VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ NAM LỮ
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGƯỜI RAGLAI Ở
TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ VĂN VIÊN
HÀ NỘI - 2016
MỞ ĐẦU................................................................................................................................3
Chương 1..............................................................................................................................12
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, TẦM
QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGƯỜI RAGLAI Ở
TỈNH NINH THUẬN HIỆN NAY......................................................................................12
1.1. Nguồn nhân lực và thực chất của việc phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện
nay...............................................................................................................................12
1.2. Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực người Raglai ở tỉnh ninh
thuận hiện nay.............................................................................................................33
Chương 2..............................................................................................................................46
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong thời kỳ mới, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã quan tâm sâu sắc đến việc phát triển nguồn nhân lực. Trải
qua các kỳ đại hội khác nhau, vấn đề con người, phát huy nhân tố con người, phát
triển nguồn nhân lực luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta. Đại hội IX (2001)
Đảng ta đã nêu rõ: “Đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố
quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đến
Đại hội XI (2011) Đảng ta tiếp tục xác định một trong ba khâu đột phá để thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 là “phát triển nhanh
nguồn nhân lực cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục
quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng
khoa học công nghệ”.
Ninh Thuận là một tỉnh ven biển duyên hải Nam trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh
Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía
Đông giáp Biển Đông. Tỉnh được tái lập tỉnh từ ngày 01/4/1992 từ tỉnh Thuận Hải,
là một vùng đất có rất nhiều tiềm năng về du lịch, thủy hải sản, nông nghiệp. Tuy
nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa khai thác có hiệu quả các lợi thế mà thiên
nhiên mang lại này, một trong những lý do là nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn
chế. Hiện nay, Ninh Thuận có 34 dân tộc ít người cùng sinh sống với tổng số
3
33.538 hộ/150.768 khẩu, chiếm 22,79% dân số toàn tỉnh. Trong đó, dân tộc Raglai
là dân tộc chiếm số lượng đông thứ ba (sau dân tộc Kinh chiếm 76,5%, dân tộc
Chăm chiếm 11,9%, dân tộc Raglai chiếm 9,95%, còn lại là các dân tộc khác) trên
địa bàn tỉnh. Đồng bào dân tộc Raglai tập trung sinh sống chủ yếu ở các xã miền núi
còn nhiều khó khăn, một số ít ở huyện Ninh Hải, huyện Ninh Phước, huyện Thuận
Nam, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm,... Chính điều này, việc khai thác những
tiềm năng, thế mạnh của Ninh Thuận để đưa đồng bào các dân tộc nói chung và
đồng bào dân tộc Raglai nói riêng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, từng bước xây
dựng đời sống văn minh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần góp phần cùng cả
phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và việc xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện, vận dụng tư tưởng đó vào Việt Nam.
+ Công trình KHCN cấp nhà nước KX - 07, “Con người Việt Nam - Mục tiêu
và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, năm 1995.
+ Nguyễn Trọng Chuẩn (1994), “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học, (2), tr.29-35.
+ Hoàng Chí Bảo (1998), “Lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về con
người”, Tạp chí Triết học, (4), tr.19 – 26.
+ Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy
nguồn lực con người”, Tạp chí Triết học, (1), tr.20 – 24.
+ Phạm Ngọc Anh (1995), “Nguồn lực con người, nhân tố quyết định của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận.
+ Nguyễn Như Diệm (1989), “Tổng thuật: Nhân tố con người và tính tích
cực hòa nhân tố con người. Khái niệm và vấn đề”, Thông tin khoa học - xã hội,
tháng 1.
+ Lê Khả Phiêu (1998), “Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp
tục thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam”,
Tạp chí Phát triển giáo dục.
+ Viện thông tin khoa học xã hội (1995), Con người và nguồn lực con người
trong phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề phát triển con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5
+ Nguyễn Đình Hòa (2004), “Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tạp chí Triết học, (1).
+ Đoàn Văn Khái (1995), “ Nguồn lực con người - Yếu tố quyết định sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”, tạp chí Triết học, (4).
