MỤC LỤC
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2. Kết quả ước lượng hàm tác động của chi phí lên lợi nhuận 27
Bảng 2.3. Kết quả ước lượng hàm tác động của lợi nhuận đối với chi phí 29
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Qua nhiều năm đổi mới thì thế và lực nền kinh tế nước ta đã thay đổi mạnh mẽ.
Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế, quan hệ thương mại và đầu tư quốc
tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO. Cùng với đó là sự xuất hiện
những động lực mới đó là: Cạnh tranh thị trường ngày càng trở nên gay gắt, sự mở
rộng các cơ hội cũng như có không ít những thách thức đặt ra đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và phát triển trên
thị trường thì phải biết tận dụng cơ hội để vượt qua các thử thách nhằm đem lại lợi
nhuận một cách tối đa nhất có thể với mức chi phí bỏ ra tối ưu.
Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Lợi nhuận được biểu hiện tập trung ở một trong những đòn bẩy kinh tế
có hiệu lực nhất kích thích mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, lợi nhuận còn là nguồn tài chính quan trọng dùng để tái sản xuất mở rộng
kinh doanh và nâng cao đời sống người lao động trong doanh nghiệp. Xuất phát từ vai
trò lớn của lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc đi sâu tìm hiểu về
lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận để từ đó có biện pháp tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp là một việc làm rất thiết thực và hết sức cần thiết. Chi phí sản xuất
kinh doanh là một trong những nhân tố ảnh hưởng quyết định tới lợi nhuận. Vì vậy, để
tối đa hóa lợi nhuận các nhà quản lý doanh nghiệp có nhiều cách nhưng cách thường
dùng là phải xem xét mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa hiện nay, ngành xây dựng của nước ta đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước. Ngành xây dựng
là một trong những ngành sản xuất mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, chiếm vị trí
2. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Để thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu những đề tài khoa học có liên quan
nhằm kế thừa những thành công của các đề tài đó và phát triển tính mới trong đề tài
của mình.
Đề tài: “Mối quan hệ chi phí và lợi nhuận tại công ty cổ phần SX - DV - XNK
Từ Liêm. Một số giải pháp để tối đa hóa lợi nhuận tại công ty” của sinh viênTrần Thị
Tuyến (2010) trong Luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Thương Mại. Đề tài này đề
cập đầy đủ đến các lý thuyết chung về chi phí, lợi nhuận, mối quan hệ giữa chúng. Ưu
điểm lớn của đề tài là tác giả đã phân tích khá đầy đủ thực trạng thực hiện chi phí qua
các số liệu chi tiết trong vòng 5 năm, có sự so sánh thay đổi tỷ trọng qua từng năm.
Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ được các nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới sự tăng chi phí
cũng như các giải pháp đưa ra để tối đa hóa lợi nhuận còn sơ sài, chưa bám sát với tình
hình của doanh nghiệp, chưa dựa vào năng lực thực tế của doanh nghiệp để đề ra
những giải pháp phù hợp mà mới chỉ là những giải pháp chung cho toàn ngành.
Trong khi đó đề tài: “Kiểm định mối quan hệ chi phí - lợi nhuận và một số giải
pháp tối ưu hóa chi phí kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận tại công ty TNHH Tân
Thành An” của sinh viên Đỗ Thị Hương (2009) trong Luận văn tốt nghiệp, trường Đại
4
học Thương Mại. Đề tài này lại đi sâu vào phân tích mối quan hệ chi phí - lợi nhuận
nhất là trong năm 2008 khi tình hình kinh doanh bị ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái
kinh tế toàn cầu, điều này là cần thiết để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục
các ảnh hưởng đó một cách kịp thời. Tuy nhiên, nhiều phần phân tích còn dài dòng
chưa đi sâu vào trọng tâm khiến bài luận bị dàn trải, chưa thấy rõ được các nhân tố
môi trường có ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực thế nào và làm thế nào để nắm
bắt được những nhân tố tích cực đó nhằm tối thiểu hóa chi phí kinh doanh của doanh
nghiệp. Ngoài ra, tác giả cũng chưa đưa ra được những biện pháp khác để tối đa hóa
lợi nhuận ngoài các giải pháp về tối thiểu hóa chi phí.
