Trang 1
Trang 2
Hội đồng Vàng Thế giới (2005) tuyên bố vàng là một hàng rào hiệu quả chống
CHƯƠNG 1:
CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ
lạm phát, có tương quan nghịch với đồng đô la Mỹ và do đó là tiền tệ trú ẩn
VÀNG VÀ LẠM PHÁT
chống lại lạm phát tốt. Nếu vàng là hàng rào hoàn hảo trong nội bộ một quốc gia
1.1 Vàng là dấu hiệu chỉ báo và bảo hiểm chống lại lạm phát.
thì giá vàng tính theo đồng tiền trong nước đó nên tăng ở mức tương tự như chỉ
Nghiên cứu này cố gắng điều tra xem liệu vàng hay dầu là chỉ báo tốt hơn về
số giá trong nước. Nếu vàng là hàng rào hoàn hảo bên ngoài một quốc gia thì giá
lạm phát và cố gắng tìm ra giữa vàng và dầu, đâu là nhân tố cung cấp hàng rào
vàng tính theo đồng tiền nước đó nên tăng cùng một tỷ lệ tương tự như tỷ giá
chống lại lạm phát tốt hơn ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các mối quan hệ lâu dài giữa giá dầu,
của nước đó. Vàng được coi là một hàng rào chống lại lạm phát nếu những thay
Mỹ và kết luận rằng giá vàng và chỉ số giá bán buôn có quan hệ tương ứng chặt
là không có mối quan hệ lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá vàng, giá dầu.
chẽ từ năm 1888 đến năm 1992. Tuy nhiên giá vàng được tìm thấy biến động
Sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1971, các nhà đầu tư bắt đầu
hơn so với chỉ số giá bán buôn trong ngắn hạn. Garner (1995) kiểm tra các tín
tìm kiếm các loại tiền tệ làm "nơi trú ẩn an toàn". Tuy nhiên các loại tiền tệ an
hiệu bước ngoặt của giá vàng trong giai đoạn 1960-1995 tại Hoa Kỳ để xem giá
toàn nhất lại có liên quan đến nguy cơ kinh tế và chính trị. Vào thời điểm đó đầu
vàng có phải là chỉ báo tốt về lạm phát. Mahdavi và Zhou (1997) so sánh giá
tư vàng hóa ra là một cách để tự bảo hiểm rủi ro. Vàng đóng vai trò tiền tệ trong
vàng và giá hàng hóa, đâu là chỉ số lạm phát hàng đầu bằng cách áp dụng
nhiều thế kỷ và không bao giờ được sử dụng trong quá trình sản xuất do đó nó
phương pháp đồng liên kết qua các thời kỳ 1958:Q1-1994:Q4 và 1970:Q1-
đã giữ sức mua của nó về lâu dài (Jastram, 1977). Vàng khác với các tài sản
1994:Q4. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá vàng có thể là chỉ báo lạm phát tốt
đồng liên kết. Ranson và Wainright (2005) áp dụng phương pháp bình phương
thể được sử dụng để dự đoán giá thị trường vàng, vì vậy hai thị trường này đều
bé nhất (OLS) để xem liệu dầu hay giá vàng là chỉ báo tốt hơn về lạm phát và lãi
cùng không hiệu quả.
suất không dự kiến trước được. Nghiên cứu kết luận rằng giá vàng tốt hơn so với
Các tài liệu về thị trường vàng, bao gồm cả thị trường vàng giao sau, đã bao phủ
giá dầu trong vai trò là yếu tố dự báo lạm phát năm tới.
một số lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Ball và đồng sự (1985) kiểm tra các hành
Dữ liệu sử dụng trong phân tích được lấy từ tháng 01/1996 đến tháng 02/2008
vi giá hội tụ trên thị trường vàng giao sau và họ đã tìm thấy sự tồn tại của hội tụ
với 146 quan sát. Dữ liệu bao gồm các quan sát hàng tháng của giá vàng, giá dầu
giá. Bertus và Stanhouse (2001) tìm kiếm bong bóng giá trong giá vàng tương
và tỷ lệ lạm phát dựa trên chỉ số giá tiêu dùng thu được từ Istanbul Gold
lai và sử dụng phân tích nhân tố năng động, đã không thể tìm thấy chứng cứ của
Exchange, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và Reuters.
với giá dầu. Các khả năng bảo hiểm rủi ro lạm phát của vàng và dầu phụ thuộc
hệ đồng liên kết giữa giá vàng và bạc giao sau. Bailey (1998) nghiên cứu tác
vào sự tồn tại của một mối quan hệ ổn định lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá
động của cung tiền đối với sự bất ổn của thị trường vàng và thấy rằng sự biến
vàng, giá dầu. Tuy nhiên, kiểm định đồng liên kết khẳng định rằng giá vàng và
động của vàng gia tăng khi tốc độ tăng trưởng của cung tiền cao hơn mong đợi.
CPI cũng như giá dầu và CPI không có quan hệ đồng liên kết, có nghĩa là không
Cùng mạch suy nghĩ, Christie – David và đồng sự (2000) phân tích tác động của
có mối quan hệ lâu dài giữa tỷ lệ lạm phát và giá vàng, giá dầu.
các tin tức vĩ mô phát ra đối với giá vàng và giá bạc, và họ thấy rằng giá vàng
1.2 Lạm phát gây nên sự tăng giá của vàng.
phản ứng khá mạnh đối với tin CPI.
Điểm mới của bài nghiên cứu này là tiến hành phân tích về mối quan hệ đồng
Thị trường vàng đã có sự tăng giá khá vững chắc trong suốt thập kỷ qua. Điển
liên kết và đồng bộ hoá giữa thị trường vàng và dầu giao ngay cũng như giao
Đồ thị 1.1: Tốc độ tăng của giá vàng, giá dầu và tỷ lệ lạm phát của Mỹ trong giai
kênh lạm phát. Khi giá dầu tăng cao thì mức giá chung cũng tăng (xem thêm
đoạn 1963-2008
Hunt, 2006; Hooker, 2002). Khi mức giá chung (hay lạm phát) tăng, giá vàng
cũng tăng do vàng cũng là một loại hàng hoá. Điều này mở ra khả năng là vàng
có thể được sử dụng để chống lại lạm phát (xem thêm Jaffe, 1989). Melvin và
Sultan (1990) cho rằng có một kênh khác để thiết lập mối quan hệ giữa thị
trường vàng và dầu. Luận điểm chính của họ là giá dầu tác động tới giá vàng
thông qua kênh doanh thu xuất khẩu. Về cơ bản vàng là một phần của kênh đầu
tư dự trữ quốc tế của một vài quốc gia bao gồm cả các quốc gia xuất khẩu dầu,
họ lập luận rằng nếu có một cú sốc dẫn tới mong đợi việc mua vàng thì dự kiến
trong tương lai giá vàng sẽ tăng lên. Khi giá dầu tăng, những nhà xuất khẩu dầu
thu lợi từ việc dầu tăng, Melvin và Sultan (1990) lập luận rằng điều này sẽ có
thể tác động đến giá vàng, miễn là vàng bao gồm một phần quan trọng trong
danh mục đầu tư tài sản của những nhà xuất khẩu dầu (liên quan đến các quốc
gia khác) và họ sẽ mua vàng tương ứng với sự giàu có của mình. Điều này sẽ
dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về vàng và vàng sẽ tăng giá. Do đó giá dầu tăng cao
kéo theo sự tăng giá của vàng.