+ Nguyễn Thế Kiệt (2008) "Xây dựng và phát triển con người, nâng cao
thành quả nghiên cứu về người Raglai trong nước và trên thế giới kết hợp với nguồn
tài liệu điều tra, nghiên cứu điền dã, các tác giả hệ thống hoá và làm rõ lịch sử phát
triển tộc người Raglai, các loại hình kinh tế, đời sống văn hoá vật chất và tinh thần
cùng với cấu trúc xã hội truyền thống của người Raglai.
+ Phan Quốc Anh với công trình Văn hoá Raglai những gì còn lại do Nhà
xuất bản Văn hoá Dân tộc phát hành vào 2007. Nội dung chính của tác phẩm gồm
có 2 phần (Văn hoá truyền thống và Văn hoá đương đại) chia làm 12 chương. Trong
phần Văn hoá truyền thống, tác giả đã trình bày, giới thiếu khái quát về quá trình
phát triển tộc người Raglai, văn hoá làng, tộc họ và gia đình, lễ hội, văn học dân
gian, âm nhạc, trò chơi dân gian, ẩm thực, trang phục, nhà ở, nhà mồ và nghề thủ
công truyền thống. Trong phần Văn hoá đương đại, tác giả trình bày về giáo dục
của người Raglai từ bậc tiểu học đến đại học và công tác xây dựng đời sống văn hoá
cơ sở cùng kết quả của nó.
+ Văn hoá Raglai của tập thể tác giả Phan Quốc Anh, Nguyễn Hải Liên,
Đình Hy, Sử Văn Ngọc, Thập Liên Trưởng, Văn Món, Lê Xuân Lợi, Nguyễn Tuấn
Triết, Phú Văn Hẳn do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành vào năm 2010,
gồm có 341 trang được chia thành 10 chuyên đề tương đương với 10 chương. Để
hoàn thành công trình nghiên cứu của mình, tác giả. Với một lực lượng nghiên cứu
có nhiều uy tín, công trình “Văn hoá Raglai” đã khái quát được lịch sử hình thành
và phát triển tộc người Raglai ở tỉnh Ninh Thuận. Đặc biệt, công trình đã đề cập
chuyên sâu vào văn hoá làng, tộc họ, gia đình, lễ nghi, văn học, âm nhạc, ẩm thực,
trang phục, tang ma và nghề thủ công truyền thống
Phần lớn các công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích đến vấn đề phát
huy, phát triển nhân tố con người, nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau.
Hay những luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ có liên quan đến đồng bào dân tộc
Raglai như tìm hiều về văn hóa, phong tục, tập quan, lễ hội, ảnh hưởng của tín
ngưỡng, luật tục, giáo dục pháp luật… của đồng bào Raglai. Nhưng cho đến nay
8
số liệu hiện có trong báo cáo tổng kết và số liệu thống kê của các tổ chức chính
quyền giai đoạn từ năm 2011 đến 2015.
Về không gian, phân bố của đồng bào Raglai rải rác trên các huyện, thành
trong tỉnh. Song, đồng bào Raglai sống chủ yếu tập trung ở huyện Bác Ái và huyện
Thuận Bắc là đông nhất. Với điều kiện và quy mô có hạn, luận văn tập trung nghiên
cứu nguồn lực đồng bào Raglai ở hai huyện này là chủ yếu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Là công trình nghiên cứu triết học, luận văn dựa trên nền tảng thế giới quan,
phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về phát triển nguồn nhân lực.
Luận văn vận dụng quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn
đề con người, về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp cùng các phương pháp khác như: phương pháp điều
tra xã hội học (khảo sát thực tế) để xử lý các số liệu, trao đổi, phỏng vấn, phân tích tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, lịch sử logic.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn những quan điểm lý luận về nguồn nhân
lực và phát triển nguồn nhân lực của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và của Đảng ta trong quá trình hội nhập quốc tế.
* Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng phát triển nguồn nhân lực đồng bào
Raglai ở tỉnh Ninh Thuận, đồng thời đề xuất những giải pháp có tính gợi mở nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, có chính sách đãi ngộ phù hợp nguồn nhân lực
đồng bào Raglai. Các kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
yếu được các nhà khoa học nghiên cứu tiếp cận trên các góc độ sau:
Lý luận về lực lượng sản xuất (LLSX), con người được coi là LLSX hàng
đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của LLSX,
quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã
hội. Trong lý luận về LLSX, con người được xem xét từ góc độ là lực lao động cơ
bản của xã hội.
Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như một phương
tiện chủ yếu, bảo đảm tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ.
Lý luận về vốn, con người được đề cập dưới góc độ như một loại vốn (vốn
người, "tư bản người"), một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất và kinh
doanh. Dưới cách tiếp cận lý luận về vốn, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng,
nguồn lực con người được hiểu là toàn bộ vốn người (bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ
năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Theo đó Tổ chức Liên Hiệp quốc cũng có cách tiếp cận và nhìn nhận tương
tự khi cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực
của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Quan niệm này xem xét
nguồn lực con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển của xã hội.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại
vốn vật chất khác như: vốn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. . .
12
Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được
hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao
động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó,
nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa
hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội là nguồn lực cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng
tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức càn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào
với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ
điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động" [13, tr.12].
Hay như GS.TS Hoàng Chí Bảo định nghĩa: "Nguồn lực con người là sự kết
hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả động và
triển vọng mới phát triển của con người [7, tr.14 - 15 ].
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người được cập
đến như một "nguồn vốn" tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành đó là sức
lực và trí tuệ, khối lượng cùng các đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ
văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc. . . Ở
đây, nhân tố con người được xem xét với một tư cách là yếu tố cơ bản của quá
trình sản xuất, một nguồn lực chủ yếu để phát triển kế - xã hội.
Quan niệm về "nguồn nhân lực" trong tư tưởng phát triển con người của tư
tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc đào tạo những người con ưu tú,
làm thay đổi căn bản vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Theo Người, con
người toàn diện phải được tự do, được hạnh phúc, con người phải được giải phóng,
được giáo dục - đào tạo và được sống trong xã hội hòa bình ổn định. Để phát triển
con người toàn diện, ắt phải tiến tới chủ nghĩa xã hội. Theo Người: "Nói một cách
tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động
thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được
sống một đời hạnh phúc" [34, tr.415] và: Con người vừa là mục tiêu, đồng thời vừa
là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con
người.
14
Do đó, nguồn lực con người được coi là một thứ tài nguyên vô cùng quý
giá, là một nguồn lực quan trọng nhất, là "nguồn lực của mọi nguồn lực". Nghị
quyết Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII có viết:
Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt
Như vậy, khi nói đến nguồn lực con người và vai trò của nó là phải xem xét
con người với tư cách là chủ thể, vừa với tư cách là khách thể của các quá trình
kinh tế - xã hội. Là chủ thể, con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác hiện
có, đồng thời qua đó góp phần tạo ra các nguồn lực mới, để duy trì sự tồn tại và
phát triển xã hội. Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về
thể lực và trí lực cho mục tiêu phát triển xã hội. Dĩ nhiên, hai tư cách này tồn tại
không tách rời nhau, vì lẽ khi khai thác các nguồn lực khác con người tất yếu phải
sử dụng trí lực và thể lực của mình, chính con người với sức lực và trí tuệ của
mình quyết định mục tiêu, cách thức, nội dung và hiệu quả khai thác các nguồn lực
khác. Ngược lại, quá trình khai thác trí lực và thể lực ở con người đều có quan hệ
với các nguồn lực khác ở các mức độ khác nhau. Do vậy, nguồn lực con người giữ
vị trí trung tâm không chỉ trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội mà
còn của chính sự phát triển xã hội.