Với đề tài:“Lợi nhuận và một số giải pháp gia tăng lợi nhuận đối với công ty
gia dầy Hà Nội” của sinh viên Nguyền Thị Chi (2009) trong Luận văn tốt nghiệp,
trường Đại học Thương Mại và đề tài: “Mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận và một
đề tài còn phân tích thêm mô hình chi phí, lợi nhuận để thấy rõ được mối quan hệ giữa 2
đại lượng này. Từ đó tác giả có đưa ra các biện pháp giảm thiểu chi phí hợp lý hơn với
mong muốn giúp công ty khắc phục những hạn chế trong thực tế.
Qua quá trình nghiên cứu tại công ty cổ phần xây dựng SUDICO, tác giả nhận
thấy việc thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh tại công ty chưa thực sự hiệu quả. Bên
cạnh đó việc tính toán khả năng thi công các công trình của công ty và các chi phí sản
xuất tương ứng để lựa chọn và quyết định phương án kinh doanh vẫn chưa đạt được
mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. Với mong muốn giúp công ty khắc phục những hạn
chế đó trong đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
• Trình bày lý luận về chi phí và lợi nhuận, mối quan hệ chi phí - lợi nhuận.
• Tình hình thực hiện chi phí và lợi nhuận của công ty hiện nay.
• Kiểm định mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận tại công ty bằng cách sử dụng
mô hình kinh tế để ước lượng và các phần mềm kinh lượng.
• Giải pháp và kiến nghị giúp công ty có thể tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi
nhuận.
4. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Mục tiêu nghiên cứu.
Những vấn đề được nghiên cứu trong đề tài này có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển của công ty. Tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đạt được một
số mục tiêu sau:
• Mục tiêu nghiên cứu về mặt lý luận
Tác giả nghiên cứu lý luận chung về chi phí và lợi nhuận, vai trò của chi phí và
lợi nhuận đối với công ty. Phân tích các nhân tố làm ảnh hưởng đến chi phí và lợi
nhuận.
• Mục tiêu nghiên cứu về mặt thực tiễn
Về mặt thực tiễn tác giả nghiên cứu nhằm đạt được một số mục tiêu sau:
6
- Phân tích thực trạng mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận tại công ty cổ phần xây
dựng SUDICO.
- Xây dựng các mô hình ước lượng để biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận.
tiêu đề ra hay chưa. Từ đó đưa ra kết luận về việc thực hiện chi phí và lợi nhuận tại
công ty, cùng với những ưu điểm cũng như những hạn chế mà công ty gặp phải trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
7
5.2. Phương pháp phân tích định lượng
Phương pháp phân tích định lượng là phương pháp thu thập dữ liệu bằng số và
giải quyết quan hệ trong lý thuyết và nghiên cứu theo quan điểm diễn dịch. Phương
pháp phân tích định lượng dựa vào dữ liệu thu thập được từ các số liệu kế toán bao
gồm cả kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết về chi phí, lợi nhuận và doanh thu từ
phòng kế toán của công ty, tác giả tiến hành phân tích định lượng bằng các phương
pháp sau:
5.2.1. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp so sánh, đối chiếu là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích
bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu
chuẩn để so sánh là doanh thu, lợi nhuận, chi phí, kim ngạch nhập khẩu của các năm
trước so với năm sau. Trên cơ sở so sánh để đưa ra kết luận những yếu tố nào tăng,
giảm hay không đổi qua các năm.
Thông qua những số liệu về chi phí và lợi nhuận đã thu thập được qua các năm,
tác giả tiến hành so sánh đối chiếu, xem xét lợi nhuận của năm sau thu được có cao
hơn năm trước nó hay không, chi phí bỏ ra tương ứng của các năm có chênh lệch
nhiều không, lợi nhuận thu về có đáng với chi phí bỏ ra hay chưa. Từ đó đánh giá xem
tình hình hoạt động của công ty đang ở mức độ nào, có những mặt mạnh nào cần phát
huy và mặt yếu cần khắc phục. Và vấn đề này sẽ tiếp tục được giải quyết ở chương 2.