Bài nghiên cứu đưa ra ba giả thuyết:
Các quan sát chính là tốc độ tăng trưởng của giá dầu và giá vàng giao ngay di
Giả thuyết 1: sự tăng giá của dầu gây ra lạm phát
chuyển rất chặt chẽ với nhau, trong khi lạm phát ổn định mà không có sự chênh
Giả thuyết 2: ggoldt = β0 + β1πt + µt
được xuất bản bởi quỹ tiền tệ quốc tế.
Giả thuyết 3: ggoldt = θ0 + θ1goilt + ωt
Trang 7
Trang 8
Trong đó π, goil, ggold là tốc độ tăng trưởng của CPI (lạm phát), bình quân giá
giao sau ở các kỳ hạn khác nhau. Các lý thuyết động lực cho mối quan hệ này
dầu, và giá vàng. Số dư của những mô hình này được xác định tương ứng là ε, µ,
bắt nguồn từ việc các nhà đầu tư sử dụng thị trường vàng để chống lại lạm phát.
và ω.
Sử dụng phương pháp đồng liên kết, nghiên cứu cho thấy thị trường vàng và thị
Kết quả của phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) tương ứng
trường dầu giao ngay cũng như là giao sau có sự liên kết chặt chẽ trong kỳ hạn
với ba giả thuyết như sau:
10 tháng. Phát hiện này hàm ý rằng các nhà đầu tư sử dụng thị trường vàng như
Một số chỉ số hàng đầu được theo dõi bởi các ngân hàng trung ương và các cơ
gia tăng lạm phát dẫn đến sự tăng giá của vàng, và (c) sự tăng giá của dầu làm
quan khác trong nền kinh tế để dự báo tỷ lệ lạm phát. Giá các tài sản tài chính
cho vàng tăng giá.
cũng được tìm thấy hữu ích đối với thuộc tính chỉ báo hàng đầu của lạm phát vì
Một vài nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ giữa giá vàng và các biến kinh tế vĩ
tỷ suất sinh lợi của chúng đã tính đến lạm phát kỳ vọng, nhưng sức mạnh dự
mô khác, ví dụ như lạm phát cũng được tìm thấy có ý nghĩa thống kê đáng kể và
đoán của các tài sản tài chính chỉ được tìm thấy trong một số giai đoạn và đối
có mối quan hệ cùng chiều với giá vàng. Một nghiên cứu khác của Jaffe (1989)
với một số nước nhất định, xem thêm khảo sát của Stock và Watson (2003).
nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận của vàng sử dụng số liệu
Trong số tài sản tài chính đó, có thể kế đến giá vàng. Trong thực tế, vàng thường
hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 9/1971 đến tháng 6/1987. Dựa trên phương
được phân tích với vai trò là hàng hoá, nhưng không giống các hàng hóa thông
nhiên, với sự đồng thuận chung đang nổi lên từ những nghiên cứu này cho thấy
Trang 9
rằng rất khó khăn để tìm một chỉ số hàng đầu cho lạm phát mà có thể thể hiện tốt
Trang 10
-
Giá vàng là một chỉ số thống kê đáng kể nhất đối với các nước OECD đã
bước ngẫu nhiên (random walk), nên việc xem xét giá vàng tại thời điểm này có
thông qua chính sách lạm phát mục tiêu. Cụ thể nếu giá vàng thế giới tăng
thể là một quyết định đáng giá.
10% thời gian này, tỷ lệ lạm phát tại Canada sẽ tăng 0,25% trong 12 tháng kế
Vàng là một tài sản đặc biệt, vì vàng vừa là một loại hàng hóa, ví dụ trong việc
tiếp. Tại New Zealand, quốc gia đầu tiên đã thực hiện chính sách lạm phát
sản xuất đồ trang sức và các thiết bị công nghiệp, vừa là tài sản tài chính, nơi nó
mục tiêu, 10% gia tăng của giá vàng thế giới sẽ dẫn đến một sự gia tăng
-
Đối với các nước ngoài nhóm OECD, vàng là dấu hiệu chính xác cho lạm
vàng, khiến giá vàng tăng cao, do đó, giá vàng càng cao là tín hiệu cho thấy tỷ lệ
phát tại Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Cụ thể
lạm phát cao hơn trong tương lai. Lưu ý rằng, đối với bất kỳ quốc gia cụ thể, tỷ
vàng tăng giá 10% sẽ kéo theo tỷ lệ lạm phát tại Trung Quốc tăng 1.2% trong
lệ lạm phát được tính bằng cách sử dụng giá trị đồng nội tệ. Vì là một nơi trú ẩn
12 tháng tiếp theo; tuy nhiên, chất lượng của các dự báo này có thể bị ảnh
chống lại lạm phát, các nhà đầu tư phải xem xét tỉ lệ lợi nhuận từ vàng thể hiện
hưởng bởi tỷ giá hối đoái của Trung Quốc, được cố định trong suốt phần lớn
bằng đơn vị đồng nội tệ. Bởi vì giá vàng được xác định tại các thị trường thế
của mẫu thời gian nghiên cứu.
giới và được định giá bằng USD, nên giá vàng trước hết phải được nhân bởi tỷ
Một so sánh sâu hơn của giá vàng với các chỉ số lạm phát khác cho Canada
giá hối đoái hiện hành trước khi tính toán tỷ suất sinh lợi của nó.
lạm phát đối với nhiều nước với khoảng thời gian lên đến hai năm. Kết quả
không rõ ràng. Những người ủng hộ lý thuyết hiệu ứng lạm phát kỳ vọng lập
nghiên cứu cho thấy:
luận rằng nếu lạm phát kỳ vọng tăng lên, các nhà đầu tư sẽ mua vàng để đầu cơ
Trang 11
trên sự tăng giá của vàng hoặc để chống lại sự mất giá của đồng tiền pháp định.
Trang 12
Cecchetti, Chu, và Steindel (2000) cho thấy rằng khi bao gồm vàng trong các chỉ
Dù bằng cách nào các áp lực mua vàng sẽ gây ra một sự gia tăng giá vàng ngay
số hàng đầu dự báo lạm phát thì kết quả kiểm định của mô hình có hệ số âm,
lập tức. Bài nghiên cứu này cũng xem xét tác động của lạm phát đến lãi suất và
nghĩa là giá vàng tăng cao hơn có liên quan đến lạm phát thấp hơn – hoàn toàn
chi phí của việc giữ vàng. Sự gia tăng trong lạm phát kỳ vọng sẽ làm giá vàng
ngược lại với giả thiết ban đầu.
tăng cao hơn, tuy nhiên nó cũng làm cho lãi suất tăng lên và vì vậy làm gia tăng
tài sản khác có liên quan đến vàng cung cấp cơ hội đa dạng hóa tốt hơn là đầu tư
cứu trước đó cho thấy rằng vàng và những tài sản khác liên quan đến vàng (như
vào cổ phiếu. Một cách mà nhà đầu tư thường đầu tư vào vàng là cố gắng tiên
các công ty khai thác vàng và các quỹ tương hỗ) hoặc là không có tương quan
đoán những thay đổi trong lạm phát kỳ vọng và sau đó mua vàng với dự đoán
hoặc là tương quan âm và rất yếu với các chỉ số của thị trường. Vì các nghiên
lạm phát kỳ vọng sẽ lên và ngược lại sẽ bán vàng khi dự đoán lạm phát kỳ vọng
cứu cho thấy rằng vàng có hệ số β = 0 (hoặc xoay quanh mức 0), tỷ lệ phi rủi ro
sẽ giảm xuống. Các bài báo tài chính chỉ ra rằng có những bằng chứng đáng kể
là một mức có thể chấp nhận được đối với chi phí của việc nắm giữ vàng. Bài
cho thấy có một mối quan hệ mạnh mẽ giữa lạm phát kỳ vọng và giá vàng. Các
nghiên cứu này xem xét tác động của những thay đổi của lạm phát kỳ vọng với
nhà phân tích thị trường thường cho là những thay đổi đáng kể trong giá vàng do
chi phí giữ vàng bằng cách đo lường tác động của những thay đổi bất ngờ của
tác động của thay đổi trong lạm phát kỳ vọng. Alan Greenspan, cựu chủ tịch Cục
các loại hàng hóa khác trong việc dự đoán lạm phát, và họ kết luận rằng sự đóng
việc nắm giữ đầu tư vào vàng tăng cao hơn và triệt tiêu đi phần nào lợi nhuận
góp của vàng đối với việc dự đoán lạm phát là không có ý nghĩa thống kê.
