nguồn lao động rẻ và các lợi thế về đất đai, khí
hậu, vị trí địa lý. Tuy nhiên, lợi thế này sẽ mất đi nếu Việt Nam không chú
trọng đến việc áp dụng khoa học - công nghệ để nâng cao năng suất, chất
lượng và đa dạng hóa sản phẩm; nếu không tập trung đầu tư cho khâu bảo
quản và chế biến sau thu hoạch thì phần giá trị gia tăng mà Việt Nam thu được
từ các sản phẩm xuất khẩu sẽ chẳng đáng kể và TTTTNS Việt Nam khó có thể
phát triển bền vững.
Thứ tư: Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản.
Sản xuất nông sản hàng hóa không thể phát triển nếu thiếu ngành công
nghiệp chế biến nông sản. Thu hoạch theo mùa vụ, hàng nông sản nhất là
hàng nông sản thực phẩm có giá trị sử dụng rất ngắn ngày nếu không được
bảo quản, chế biến. Vì vậy hàng nông sản cần phải được tiêu thụ hết trong
một thời gian nếu không sẽ mất giá trị sử dụng và gây thiệt hại cho người sản
xuất. Một khối lượng nông sản lớn không thể dễ dàng tiêu thụ hết trong một
thời hạn nhất định khi nhu cầu về nông sản (nhất là nông sản thực phẩm) của
dân cư là có giới hạn. Chỉ có công nghiệp chế biến nông sản mới có thể bảo
quản, dự trữ, chế biến thành nhiều sản phẩm đa dạng khác và do đó mới có
thể tiêu thụ hết nông sản cho nông dân trong điều kiện sản xuất mang tính

định trong thời gian vừa qua làm cho thu nhập của nông dân không ổn định,
làm giảm sức mua của khu vực nông thôn. Sức mua thấp là một trong những
nguyên nhân làm cho thị trường chậm phát triển, nhất là ở những vùng sâu,
vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ. Mức thu nhập thấp, sức mua thấp và do
đó mức tiêu thụ thấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc kích thích sản xuất nông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status