5.2.2. Phương pháp biểu đồ, đồ thị
Phương pháp biểu đồ, đồ thị là phương pháp sử dụng các sơ đồ hình vẽ về cung
cầu, các đồ thị về cơ chế tỷ giá hay hình vẽ, biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa tỷ giá
hối đoái với kim ngạch nhập khẩu, chi phí, doanh thu, lợi nhuận. Thông qua các biểu
đồ, bảng biểu sẽ giúp ta đánh giá mối tương quan giữa các đại lượng để có thể phân
tích dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được.
Tác giả sử dụng phương pháp này để biểu diễn các số liệu thu thập được dưới
doanh nghiệp đạt được mục tiêu cụ thể. Tức là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt
động kinh tế như sản xuất, giao dịch… nhằm mua được các loại hàng hóa dịch vụ cần
thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo Giáo trình kinh tế học vi mô, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội (2006), thì
“chi phí sản xuất là số tiền mà một nhà sản xuất hay doanh nghiệp phải chi để mua các
yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thu lợi
nhuận”.
Còn theo Mankiw (2006) lại chỉ ra rằng “chi phí của một thứ là các mà bạn phải
bỏ ra để có được thứ đó”.
Như vậy, chi phí là toàn bộ các phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành
sản xuất kinh doanh trong một giai đoạn nhất định.
1.1.1.2. Phân loại chi phí
Căn cứ vào nội dung và tính chất của các khoản chi, các loại chi phí được phân
thành:
- Chi phí cơ hội
Các quyết định đều có chi phí cơ hội, bởi vì lựa chọn một việc trong một thế
giới của sự khan hiếm có nghĩa là phải từ bỏ một việc khác.
Theo Samuelson (2007) cho rằng “chi phí cơ hội là giá trị của hàng hóa hoặc
dịch vụ phải từ bỏ để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ đó”.
Còn theo McConnell (2003): “chi phí cơ hội là giá trị bị mất đi do không sử
dụng nguồn lực vào phương án bị bỏ qua tốt nhất”.
Tóm lại, chi phí cơ hội của việc sử dụng nguồn lực là toàn bộ những chi phí mà
doanh nghiệp phải đánh đổi để có thể sử dụng các nguồn lực nhằm sản xuất ra hàng
hóa, dịch vụ.
- Chi phí kế toán
Theo Nicholson (2003) cho ra rằng “chi phí kế toán là toàn bộ các chi phí mà
doanh nghiệp đã thực chi ra để sản xuất hàng hóa và dịch vụ”. Nó chính là chi phí
hiện.
10
- Chi phí kinh tế
cơ hội.
Lợi nhuận kế toán = Doanh thu - chi phí kế toán
- Lợi nhuận kinh tế: Lợi nhuận kinh tế được xác định bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí
kinh tế. Lợi nhuận kinh tế nhỏ hơn lợi nhuận kế toán do khi tính toán ta phải trừ đi
những khoản chi phí cơ hội của doanh nghiệp mất đi khi thực hiện dự án kinh doanh
này.
11
Lợi nhuận kinh tế = Doanh thu - chi phí kế toán - chi phí cơ hội
1.2.MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN
1.2.1.Lý thuyết chung về chi phí
1.2.1.1. Các chỉ tiêu phản ánh chi phí sản xuất
Các chỉ tiêu về tổng chi phí
- Tổng chi phí (TC)
Theo Nguyễn Văn Dần (2006) thì “tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp là
toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra cho tất cả yếu tố sản xuất biến đổi trong mỗi
đơn vị thời gian”, bao gồm 2 bộ phận cấu thành: Chi phí cố định và chi phí biến đổi
(TC = TFC + TVC).
Theo Samuelson (2007): “tổng chi phí là phí tổn bằng tiền tối thiểu cần để sản
xuất ra mỗi mức sản lượng Q”. Tổng chi phí tăng lên khi Q tăng.