nhận được từ việc đầu cơ vàng. Theo đó, giả thuyết chi phí thực hiện dự đoán
Trang 13
Trang 14
rằng giá vàng sẽ không thay đổi khi lạm phát kỳ vọng thay đổi. Mối quan hệ này
CHƯƠNG 2:
được kiểm tra bằng cách sử dụng những thay đổi bất ngờ của chỉ số CPI như là
XÂY DỰNG MÔ HÌNH VÀ KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁ VÀNG
thước đo của thay đổi trong lạm phát kỳ vọng, Kết quả cho thấy rằng những thay
VÀ LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2010
đổi bất ngờ của chỉ số CPI không có tác động đến giá vàng.
2.1 Các yếu tố tác động đến giá vàng và lạm phát
vàng để được lợi từ những thông tin đó. Tuy nhiên nhà đầu tư có thể tìm
kiếm được lợi nhuận đầu cơ từ thị trường trái phiếu, hay nói cách khác, nhà
Thứ hai, giá dầu tăng cao, chi phí nhiên liệu cho sản xuất tăng, hàng hóa tăng
giá, dẫn tới tình trạng lạm phát, kéo theo đó là sự mất giá của đồng USD.
Thậm chí nếu một nhà đầu tư có tầm nhìn xa hoàn hảo và biết rằng lạm phát
trong tương lai sẽ khác biệt đáng kể với kỳ vọng của thị trường, thì nhà đầu
Thứ nhất, những thay đổi về chính sách tiền tệ cùng với những biến động
mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ.
-
Thứ tư, động thái của giới đầu tư và các quỹ tiền tệ cũng như các quốc gia
trên thế giới tăng tỷ lệ dự trữ vàng.
2.1.2 Các yếu tố tác động đến lạm phát:
Cuối cùng, không thể xác định được lạm phát kỳ vọng của thị trường bằng
Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ, với
cách xem xét giá vàng giao ngay.
nguyên nhân chung là sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểu hiện của
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
nó là mất cân đối tiền – hàng. Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những
phát trên 4 mặt.
liên tục lập những kỷ lục mới. Trong phiên giao dịch ngày 12/5/2006, giá vàng đã
- Hút vào thị trường vàng và USD một lượng vốn lớn của xã hội mà không được
có lúc tăng lên mức cao kỷ lục 731 USD/ounce – mức cao nhất kể từ tháng 1/1980.
đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
Như vậy, so với đầu năm 2006, giá vàng đã tăng khoảng 200 USD/ounce – tương
- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh
đương 38,1%. Giá vàng trong nước sáng 12/5/2006 đã vượt mức 1,5 triệu đồng/chỉ
toán tăng lên.
tại hầu hết các địa phương. Như vậy, giá vàng trong nước tính đến thời điểm
- Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới
(12/5/2006) đã tăng 46% so với đầu năm 2006.
nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến
Đồ thị 2.1 Diễn biến giá vàng thế giới theo tháng từ tháng 7/1982 – 3/2006
tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ...
31/12/1990
500
tháng 9/01
400
chính quyền tại Mỹ thì cũng là thời điểm khởi đầu của chu kỳ tăng giá vàng, đặc
biệt là từ sau vụ khủng bố 11-9 cho đến nay. Đây là chu kỳ tăng giá dài nhất trong
vòng 3 thập kỷ qua. Nếu như mức tăng giá vàng thế giới trong giai đoạn 1991 –
300
200
1995 và 1996 – 2000 giảm lần lượt là -1,44% và -29,65% thì giai đoạn 2001 –
nhau” với giá vàng thế giới, đồng thời giá vàng ở nước ta cũng phản ánh tức thì,
7/05
7/04
7/03
7/02
7/01
7/00
0
7/84
điều kiện thông tin hiện đại nên giá vàng trong nước theo nguyên tắc “bình thông
7/83
chung và thị trường vàng nói riêng hội nhập càng sâu rộng với thế giới và trong
100
7/82
2005 tăng mạnh lên 90,04%. Trong giai đoạn này, điều kiện nền kinh tế nước ta nói
Nguồn: Nguyễn Hữu Tú-Phòng PTKT&DB-Vụ CSTT-NHNN, “Những diễn biến
cùng chiều và theo sát giá vàng trên thị trường thế giới. Nếu như mức tăng giá vàng
bất thường trên thị trường vàng: Nguyên nhân, tác động và giải pháp”, 19/05/2006.
trong nước giai đoạn 1996 – 2000 là -6,16% thì giai đoạn 2001 – 2005 tăng mạnh
Việc giá vàng tăng cao đã gây nên hội chứng tâm lý làm nhiều người dân đổ xô đi
lên 102,07%.
mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để mua vàng. Tuy nhiên, trước sự trồi sụt thất
thường của giá vàng thế giới đã khiến không ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
giá vàng sẽ còn cao thêm nữa.
Đồ thị 2.2 Nhu cầu về vàng ở Việt Nam 1992 – 2007 (Đvt: Tấn)
Nguồn Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh và website www.kitco.com
Tỷ giá đô la Mỹ tăng lên hàng năm, giai đoạn từ 2000 đến 2003 tăng cao, sau đó
tăng nhẹ từ năm 2004 đến 2007
Đồ thị 2.4 Tỷ giá đô la Mỹ từ năm 1998 đến 2007
Tỷ giá VNĐ/USD
Nguồn World Gold Council
Nhìn qua 3 đồ thị 2.3, 2.4 và 2.5, chúng ta thấy rõ tác động của từng yếu tố đến xu
hướng của giá vàng. Cụ thể, trong khi xu hướng của tỷ giá đô la Mỹ và giá dầu là
16,500
16,000
15,500
15,000
14,500
14,000
13,500
13,000
12,500
12,000
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
tăng từ năm 1998 đến 2001 giai đoạn này giá vàng tương đối ổn định. Từ năm 2001
Nguồn Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh
Việc giá vàng cao ngất ngưởng đã khiến cho một bộ phận các nhà đầu tư tỏ ra e
40.00
ngại khiến nhu cầu mua vàng giảm 19% trong quý 2 nhưng những diễn biến phức
30.00
tạp về tình hình lạm phát của toàn cầu cùng với sự hỗ trợ của yếu tố đồng hành lâu
20.00
10.00
năm với vàng là dầu thô, vàng vẫn tiếp tục giữ vững được vị thế của mình. Không ai
0.00
có thể ngờ dầu thô có thể cán mốc kỷ lục 147,27 USD/thùng vào ngày 11/07/2008
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
bởi lực hậu thuẫn xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Đồng USD tiếp tục mất giá, xung
Nguồn Reuters
đột về địa chính trị lên cao, trữ lượng dầu có phần hạn chế, hoạt động đầu cơ trên
Hai nỗi lo trái ngược thống trị trong năm 2008 là lạm phát và giảm phát đã tạo
thị trường, tình hình thời tiết không mấy thuận lợi... Vàng đã tận dụng được lợi thế
mặt... Sự lao dốc đến chóng mặt của thị trường chứng khóan trong thời buổi kinh tế
ạt chuyển vốn sang thị trường vàng - loại hàng hóa an toàn và hấp dẫn trong thời kỳ
khó khăn khiến các nhà đầu tư nhanh chóng thanh lý hợp đồng vàng - loại hàng hóa
lạm phát và xu hướng này thực sự đã tạo ra một hậu phương hết sức vững chắc giúp
có mức thanh khoản cao - để bù đắp những khoản thua lỗ trên các thị trường khác.