1.1.1.2. Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
Với khái niệm về nguồn nhân lực như trên thì có thể thấy rõ những đặc trưng
cơ bản của nguồn nhân lực như sau:
Thứ nhất, đặc trưng về mặt sinh học
Triết học Mác - Lênin đã khẳng định rằng: lao động là hoạt động bản chất
của con người. Đó chính là quá trình con người chế tạo ra công cụ lao và dùng nó
để tác động vào giới tự nhiên, tạo ra sản phẩm để phục vụ cho cuộc sống, đồng thời
qua đó làm biến đổi giới tự nhiên sáng tạo ra thế giới của mình. Con người không
chỉ sống trong môi trường tự nhiên, mà còn sống môi trường xã hội, nên tự nhiên và
xã hội trong mỗi con người có sự gắn bó khăng khít với nhau. Yếu tố sinh học trong
mỗi con người không chỉ tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng còn hòa quyện
vào nhau và tồn tại trong yếu tố xã hội. Bản chất tự nhiên của con người được
chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến đi ở trong đó.
16
giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe,
18
lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính" [23,
tr.76 - 77]. Đây là vấn đề trọng tâm của sự phát triển đất nước và cũng là chiến
lược lâu dài xây dựng con người mới ở Việt Nam. Là tạo ra được những con người
vừa có đức, vừa có tài (tức phẩm và năng lực) dựa trên các chuẩn mực phổ biến là
dân tộc - quốc tế, truyền thống - hiện đại, cá nhân - cộng đồng. Đó là con người có
tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành vô hạn với Tổ Quốc, nhân
dân với Đảng; có đạo đức trong sáng, lành mạnh; có lòng nhân ái bao dung, hiếu
thảo, khiêm tốn, trung thực giản dị; đoàn kết cộng đồng, dễ thích nghi; dũng cảm,
mưu trí, sáng tạo, yêu lao động, có ý thức tổ chức kỷ luật; ham học hỏi; cầu tiến bộ,
có năng lực chuyên môn tốt; có tri thức hiện đại; có đời sống văn hóa - tư tưởng
lành mạnh, phong phú ...
Thứ ba, đặc trưng về mặt chất lượng
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở chỗ là nguồn nhân lực có
chuyên môn cao, kỹ năng lao động giỏi, có phẩm chất tốt đủ sức đáp ứng một cách
tối ưu đòi hỏi ngày càng cao của quá trình sản xuất, tạo ra năng suất, chất lượng và
hiệu quả cao nhằm đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững. Tại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ XI Đảng ta đã nhấn mạnh: "Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao" [23, tr.106]
Do đó, chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh
bản chất, tính đặc thù có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất vật chất và phát
triển của con người. Bao gồm: trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phẩm chất, phong
cách, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, cơ cấu nghề
nghiệp, thành phần xã hội… trong đó, trí lực (là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh
thần) quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được
xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi “tất cả những gì
con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ” [49, tr.409] vì nó
từng kỳ đại hội và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn. Trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ năm 1991, Đảng ta đã chỉ rõ con người
chính là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định sự
hưng thịnh của đất nước. Kể từ đó, Đại hội VIII, IX, X, XI Đảng ta tiếp tục đưa ra
20
chiến lược phát triển con người và khẳng định sự cần thiết phải phát triển nguồn
nhân lực, đáp ứng những yêu cầu mới của sự phát triển đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người và sự phát triển toàn diện của con người
đã được coi là một "tài nguyên đặc biệt", một nguồn nội lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành
vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các lực. Chăm lo đầy đủ đến
con người, đến sự phát triển toàn diện của con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn
nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Do đó, đầu tư cho con người
là đầu tư có tính chiến lược, là đầu tư có hiệu quả nhất để khai thác và sử dụng nội
lực cho phát triển, đây chính là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã
hội không chỉ ngày một nhanh mà còn bền vững, hiệu quả.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có cách
hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Liên
Hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm
năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng
cuộc sống.
Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp quốc (UNIDO): phát triển con
người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát của một
quốc gia. Nó bao gồm mọi khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội . Như nâng cao
khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức
năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Tổ Chức Lương thực Và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO): Sự phát
tr.285].