Q
0
TVC
TFC
TC
C
C
0
Hình 1.2.1. Đồ thị các đường tổng chi phí
- Tổng chi phí cố định (TFC)
Theo Thomas (2003) thì “tổng chi phí cố định là một khái niệm sản xuất ngắn
Khối lượng hàng hóa được sản xuất ra cũng là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến
chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Rõ ràng là khi khối lượng hàng hóa được sản xuất
ra tăng lên thì cũng đồng nghĩa với chi phí sản xuất cũng sẽ tăng lên. Vì vậy, việc xác
định được khối lượng hàng hóa cần sản xuất tối ưu sẽ chính là một trong những
phương pháp để tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp với mức chi phí tối thiểu.
c) Các yếu tố khác
Ngoài các yếu tố trên thì chi phí của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố khác như: Trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, sự thành
thạo nghiệp vụ, hiểu biết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình
hình diễn biến thị trường…những yếu tố này cũng có tác động khá mạnh chi phí sản
xuất của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần phải có những chiến lược và chính
sách phù hợp góp phần tối thiểu hóa chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
1.2.1.3. Vai trò của chi phí đối với hoạt động sản xuất
Doanh nghiệp muốn thực hiện các mục tiêu kinh doanh thì doanh nghiệp phải
bỏ ra những chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chưa có chi phí thì doanh
nghiệp không thể tồn tại và hoạt động được. Điều này được thể hiện rõ hơn trong công
thức tính lợi nhuận đó là:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
13
Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bao gồm chi phí cho việc sản xuất sản phẩm, chi
phí tổ chức tiêu thụ sản phẩm và những khoản tiền thuế gián thu nộp cho nhà nước…
Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác nhau thì nội dung cơ cấu
chi phí sẽ không giống nhau. Điều quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp là phải
luôn quan tâm đến tiết kiệm chi phí vì nếu chi phí không hợp lí, không đúng với thực
tế của nó đều gây ra những trở ngại trong quản lý và đều làm giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp.
Như vậy, doanh nghiệp muốn thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng
mà bất cứ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế cũng đều phải quan tâm là giảm chi
phí sản xuất, vì giảm một đồng chi phí có nghĩa là tăng một đồng lợi nhuận trong điều
kiện các yếu tố khác không đổi. Lợi nhuận có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát
tiêu thụ và thu hồi vốn: Khi dịch vụ của doanh nghiệp tốt cùng với mức giá bán hàng
hóa hợp lý thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng khi đó doanh thu của doanh nghiệp sẽ
tăng nhanh kéo theo lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng theo.
Như vậy, có rất nhiều yếu tố tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Những
nhân tố đó có thể ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận hay cũng có thế nhân tố góp phần
thúc đẩy tăng lợi nhuận. Vì vậy, các doanh nghiệp cần có chiến lược và phương án
kinh doanh hợp lý để không ngừng tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp
Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp nên mục tiêu của mọi quá trình kinh
doanh đều gắn liền với lợi nhuận và tất cả các doanh nghiệp đều mong muốn tối đa
hóa lợi nhuận. Các doanh nghiệp đều mong muốn tối đa hóa lợi nhuận. Các doanh
nghiệp sẽ không tồn tại nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh không mang lại lợi
nhuận cho họ. Lợi nhuận là căn cứ để đánh giá năng lực về nhân sự, năng lực tài
chính, năng lực về quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận được coi là một đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ
tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là
nguồn tích lũy quan trọng giúp doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh, là điều kiện để củng cố thêm sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp
trên thương trường. Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo tái sản xuất
được mở rộng. Hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo
được một khoản lợi nhuận để có thể bổ xung vào nguồn vốn đầu tư, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển ổn định
được, làm cơ sở để doanh nghiệp huy động vốn bên ngoài được dễ dàng.
1.2.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận
1.2.3.1. Mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận
Mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận (π = TR – TC) được thể hiện thông qua
sự tiếp cận từ tổng doanh thu (TR) và tổng chi phí (TC).
15
Hình 1.2.3.1 Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận
2
thì doanh nghiệp có lãi (π >
0). Doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận tại mức sản lượng Q
*
, khi khoảng cách giữa TR
16
và TC là lớn nhất và chính bằng đoạn EF. Với E, F là 2 tiếp điểm của tiếp tuyến song
song của TR và TC, khi đó độ dốc của 2 đường TR và TC là như nhau, khi đó MR =
MC. Khi sản lượng từ Q
1
đến Q
*
, khi đó MR > MC nghĩa là khi sản lượng tăng thì lợi
nhuận của doanh nghiệp tăng. Khi sản lượng tăng từ Q
*
đến Q
2
, lúc này MR < MC,
điều này phản ánh tốc độ tăng của tổng chi phí lớn hơn tổng doanh thu nên lợi nhuận
của doanh nghiệp giảm.