quý kim thẳng tiến chinh phục những đỉnh cao mới. Vào ngày 17/03/2008, thị
Đồng USD bất ngờ lại lấy lại được lợi thế của mình khi các nhà đầu tư nhận ra rằng
trường tiền tệ thế giới ghi nhận mức giá kỷ lục trong lịch sử của giá vàng – mức
đây vẫn là đồng tiền an tòan nhất và chiếm khối lượng giao dịch lớn nhất trên thị
1.033,90 USD/Oz. Chỉ tính trong quý 1/2008, vàng đã gia tăng được 14% giá trị của
trường ngoại hối. Sự giằng co giữa hai xu hướng: bán vàng bù lỗ, nắm giữ USD mặt
nó. Nỗi ám ảnh về lạm phát ngày càng đe dọa toàn cầu, trong đó biểu hiện rõ ràng
và nhu cầu sụt giảm trong bối cảnh suy thoái kinh tế với việc mua vào lọai hàng hóa
nhất là việc giá dầu cứ tiếp tục leo lên từng mốc, mốc sau lại cao hơn mốc trước và
vốn từ lâu đời có tính an toàn và bảo toàn giá trị khiến vàng có những phiên trồi sụt
trong đó giảm sâu nhất phải kể đến dầu thô có lúc giảm tới 70% so với đỉnh điểm
rồi bứt phá mạnh trong quý 4 là xu hướng chính của giá vàng thế giới năm 2009.
hồi tháng 7 và liên tục trượt dài đến nay mặc cho những nỗ lực của các nước sản
Khởi động năm 2009 với mức giá khoảng 880 USD/Oz, giá vàng giao ngay thị
xuất dầu lớn nhất thế giới như OPEC, Nga, Arab Saudi đã cắt giảm mạnh sản lượng.
trường thế giới đến ngày 23/12 đóng cửa ở mức gần 1.090 USD/Oz, tăng xấp xỉ
Vàng và dầu không còn có thể tiếp tục đồng hành cùng nhau: trong khi dầu liên tục
24%. Mức đỉnh cao lịch sử của giá vàng giao ngay đóng cửa tại thị trường New
trượt dốc không phanh từ tháng 7 đến nay và có lúc giảm chỉ còn 33.87 USD/thùng
York hiện là mức 1.215,8 USD/Oz thiết lập vào ngày 2/12/2009. Mức giá này đã bỏ
(19/12); vàng vẫn giữ được phong độ là loại hàng hóa giảm giá ít nhất trong chỉ số
xa kỷ lục đóng cửa 1.002,8 USD/Oz của năm 2008.
Reuters/Jefferies CRB Index của 19 loại hàng hóa (chỉ giảm khỏang 12% giá trị)
Dưới tác động của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng liên tục khiến thị
nhờ những tính chất truyền thống vốn có của nó.
với USD và khiến người ta đặt câu hỏi về sự hình thành của một chu kỳ lạm phát
Điều đáng nói là giá vàng thế giới năm 2009 lập kỷ lục giữa lúc khủng hoảng tài
mới sẽ là lực hỗ trợ cho thị trường quý kim tiếp tục ghi điểm.
chính không còn căng thẳng như năm 2008, đồng thời rủi ro lạm phát cũng không
Nguy cơ giảm phát sẽ còn bao trùm nền kinh tế toàn cầu trong năm tới sẽ là một lý
phải là một mối lo lớn của hầu hết các quốc gia. Tuy không phát huy được tối đa vai
do để hạn chế đà tăng giá của giá vàng. Tuy nhiên với những khó khăn hiện tại của
trò “hầm trú ẩn an toàn”, giá vàng năm nay lại được hỗ trợ nhiều bởi chính sách tiền
nền kinh tế, khi công cụ lãi suất không còn có thể dễ dàng sử dụng (khá nhiều quốc
tệ và tài khóa nới lỏng của nước Mỹ. Xu hướng suy yếu của tỷ giá USD do Cục Dự
gia đã hạ thấp lãi suất đồng tiền của mình), các quốc gia lớn trên thế giới sẽ buộc
trữ Liên bang Mỹ (FED) duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục là nhân tố nâng
phải nghĩ đến việc in thêm tiền ra lưu thông và vay mượn đa quốc gia và chính điều
đỡ tích cực nhất cho giá vàng trong năm.
này sẽ lại trở thành động lực tốt cho giá vàng phục hồi. Hơn nữa khi kinh tế toàn
vàng thế giới tới cả triệu đồng/lượng. Ở thời điểm giữa quý 1, khi người dân ồ ạt
Maritus mua 2 tấn. Ấn Độ, Trung Quốc và Nga được giới quan sát xem là những
bán vàng để chốt lời ở mức giá 19-20 triệu đồng/lượng, còn doanh nghiệp mạnh tay
khách hàng tiềm năng cho việc mua nốt số vàng còn lại từ IMF trong đợt bán ra
gom mua để xuất khẩu, giá vàng trong nước có lúc thấp hơn giá vàng thế giới 1,5
này. Thị trường thế giới năm 2009, mà chủ yếu là quý 4, cũng chứng kiến một số sự
triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vào giữa quý 4, khi các nhà đầu tư tranh mua vàng,
kiện gây sốc, có tác động mạnh đến giá vàng, trong đó khu vực Trung Đông có
giá vàng trong nước lại thường xuyên cao hơn giá thế giới. Trong ngày sốt đỉnh
“đóng góp” khá tích cực.
điểm 11/11, giá vàng trong nước có lúc cao hơn giá vàng thế giới 3,6 triệu
Đầu tháng 10, thế giới xôn xao trước tin đồn một số nước vùng Vịnh đang âm thầm
đồng/lượng. Thừa hoặc thiếu cung vàng là lý do chính mà các công ty kim hoàn đưa
bàn thảo một kế hoạch nhằm loại đồng USD ra khỏi giao dịch dầu lửa. Thông tin
ra để lý giải cho sự vênh giá trên. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, sự lệch giá này
nhiệm Fitch, S&P và Moody’s đánh tụt hạng mức tín nhiệm nợ của nước này, cũng
15,000
Tỷ giá USD/VND
gây bất lợi cho giá vàng trong tháng cuối năm.
10,000
5,000
các loại trái phiếu có định mức tín nhiệm thấp trên thế giới đem đến cho giới đầu tư
0
tỷ lệ lợi nhuận 58%, tiếp đó là thị trường hàng hóa với mức lợi nhuận 36%, vàng
(34%), chứng khoán (29%), trái phiếu doanh nghiệp (23%), và trái phiếu chính phủ
(8%). Năm nay sẽ là năm tăng giá thứ 9 liên tục của vàng thế giới. Trong nước, giá
vàng từ đầu năm tới ngày 24/12 đã tăng gần 150%, chỉ số VN-Index tăng 51,8%,
còn lãi suất tiết kiệm VND kỳ hạn 1 năm ở thời điểm đầu năm 2009 vào khoảng
8%.