PGS. TS Nguyễn Đăng Thành thì việc phát triển nguồn nhân lực được xác
định là phát triển "vốn người". Đây là khái niệm dùng để chỉ các năng lực có ích
của các thành viên trong xã hội. "Đó là các kỹ năng tay nghề, khả năng phán đoán,
kể cả công nghệ, phần mềm máy tính... được dùng vào quá trình sản xuất, gọi chung
là tri thức. . ." [58, tr.26]. Từ những quan niệm về vốn người, về nguồn nhân lực thì
vấn đề phát triển nguồn nhân lực được đề xuất như sau: 1 - Nguồn nhân lực là
nguồn lao động, tổng số nhân khẩu có khả năng lao động, bao gồm nhân khẩu ở độ
tuổi lao động và nhân khẩu ngoài độ tuổi lao động có thể tham gia lao động. 222
Nguồn nhân lực là nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia lao động. Vốn
người khi được sử dụng, thành nguồn lực - yếu tố quan trọng trong nội lực đất
nước. 3 - Đội ngũ lao động là nguồn nhân lực đang được sử dụng vào lao động. 4 Lao động trở thành hàng hóa được đem ra trao đổi theo quy luật giá trị, quy luật
cung - cầu, cạnh tranh. Hàng hóa lao động chính là các kỹ năng, trí tuệ, sức lao
động chứ không phải là con người lao động. 5 - Trong nguồn nhân lực còn có vấn
đề nhân tài, bao gồm những nghệ nhân, công nhân bậc cao, người sản xuất giỏi, cán
bộ công nghệ - kỹ thuật, khoa học có trình độ cao, các nhà quản lý giỏi. Những
người xuất chúng, đạt hiệu quả sản xuất và công tác cao gọi là nhân tài. Nhân tài có
liên quan mật thiết với tiến bộ xã hội, thành tựu khoa học, công nghệ, kinh tế. Nhân
tài là một trong những động lực thúc đẩy tiến hóa nhân loại, dân tộc, cộng đồng.
Như nhà kinh tế học Mỹ Garibiko, giải thưởng Noben kinh tế năm 1992, đã kết luận
rằng: Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực.
TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: phát triển nguồn nhân lực được coi là quá
trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp
ứng tốt hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội [18, tr.13]. Quá trình này theo
tác giả bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến
thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người. Trong đó nền
văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc góp phần quan trọng trong việc hun đúc nên
bản lĩnh, ý chí của mỗi con người.
Trong nhiều thập niên qua, nền giáo dục Việt Nam có nhiều bất cập và yếu
kém cùng với nhiều tiêu cực nảy sinh như hệ thống cơ sở đào tạo phát triển tràn lan,
nạn văn bằng giả, bệnh thành tích. . . đang làm nhức nhối xã hội, ảnh hưởng xấu
đến chất lượng của nguồn nhân lực. Do vậy, "chấn hưng nền dục Việt Nam", đổi
mới cơ chế quản lý trong giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực và đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ bức thiết
phải được tiến hành ngay. Đồng thời tạo ra một sự chuyển đổi mạnh mẽ và căn bản
về mô hình giáo dục: thay thế mô hình giáo dục khép kín, giáo dục một lần (đối với
mỗi cá nhân) với phương pháp thụ động bằng mô hình giáo dục mở, hiện đại, năng
động, tạo ra một xã hội học tập, học suốt đời và đào tạo liên tục.
24
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức,
lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành. Xây dựng môi trường giáo dục lành
mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; tạo cơ hội và điều
kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Đồng thời, mạnh công tác xã hội hóa,
huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, mở rộng các hình thức đào tạo và
thực hiện tốt yêu cầu bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong
giáo dục; biến quá trình đào tạo thành quá tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và
chủ động của con người… Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung đào tạo
nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến. Xây dựng hệ thống tiêu
chuẩn về đại học, cao đẳng quốc gia thống nhất, tương thích với quy định quốc tế
và đạt chuẩn tương đương với trình độ các nước có nền giáo dục phát triển. Đổi
mới khoa học, công nghệ quốc gia nhằm huy động nguồn nhân lực của mọi thành
viên xã hội ở trong nước và nước ngoài. Tăng cường đầu tư, triển khai việc dạy và
học bằng tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh; chọn lọc các chương trình đào tạo
tiên tiến của thế giới. Mở rộng hợp tác quốc tế, đa dạng hóa hình thức, liên kết và
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển nguồn nhân lực, tăng cường