- Khi TR > TC tương ứng với mức sản lượng Q < Q
1
hoặc Q > Q
2
, vì tổng doanh thu
không đủ bù đắp tổng chi phi phí nên doanh nghiệp bị thua lỗ (π < 0).
1.2.3.2. Tối đa hóa lợi nhuận
Theo Nicholson (2003) thì nếu một công ty theo đuổi mục tiêu đạt tối đa hóa lợi
nhuận thì họ sẽ tìm cách làm cho sự khác biệt giữa tổng doanh thu và tổng chi phí lớn
nhất có thể.
. Với một mức sản lượng thấp hơn Q
*
như mức sản lượng Q
1
(tại điểm đường
MC đi xuống) trên hình vẽ có doanh thu cận biên lớn hơn chi phí cận biên. Như vậy,
việc mở rộng sản xuất sẽ làm tăng lợi nhuận hoặc giảm bớt phần thua lỗ. Còn nếu
doanh nghiệp vẫn sản xuất tại mức sản lượng Q
1
thì khi đó sẽ lỡ mất đi một phần lợi
nhuận bằng diện tích của tam giác ABE ở mức sản lượng cung ứng ra thị trường thấp
hơn mưc sản lượng cung ứng tối ưu. Phía bên phải của Q
*
, MC vượt quá MR (tại điểm
đường MC đi lên). Việc mở rộng sản xuất sẽ làm tăng chi phí nhiều hơn mức doanh
thu và lúc này việc thu hẹp sản xuất sẽ tiết kiệm chi phí nhiều hơn so với doanh thu bị
mất. Vì động cơ lợi nhuận, sản lượng sẽ được tăng lên ở bên trái Q
*
và được giảm ở
bên phải Q
*
như được biểu thị ở mũi tên trong hình trên. Động cơ này sẽ dẫn các hãng
kinh doanh đến việc lựa chọn mức sản lượng Q
*
. Và cũng chính ở Q
*
doanh thu cận
biên đúng bằng chi phí cận biên.
1.3.NỘI DUNG VÀ NGUYÊN LÝ GIẢI QUYẾT VỀKIỂM ĐỊNH MỐI QUAN
HỆ GIỮA CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN
ROS = Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần
Hệ số lợi nhuận ròng phản ánh khoản thu nhập ròng của một doanh nghiệp so
với doanh thu của nó. Hệ số càng cao càng tốt vì nó phản ánh hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp trong một đồng doanh thu doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận sau thuế.
1.3.2.Nguyên lý kiểm định mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận
Để phân tích rõ tình hình thực hiện chi phí và lợi nhuận và giải pháp tối thiểu
hóa chi phí, tác giả sẽ tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng, thu thập số liệu về
chi phí, lợi nhuận và doanh thu từ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, sau đó sử
dụng phương pháp thống kê và phân tích để xử lý dữ số liệu. Đề tài nghiên cứu yêu
cầu đánh giá chính xác mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận. Vì vậy nên tác giả sẽ đi
xây dựng mô hình ước lượng như sau:
- Hàm biểu diễn ảnh hưởng của nhân tố chi phí đến lợi nhuận có dạng như sau:
Y = a + b*X
Tác giả Sử dụng phương pháp bình quân nhỏ nhất OLS để tiến hành ước lượng
mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận. Thông qua phần mềm Eviews để tiến hành ước
lượng mô hình.
Từ những kết quả đã được ước lượng được, tác giả sẽ tìm được mối quan hệ tỷ
lệ của chi phí và lợi nhuân cho công ty. Mối quan hệ chi phí - lợi nhuận của công ty là
tỷ lệ thuận nếu tham số b > 0, điều này chỉ ra rằng khi chi phí tăng thì lợi nhuận cũng
tăng theo, chi phí giảm thì lợi nhuận giảm. Chi phí và lợi nhuận có mối quan hệ tỷ lệ
nghịch nếu tham số b < 0, khi đó chi phí tăng thì lợi nhuận giảm hoặc chi phí giảm thì
lợi nhuận tăng.