01
/2
0
04 08
/2
00
07 8
/2
Theo số liệu hãng tin tài chính Bloomberg cung cấp, trong 11 tháng đầu năm 2009,
Nguồn Cục thống kê TP.HCM và website www.kitco.com
Sự lên xuống của tỷ giá USD/VND thị trường tự do ở nhiều thời điểm cũng là một
nguyên nhân quan trọng khiến giá vàng trong nước không tăng giảm cùng biên độ
với giá vàng thế giới, thậm chí biến động ngược chiều với giá vàng thế giới.
Qua đồ thị 2.6 và 2.7, chúng ta thấy xu hướng giá vàng trong nước là cùng chiều giá
vàng thế giới và tỷ giá đô la Mỹ nhưng ngược chiều với giá dầu.
Trang 25
Trang 26
Đồ thị 2.7 Giá dầu thế giới từ năm 2008 đến tháng 3/2010
Sau khi vấn đề nguồn cung được giải quyết, giá vàng tiếp tục có những biến động
mạnh do xu hướng leo thang của tỷ giá USD thị trường tự do. Tuy nhiên, vấn đề
Giá dầu TG (USD/thùng)
100
80
này đã được khắc phục sau khi Ngân hàng Nhà nước nâng mạnh tỷ giá USD/VND
91.48
70.26
60
53.56
mua vào để thanh toán số vàng đã vay nhằm cắt lỗ, khiến tình hình nguồn cung
vàng trong nước thêm phần căng thẳng giữa lúc hoạt động nhập khẩu vàng chưa
được nối lại. Nhiều người không vay vàng cũng mất hết kiên nhẫn khi thấy giá vàng
liên tục leo thang nên cũng ồ ạt đi mua.
Trước những diễn biến bất thường của thị trường vàng trong nước, Ngân hàng Nhà
nước đã quyết định cho nối lại hoạt động nhập khẩu vàng nhằm hạ nhiệt thị trường.
Quyết định được công bố vào chiều ngày 11/11 này được xem như một liều thuốc
giải nhiệt hiệu quả và kịp thời đối với cơn sốt vàng đang ở đỉnh điểm. Trước đó,
hoạt động nhập khẩu vàng đã bị tạm ngừng hơn 1 năm.
Quản lý sàn vàng là một vấn đề lớn được các cơ quan chức năng cân nhắc trong
năm 2009. Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ hai phương án về quản lý sàn
vàng: một là chấm dứt hoạt động sàn vàng; hai là tiếp tục cho hoạt động thì chỉ cho
phép các ngân hàng thương mại được mở sàn, đồng thời mức ký quỹ có thể lên tới
mức 100%. Tuy nhiên, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định chấm dứt hoạt động
sàn vàng vào ngày 30/03/2010 mục đích chỉnh đốn lại hoạt động này trong thời gian
tới.
Giá vàng năm 2010 diễn biến theo hình răng cưa với chiều đi lên là chủ đạo
và liên tiếp tự phá các kỷ lục mới, cả ở phạm vi trong nước và quốc tế. Ngay trong
tháng 01/2010, giá vàng đã tăng 53.89% so với tháng 01/2009 đứng ở mức 26.5
triệu đồng/lượng. Mặc dù NHNN điều chỉnh tỷ giá hối đoái liên ngân hàng tăng trên
3% lên mức 18,544 VND/USD từ ngày 11/02/2010 đi đôi với chính thức tăng giá
vốn tín dụng ngân hàng thông qua áp dụng lãi suất thoả thuận cho các khoản vay
trung dài hạn từ 26/02/2010 song chỉ số giá vàng tháng 02/2010 lại giảm 2.03% so
với tháng trước, và tăng 42.58% so với cùng kỳ năm 2009. Giá vàng trong tháng
02/2010 giảm nguyên nhân là do trong tháng này NHNN đã cấp quota nhập khẩu
vàng cho SJC để bán vàng ra bình ổn thị trường. Giá vàng tháng 03/2010 lại tăng
1.21% so với tháng trước nhưng giảm 3.76% so với tháng 12/2009. Chỉ số giá vàng
tháng 04/2010 giảm 0.8% so với tháng trước, tuy đã giảm 4.53% so với tháng
12/2009 song vẫn cao hơn 33.89% so với cùng kỳ năm 2009 và xoay quanh mức
Giá vàng tháng 06/2010 so với tháng trước tăng 3.09%, so với tháng 12/2009 tăng
giá vàng vọt lên đến kỷ lục mọi thời đại là 38.3 triệu đồng/lượng, đồng thời tỷ giá
0.3% và so với cùng kỳ năm trước tăng 32.43%. Diễn biến giá vàng rất phức tạp và
USD/VND trên thị trường tự do cũng lên tới 21,500, sau đó giá vàng dao động
phụ thuộc vào diễn biến giá vàng thế giới trong khi giá vàng thề giới đã lập những
trong khoảng 34.5 – 36.5 triệu đồng/lượng và USD/VND dao động trong khoảng
kỷ lục mới 1,250USD/Oz ngay đầu tháng 05/2010, đã phá vỡ kỷ lục 1,227 USD/Oz
21,000 – 21,500. Thời gian này, NHNN tuyên bố không thay đổi tỷ giá hối đoái
của năm 2009, thậm chí có dự báo lên đến 1,300USD/Oz ngay trong tháng 07-
chính thức 18,932 VND/USD (theo đó trần tỷ giá giao dịch chính thức tại các
08/2010. Giá vàng tại Việt Nam dao động quanh mốc 28.5 triệu đồng/lượng, có thời
NHTM là 19,500 VND/USD) đến hết tháng 01/2011 lại càng làm cho thị trường
điểm lên đến trên 29 triệu đồng/lượng song vẫn còn thấp hơn giá thế giới nên hiện
ngoại hối căng thẳng do chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường
tượng xuất vàng dưới hình thức vàng nữ trang đã xuất hiện, đem về nguồn USD
tháng 12/2009 và tăng tới 34.35% so với cùng kỳ năm 2009. Diễn biến giá vàng rất
lượng vàng rất lớn đang được người dân nắm giữ, đang trở thành luồng vốn hoạt
phức tạp và phụ thuộc vào diễn biến giá thế giới trong khi giá vàng thế giới đúng
động không chính thức, gây sức ép không nhỏ đến chính sách tiền tệ và tăng trưởng
như dự báo của tháng trước đó đã lập kỷ lục mới lên trên 1,300USD/Oz vào cuối
kinh tế nói chung và hoạt động của các NHTM nói riêng.
tháng 09/2010. Giá vàng tại Việt Nam cuối tháng 09/2010 dao động quanh mốc kỷ
Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với giai đoạn bùng nổ
lục mới là 31 triệu đồng/lượng, có thời điểm lên tới 31.5 triệu đồng/lượng, cao hơn
của kinh tế thế giới và việc tăng giá của nhiều loại hàng hóa. Năm 2007, chỉ số CPI
giá thế giới khoảng 400 – 500 ngàn đồng/lượng nên hiện tượng thu gom USD trên
tăng đến 12.6% và đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối năm. Năm 2008 là một
thị trường tự do để nhập lậu vàng đã xuất hiện trong khi NHNN vẫn chưa cấp quota
năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm phát ở Việt Nam. CPI
nhập khẩu vàng chính thức. Giá vàng tháng 10/2010 tiếp tục tăng 7.87% so với
10.000%
R = 0.0264
5.000%
0.000%
-5.000%
-
Đồ thị 2.8: Tốc độ tăng cung tiền và lạm phát 1995-2008
0
tốc độ tăng cung tiền và lạm phát từ 1995 đến 2008
60.000%
0
0
0
1
1
Nguồn: IMF và ADB
Nguyên nhân là do độ trễ giữa tăng trưởng cung tiền và lạm phát ở Việt Nam
50.000%
tháng 1/2008 với mức xấp xỉ 50%. Tăng trưởng tín dụng lên mức đỉnh trên 55% vào
tháng 1 đến tháng 4 năm 2008 (so với cùng kỳ năm 2007, thời đoạn 12 tháng). Hậu
Trang 31
Trang 32
quả CPI cũng lên mức cao nhất từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2008 (quanh mức
bên dưới có thể thấy, nếu không có gì đột biến, những tháng đầu năm, CPI thường
28%). Năm 2009, lạm phát ở mức thấp mặc dù tăng trưởng tín dụng và cung tiền
tăng nhưng sau đó sẽ ổn định và giảm dần, rồi lại nhích lên trong những tháng cuối
tăng khá mạnh kể từ mức đáy hồi đầu năm. Rõ ràng tăng trưởng tín dụng và cung
năm. Nói như vậy không có nghĩa là nguy cơ lạm phát cho những tháng tiếp theo
tiền chưa tác động ngay đến chỉ số giá tiêu dùng nhưng có thể để lại nguy cơ lạm
của năm 2010 là không đáng lo ngại khi những yếu tố gia tăng lạm phát đang hiển
phát cao trong những tháng tới. Vào tháng 8 năm 2009, CPI đã xuống mức thấp
hiện. Năm 2008 là một ví dụ cho thấy những diễn biến bất thường của chỉ số này và
nhất 1.97% so với cùng kỳ năm trước, cách đó 8 tháng thì tăng trưởng tín dụng vào
Các yếu tố gia tăng lạm phát năm 2010
Trang 34
và nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, trước khi tiền lương được chính
Sức ép lạm phát cho năm 2010 đến từ nhiều phía: Từ các yếu tố cầu kéo, chi phí
thức tăng lên, thì thông tin tăng lương cũng đã đẩy giá các mặt hàng thiết yếu lên
đẩy đến các yếu tố tiền tệ và tâm lý.
cao.
¾ Yếu tố “cầu kéo”
¾ Yếu tố tiền tệ
Nền kinh tế phục hồi sau ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu dùng
Đằng sau những nguyên nhân trực tiếp trên là vấn đề cố hữu của nền kinh tế trong
cũng như sản xuất dần tăng trở lại. Cầu tăng giúp kích thích nền kinh tế nhưng vấn
nhiều năm qua. Sau những năm phát triển kinh tế bị suy giảm cuối giai đoan 90, từ
đề đáng lo ngại hơn là nhu cầu giả tạo, làm giá cả tăng cao không cần thiết. Cán cân
năm 2000, các nhân tố lạm phát bắt đầu được nuôi dưỡng khi giải pháp kích cầu
của Việt Nam đều cao gấp đôi so với Malaysia hay Indonesia khi các nước này ở
thâm hụt cán cân thương mại triền miên và chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ
trong cùng giai đoạn giống Việt Nam. Thực tế, chỉ số ICOR cao cũng không phải là
giá trên thị trường tự do tạo tâm lý lo ngại Việt Nam đồng mất giá, tạo ra cầu giả
điều đáng lo ngại nếu nó được giải thích bởi sự gia tăng cơ sở hạ tầng, xây dựng
tạo, giá cả tăng cao. Tuy nhiên, với những động thái điều chỉnh tý giá gần đây của
phát triển đẩy mạnh nền tảng kinh tế nhưng tình hình Việt Nam, tổng chi đầu tư cho
NHNN nhằm giúp giảm chênh lệch 2 mức tỷ giá để người dân giảm tích trữ hàng
kết cấu hạ tầng trên GDP cao nhưng kết cấu hạ tầng vẫn còn nhiều bất cập. Điều
hóa, vàng, đô la, hạ thấp nhu cầu giả tạo, góp phần kiểm soát giá cả.
¾ Yếu tố “chi phí đẩy”
Bên cạnh đó, năm 2010, giá cả của nhiều yếu tố đầu vào như giá than, giá điện, giá
này cho thấy cơ cấu đầu tư của Việt Nam có vấn đề, cơ cấu kinh tế chưa thực sự
hợp lý để tạo điều kiện phát triển bền vững cho những năm sau.
Việc bơm tiền ra để đầu tư kích thích tăng trưởng kinh tế, song hệ số ICOR cao,
xăng và giá nước đồng loạt được điều chỉnh tăng. Ngoài ra, theo lộ trình, trong năm
nguy cơ lạm phát là khó tránh khỏi. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2009 đã ở
Trang 36
phải trả cái giá quá đắt của lạm phát thì việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng tín
91-99 yếu hơn (khoảng cách trong tốc độ phát triển của 2 chỉ số xích lại gần nhau
dụng để tín dụng thực sự góp phần cải thiện và tạo điều kiện phát triển nền tảng
hơn ở giai đoạn sau) so với những năm 2000.
kinh tế thực, nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế là hết sức quan trọng.
Đồ thị 2.14: Mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế và lạm
Từ những diễn biến thực tế giá vàng và lạm phát tại Việt Nam trong thời gian qua,
phát
tác giả đã xây dựng mô hình kiểm định dựa trên hai giả thuyết sau:
2.3 Giả thuyết
2.3.1 Giả thuyết 1: Giá vàng tác động đến lạm phát
Giả thuyết này dựa trên luận điểm cho rằng:
Thứ nhất, khi giá vàng biến động kéo theo giá nhiều loại hàng hóa đặc biệt khác
biến động theo. Tác động rõ nhất là khi giá vàng tăng thì giá ngoại tệ - đặc biệt là
USD trên thị trường cũng tăng. Giá vàng tăng cao ảnh hưởng đến xu hướng tăng
của tất cả các loại hàng hóa thiết yếu khác, ở đây có yếu tố tâm lý rất lớn. Trong khi
đó, nền kinh tế luôn trong tình trạng nhập siêu, cân đối ngoại tệ liên ngân hàng luôn
Một số nghiên cứu định lượng về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
và ảnh hưởng của nó đến CPI, cũng đã đưa ra kết luận rằng: cùng với sự phát triển
nền kinh tế, NHNN sẽ phải xem xét thực thi một số giải pháp như điều chỉnh lãi
Trang 37
Trang 38
suất cơ bản, điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và điều tiết tổng phương tiện thanh
Về mặt lý thuyết trong một nền kinh tế có thu nhập, chỉ số giá tăng thì nhiều mặt
toán của nền kinh tế để kiềm chế lạm phát. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán và
hàng có khả năng bảo tồn giá trị, trong đó có vàng sẽ tăng giá tức thời. Lý tưởng
bất động sản được coi là “sản phẩm thay thế” cho vàng của các nhà đầu tư, một khi
nhất là giá cả hàng hóa tăng theo cùng một tỷ lệ theo một số mô hình nhập môn
cơ hội đầu tư tại thị trường vàng tăng cao thì thị trường chứng khoán sẽ ngay lập tức
kinh tế vĩ mô. Vậy lạm phát tăng thì giá vàng tăng. Ngoài ra, khi có lạm phát, người
thiếu tính thanh khoản và thị trường bất động sản ít sôi động là đúng quy luật. Giá
dân tránh giữ tiền mặt, mua vàng để bảo toàn vốn là một trong số những lựa chọn
vàng tăng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn vốn của khu vực tài
hiệu quả nhất. Cầu vàng tăng thì giá sẽ tăng và mức tăng sẽ cao hơn mức tăng của
luôn hoang mang, chính vì vậy người dân không tin tưởng vào tiền đồng mà tích trữ
mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lớn dẫn đến tỷ giá USD/VND
vàng, vàng trở thành vật đảm bảo giá trị tiền đồng. Lạm phát của nước ta trong
tăng vọt, vượt ngoài tầm kiểm soát của NHNN.