- Hàm biểu diễn ảnh hưởng của nhân tố lợi nhuận đến chi phí có dạng như sau:
19
X = c + d*Y
Tác giả sử dụng phương pháp bình quân nhỏ nhất OLS để tiến hành ước lượng
mối quan hệ giữa chi phí và lợi nhuận. Thông qua phần mềm Eviews để tiến hành ước
lượng mô hình.
Từ những kết quả đã được ước lượng được, tác giả sẽ tìm được mối quan hệ tỷ
công trình đường dây, trạm biến thế điện…
- Kinh doanh phát triển nhà ở, trụ sở cơ quan, khách sạn…
- Tư vấn thiết kế xây dựng.
- Kinh doanh bất động sản
- Kinh doanh các dịch vụ bất động sản.
- Kinh doanh khai thác các dịch vụ về nhà ở, khu đô thị và khu công nghiệp.
- Tư vấn thiết kế kỹ thuật, quy hoạch chi tiết đô thị và khu công nghiệp, tư vấn thiết kế
công trình dân dụng, công nghiệp.
2.1.2. Các nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần xây dựng SUDICO – Sông Đà
2.1.2.1. Nhân tố chủ quan
- Cơ sở vật chất kỹ thuất của công ty: Cơ sở vật chất quyết định một phần không nhỏ
chất lượng sản phẩm của công ty. Thiết bị, máy móc công ty gồm nhiều loại mới, hiện
đại như: máy hàn, máy sản xuất gạch các loại, máy đào, máy ủi, máy đầm, máy khoan
đá, cẩu các loại, máy trộn bê tông, máy nghiền sàng. Năm 2011 và 2012 do công ty
mua thêm nhiều máy móc thiết bị mới nên chi phí tăng cao. Nhưng chất lượng công
21
trình thi công được đảm bảo hơn, do đó sản phẩm của công ty tạo được uy tín chất
lượng cao, vì thế mà lợi nhuận của hai năm này vẫn tăng.
- Các chính sách kinh doanh, chính sách quản lý công ty: Giá vốn các công trình chiếm
một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí của công ty. Do đó công ty chú trọng rất nhiều đến
khâu thu mua nguyên vật liệu. Công ty luôn căn cứ vào kế hoạch thi công theo tiến độ
chung và từng thời gian để có kế hoạch nhập nguyên vật liệu. Trước khi thu mua
nguyên vật liệu cần nắm vững tình hình thị trường và nhu cầu tiêu dùng để phối hợp
với các bộ phận thi công và thiết kế để sử dụng.
- Yếu tố về người lao động: Đội ngũ cán bộ là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển
của công ty. Đội ngũ quản lý, nhân viên văn phòng của công ty hầu hết đều có trình độ
đại học trở lên. Lao động lành nghề, nhiều kinh nghiệm là yếu tố quan trọng quyết
định chất lượng thi công công trình xây dựng, nhất là với đặc thù của nghành liên quan
trực tiếp đến tính mạng của người sử dụng công trình.
cũng tác động tới hiệu quả kinh doanh của công ty. Để giảm tác động này, công ty
phải thường xuyên đốc thúc khách hàng thánh toán đúng hạn các hợp đồng đã giao.
- Đối thủ cạnh tranh: Một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là sự
cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Đặc biệt là kể từ khi gia nhập WTO, các
doanh nghiệp Việt Nam không những chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước
mà còn phải cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Bởi vậy các doanh nghiệp phải
không ngừng tìm hiểu thị trường, đối thủ cạnh tranh, xây dựng cho mình một thương
hiệu riêng, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, phong phú đa dạng với giá cả hợp
lý.
2.2. THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ VÀ LỢI NHUẬN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SUDICO – SÔNG ĐÀ
2.2.1. Tình hình thực hiện chi phí và lợi nhuận của công ty cổ phần xây dựng
SUDICO – Sông Đà
2.2.1.1. Thực trạng về doanh thu
Để hiểu rõ hơn thực trạng về doanh thu của công ty cổ phần xây dựng
SUDICO, tác giả sẽ phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong giai
đoạn 2010 - 2012. Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ 2010 – 2012
ở Phụ lục 1 ta thấy: Doanh thu của công ty các năm đều tăng lên (tốc độ tăng trưởng
của các năm đều dương). Cụ thể doanh thu năm 2012 cao gấp 1,3 lần so với năm 2011,
năm 2011 thì có doanh thu gấp 1,5 lần so với năm 2010.
Năm 2010, công ty có doanh thu đạt 84% so với kế hoạch đặt ra là do nguồn
công việc của công ty chủ yếu phụ thuộc vào các dự án như: Dự án khu đô thị Nam An
Khánh, dự án khu đô thị Văn La - Văn Khê. Nhưng trên thực tế hầu hết các hạng mục
công trình tại các dự án này chưa triển khai nhiều, khối lượng công việc nhận được
đều nhỏ lẻ và đã có nhà thầu thi công từ trước nên nguồn công việc của công ty là rất
hạn chế do vậy kế hoạch đã đặt ra chưa hoàn thành.
Năm 2011, công ty có doanh thu cao gấp 1,5 lần so với năm 2010 là do tác
động tích cực từ việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên công ty chỉ đạt
39% doanh thu so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do các công trình đơn vị thi
23
bị mới phục vụ thi công công trình như máy xúc, máy ủi, máy đầm , công ty cũng
thuê thêm các kho bãi cất chứa nguyên vật liệu xây dựng. Điều này cho thấy quy mô
sản xuất kinh doanh của công ty đang được mở rộng, vì thế nên chi phí biến đổi cũng
tăng mạnh là do công ty thi công nhiều công trình hơn, công ty phải thuê thêm nhiều
nhân công và thu mua nguyên vật liệu với số lượng lớn hơn nhiều so với năm 2010.
24
Giá cả nguyên vật liệu chịu ảnh hưởng bởi lạm phát dẫn tới chi phí biến đổi tăng hơn
nhiều so với năm 2010.
Năm 2012, quy mô sản xuất kinh doanh của công ty được mở rộng hơn so với
năm 2011 dẫn tới sự tăng lên về chi phí cố định dùng vào việc đầu tư mua sắm trang
thiết bị, máy móc kỹ thuật, nhà xưởng, kho bãi. Đồng thời, công ty cũng cần thuê thêm
nhân công và mua nguyên vật liệu xây dựng phục vụ thi công nên dẫn tới việc chi phí
biến đổi tăng. Thêm vào đó, công ty còn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn
cầu, giá cả của nguyên vật liệu xây dựng tăng cao hơn năm 2011, dẫn tới chi phí biến
đổi của công ty tăng cao đột ngột.
Tỷ suất chi phí, chi phí cố định, chi phí biến đổi/doanh thu
Tỷ suất chi phí/doanh thu cho biết khoản chi phí mà công ty phải bỏ ra để có
được một đồng doanh thu. Tỷ suất này càng bé thì càng tốt cho công ty.
Nhìn vào bảng tỷ suất chi phí của công ty cổ phần xây dựng SUDICO năm
2010 - 2012 ở Phụ lục 3 ta thấy rằng: Năm 2012 là năm có tổng chi phí là lớn nhất, có
doanh thu cao nhất trong giai đoạn 2010 - 2012. Tuy nhiên, đây cũng là năm có tỷ suất
chi phí/doanh thu là lớn nhất cụ thể là 71%. Tỷ suất chi phí/doanh thu qua các năm
2010 và 2011 lần lượt là 67% và 66%. Điều này có nghĩa là trong năm 2010 để có
được 100 đồng doanh thu thì công ty phải bỏ ra 67 đồng chi phí, năm 2011 để có được
100 đồng doanh thu công ty phải bỏ ra 66 đồng chi phí,còn năm 2012 đề thu được
được 100 đồng doanh thu thì công ty phải bỏ ra 71 đồng chi phí. Tỷ suất trên cao hơn
so với các ngành khác là do đặc thù của doanh nghiệp xây dựng, hàng hóa chủ yếu là
các công trình xây lắp và bất động sản với giá trị mua vào lớn cộng với sự đóng băng
của ngành xây dựng khiến cho công ty thu được một khoản doanh thu cao nhưng cũng
phải bỏ ra khoản chi phí lớn tương ứng. Tuy nhiên, qua bảng 2.1 ta cũng thấy rõ rằng