những năm 70, 80 dâng cao, rất nghiêm trọng và nguy hiểm: Giá cả hàng hoá tăng
Mặc dù vàng không còn đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống tiền tệ thế giới,
với tốc độ phi mã, đỉnh điểm vào năm 1986 với tỷ lệ lạm phát là 774.7 %. Chỉ số
nhưng giá vàng có thể là một chỉ số dự báo tốt cho lạm phát. Lý do là nếu người ta
giá bán lẻ năm 1985 tăng 13,97 lần so với năm 1980; năm 1987 tăng 124,42 lần so
tin rằng vàng là tài sản để bảo tồn giá trị trước lạm phát thì với sự kỳ vọng lạm phát
với năm 1985 và năm 1988 tăng 181,48 lần so với năm 1985. Không chỉ riêng
tăng cao hơn sẽ dẫn đến một số các nhà đầu tư chuyển vốn của họ ra khỏi các tài
người dân, ngay cả các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng xem vàng là nơi trú ẩn tạm
sản tài chính với lãi suất danh nghĩa cố định thành vàng hoặc đồ trang sức. Do
thời tốt nhất cho vốn lưu động khi chưa mua được nguyên liệu. Giá của tất cả các
vàng.
Trang 39
Trang 40
Riêng từ năm 1999 đến năm 2002 nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này đã có nhiều đổi
Cách này phổ biến trong thực tế để xem xét cả hai chiều tác động (X là
khác, các thành phần kinh tế trong XH được khuyến khích mở rộng hoạt động kinh
nguyên nhân của Y, Y nguyên nhân của X). Trong khi quan hệ nhân quả theo
doanh. Nhiều chính sách kinh tế thông thoáng được ban hành cùng việc thu hút đầu
Granger chúng ta đặt giả thuyết kiểm định X không là nguyên nhân của Y, và nếu
tư từ nhiều nguồn đặc biệt từ các nhà đầu tư nước ngoài, lượng dự trữ ngoại hối.
có thể bác bỏ giả thuyết này, nó ngụ ý rằng X là nguyên nhân của Y.
Hành lang pháp lý dần được mở rộng đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư. Tâm lý
Để kiểm định liệu có tồn tại mối quan hệ nhân quả Granger giữa hai chuỗi thời gian
tích trữ vàng trong dân chúng giảm đáng kể so với thời kỳ trước, người dân đã
Để xem các biến trễ X có giải thích cho Y (X tác động nhân quả Granger lên Y) và
dân chúng đã tin tưởng vào tiền đồng, mặc dù giá vàng trong nước có biến động do
các biến trễ của Y có giải thích cho X (Y tác động nhân quả Granger lên X) hay
ảnh hưởng giá vàng thế giới nhưng không ảnh hưởng nhiều đến thị trường trong
không, ta kiểm định giả thuyết sau đây:
nước như trước đây. Như vậy, với thực tế xảy ra có thể thấy rằng lạm phát có tác
Phương trình (1): H 0 : α 1 = α 2 = .... = α i = 0
động đến giá vàng.
Phương trình (2): H 0 : δ 1 = δ 2 = .... = δ j = 0
2.4 Mô hình kiểm định
Để kiểm định các ràng buộc này, ta có thể sử dụng ba cách kiểm định sau:
Chúng ta sử dụng phân tích nhân quả theo phương pháp Granger nhằm xác định
Likelihood Ratio (LR), thống kê F của kiểm định Wald, và Lagrane Multiplier
mối quan hệ nhân quả giữa biến lạm phát và tốc độ tăng giá vàng.
(LM). Ý tưởng cơ bản của ba thủ tục kiểm định này là đánh giá sự khác biệt giữa
cứu này, tác giả đi theo hướng sử dụng kiểm định LR.
đóng góp một cách có ý nghĩa vào khả năng giải thích của hồi quy.
Cách quyết định quan hệ nhân quả Granger như sau:
Thứ hai là Y không giúp cho dự đoán của X. Vì rằng nếu X giúp cho dự đoán
của Y, và Y lại giúp cho dự đoán X thì điều này dường như là có một số biến
khác đang gây ra sự thay đổi của cả X và Y.
-
Nhân quả Granger một chiều từ X sang Y nếu các biến trễ của X có tác động
lên Y, nhưng các biến trễ của Y không tác động lên X.
Trang 41
Trang 42
-
Nhân quả Granger một chiều từ Y sang X nếu các biến trễ của Y có tác động
gian đó đồng liên kết – nghĩa là phần dư từ phương trình hồi quy của các chuỗi thời
lên X, nhưng các biến trễ của X không tác động lên Y.
gian không dừng là một chuỗi dừng.
sự thay đổi trong mối quan hệ giữa các biến. Gujarati (2003,696) cho rằng khi hồi
α2 được gọi là hệ số hồi quy đồng liên kết. Nói theo ngôn ngữ kinh tế học, hai biến
quy chuỗi dữ liệu thời gian thì một vấn đề quan tâm là phải kiểm định mối quan hệ
đồng liên kết khi chúng có mối quan hệ dài hạn, hay ổn định với nhau. Như thế thì
nhân quả giữa các biến để xem xét trong các biến, biến nào là biến nguyên nhân và
nếu ta kiểm định phần dư từ phương trình (**) và nhận thấy phần dư là dừng ( có
biến nào là biến kết quả. Để xem xét mối quan hệ đó, tác giả sử dụng mô hình nhân
phân phối chuẩn), thì các kiểm định truyền thống (Kiểm định t và F) vẫn áp dụng
quả Granger. Theo Granger, ta sẽ tiến hành ước lượng các phương trình hồi quy
được cho chuỗi thời gian không dừng. Theo Granger, kiểm định đồng liên kết như
giữa giá vàng và lạm phát, từ đó kiểm định có tồn tại mối quan hệ nhân quả hay
cách kiểm định trên để tránh hiện tượng hồi quy tương quan giả. Mô hình này có thể
không.
được mở rộng cho trường hợp mô hình hồi quy có k biến giải thích.
Điều kiện cần để có thể thực hiện được kiểm định nhân quả Granger:
thì số biến trễ không thích hợp sẽ làm cho các ước lượng không hiệu quả.
Vì giá vàng và lạm phát cùng tăng theo thời gian nên không thể hồi quy trực tiếp giá
Các phần dư không có hiện tượng tự tương quan. Nếu có hiện tượng tương
vàng và chỉ số giá tiêu dùng với nhau để tránh việc mô hình bị hiện tượng hồi quy
quan cần phải thực hiện việc chuyển sang một dạng mô hình thích hợp hơn.
Kiểm định đồng liên kết:
Gujarati (1999,460) cho rằng mặc dù các chuỗi thời gian không dừng nhưng rất có
thể vẫn còn tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa chúng nếu các chuỗi thời
giả mạo (spurious regression). Từ phần này chúng ta hiểu G là tỷ lệ tăng giá vàng
tháng này so với tháng trước, P là CPI tháng đang xét, USD là tỷ lệ tăng tăng giá
USD tháng này so với tháng trước.
Do Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm khá tương đồng cả về chính sách cũng
như tâm lý tích trữ vàng của người dân nên tác giả chọn độ trễ là 6 tháng theo kết
Trang 43
Trang 44
quả nghiên cứu của ngân hàng Trung ương Canada (nghiên cứu tiền đề thứ ba) ứng
2.5 Dữ liệu
với trường hợp của Trung Quốc.
Mô hình kiểm định lạm phát tác động lên giá vàng có dạng
n =6
Tỷ lệ lạm phát được tính toán từ tốc độ tăng trưởng của chỉ số giá tiêu dùng
(CPI). Số liệu CPI, giá vàng, tỷ giá USD/VND được lấy từ nguồn tổng cục
G = ∑ bi * P (−i ) + ∑ b j * G (− j ) + C 2 + ε 2
giới theo tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do. Tuy nhiên, số liệu tỷ giá
(2)
USD/VND trên thị trường tự do không thể thu thập đầy đủ trong suốt khoảng
thời gian nghiên cứu.
Trong đó: C2 là hằng số, ε2 là sai số
2.5.2 Giai đoạn :
Mô hình kiểm định tác động của tỷ giá USD/VND đối với lạm phát và giá
Dữ liệu được lấy trong giai đoạn từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2010.
vàng :
2.6 Kết quả kiểm định
Do giá vàng thế giới hiện nay chủ yếu được yết giá và giao dịch bằng USD,
2.6.1 Ma trận hiệp phương sai giữa giá vàng và lạm phát
Ma trận hiệp phương sai ở trên thể hiện mối quan hệ giữa sự biến thiên của hai biến
giữa vàng và USD. Do đó tác giả sẽ tiến hành kiểm định tác động của tỷ giá
giá vàng và lạm phát. Hiệp phương sai dương có nghĩa độ dao động của hai biến
USD/VND đối với lạm phát và giá vàng.
này cùng hướng (tăng hay giảm).
Khi đưa tỷ giá USD/VND vào hai mô hình trên thì mô hình (1) và (2) trở
2.6.2 Hệ số tương quan giữa giá vàng và lạm phát
thành :
Bảng 2.2: Hệ số tương quan giữa giá vàng và lạm phát
n =6
n =6
n=6
i
j
t
Trang 45
Trang 46
Hệ số tương quan là một chỉ số thống kê đo lường mối liên hệ tương quan giữa hai
biến số ngẫu nhiên. Hệ số tương quan giữa giá vàng và lạm phát là 0.128845.
2.6.3 Kiểm định đồng liên kết giữa giá vàng và lạm phát
Bảng 2.3: Kiểm định đồng liên kết giữa giá vàng và lạm phát :
Sample (adjusted): 6 108
Included observations: 103 after adjustments
Trend assumption: Linear deterministic trend
Series: P G
Lags interval (in first differences): 1 to 4
Unrestricted Cointegration Rank Test (Trace)
Hypothesized
Trace
No. of CE(s)
Eigenvalue
Statistic
0.05
Critical
Value
Prob.
C
P(-1)
P(-2)
P(-3)
P(-4)
P(-5)
P(-6)
G(-1)
G(-2)
G(-3)
G(-4)
G(-5)
G(-6)
34.74035
0.411472
0.072747
0.240375
-0.095958
0.040922
-0.094443
0.030682
0.062023
-0.002456
0.018403
-0.046703
0.017419
0.5201
0.0358
0.3885
0.6893
0.3247
0.1386
0.0047
0.9143
0.4153
0.0364
0.4313
R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood
Durbin-Watson stat
0.462760
0.390323
0.696235
43.14214
-100.8476
1.987788
Mean dependent var
S.D. dependent var
Akaike info criterion
Schwarz criterion
Với giả thuyết giá vàng có tác động đến lạm phát, chúng ta sẽ kiểm định có phải các
biến tỷ lệ tăng giá vàng G(-1), G(-2), G(-3), G(-4), G(-5), G(-6) là những biến thừa
trong mô hình hay không, nghĩa là chúng ta kiểm định giả thuyết H0: hệ số của các
biến G(-1), G(-2), G(-3), G(-4), G(-5), G(-6) đồng thời bằng 0 với mức ý nghĩa α =
5%. Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, có nghĩa giá vàng có tác động đến
lạm phát và cần thiết đưa các biến tỷ lệ tăng giá vàng vào mô hình kiểm định.
Kết quả kiểm định LR trong Eviews như sau:
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định LR cho giả thuyết giá vàng tác động đến lạm phát
Redundant Variables: G(-1) G(-2) G(-3) G(-4) G(-5) G(-6)
F-statistic
Log likelihood ratio
2.746481
17.32719
Prob. F(6,89)
Prob. Chi-Square(6)
0.017023
0.008153
Trang 47
Trang 48
Dependent Variable: G
Method: Least Squares
Sample (adjusted): 7 108
0.031147
-0.125454
12.31065 3.802088
0.101920 4.679452
0.113332 1.048141
0.113218 1.583948
0.109671 -1.324433
0.106118 0.293515
0.097601 -1.285375
0.0003
0.0000
0.2972
0.1165
0.1885
0.7698
0.2018
R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood
Durbin-Watson stat
0.363287
0.323074
0.733629
51.13016
G(-5)
G(-6)
P(-1)
P(-2)
P(-3)
P(-4)
P(-5)
P(-6)
197.9561
0.222340
-0.194583
0.111098
-0.063215
-0.090891
-0.117043
0.491814
-0.615817
0.546626
-0.352880
-0.077518
-0.813309
62.74911
0.105141
0.109572
0.116618
0.115146
0.112536
0.112815
0.3464
0.5353
0.8824
0.0993
R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood
Durbin-Watson stat
0.180596
0.070115
3.565152
1131.217
-267.4417
1.972707
Mean dependent var
S.D. dependent var
Akaike info criterion
Schwarz criterion
F-statistic
Prob(F-statistic)
101.8355
3.697118
5.498856
5.833411
Redundant Variables: P(-1) P(-2) P(-3) P(-4) P(-5) P(-6)
Trang 49
F-statistic
Log likelihood ratio
1.080210
7.169949
Trang 50
Prob. F(6,89)
Prob. Chi-Square(6)
0.380440
0.305416
Lags
2
Test Equation:
Dependent Variable: G
Method: Least Squares
Sample: 7 108
Included observations: 102
Variable
3
0.106641
0.104376
4.707540
2.548640
-1.487514
1.561613
-0.565396
-0.606326
-1.594744
0.0000
0.0124
0.1402
0.1217
0.5731
0.5457
0.1141
R-squared
Adjusted R-squared
S.E. of regression
Sum squared resid
Log likelihood
Durbin-Watson stat
0.120925
0.065404
3.574171
1213.596
F-Statistics Probability
6.65911
0.00192
1.73398
0.25779
4.99909
0.00287
0.92989
0.42935
3.17655
0.01699
1.18700
0.32157
3.36552
0.00775
0.96114
0.44587
2.74648
0.01702
1.08021
0.38044
Kết quả hồi quy trên cho thấy:
-
Với mức ý nghĩa α = 5%: kết quả bác bỏ giả thuyết H0: giá vàng không có
quan hệ nguyên nhân kết quả với lạm phát (với độ trễ được xác định từ 2 đến
6 tháng), nghĩa là giá vàng có tác động đến lạm phát. Do hiệp phương sai
giữa giá vàng và lạm phát dương nên giữa giá vàng và lạm phát có mối quan
Khi đưa biến tỷ giá USD/VND vào mô hình và kiểm định, ta có kết quả là tác động
Nam trong giai đoạn từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2010 với độ trễ (lag) từ 2 đến 6
của tỷ giá USD/VND đối với lạm phát và giá vàng không có ý nghĩa thống kê. Xin
tháng như sau:
xem kết quả ở bảng dưới:
Bảng 2.8: Kết quả kiểm định quan hệ nhân quả giữa giá vàng và lạm phát
Bảng 2.9: Kiểm định đồng liên kết giữa giá vàng, lạm phát và tỷ giá USD/VND
Sample (adjusted): 6 108
Included observations: 103 after adjustments